Quê hương hoa Sen Đồng-Tháp-Mười

Thương nhớ quê hương hoa Sen Đồng-Tháp-Mười

“vùng văn hóa đặc trưng
của miền đầm lầy sông nước phương Nam”

HOA SEN dtm

Hoa sen hồng là biểu tượng cho “quốc hoa” Việt-Nam

LTG – Từ lâu, địa danh Đồng-Tháp-Mười là một miền đất trũng bùn sình ngập nước quanh năm không còn xa lạ gì với hầu hết đồng bào trong cả nước. Tuy nhiên, bên cạnh tình yêu hình ảnh khác thường ngoạn mục đó thì hãy còn có rất nhiều người chưa từng có dịp thỏa mãn đến được tận nơi để tham quan, tìm hiểu về một vùng địa lý có mang nhiều huyền thoại cá biệt ở miệt bưng biền. Và từng được dân gian truyền tụng cho đó là quê hương của muỗi, của đỉa, mà cũng chính lại là quê hương hoa Sen ở đất phương Nam.

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)
Tháp-Mười duyên thắng tuyệt vời
Đầm lầy muỗi đỉa, lưng trời hạc bay
Hoa Sen nào của riêng ai!
Quê hương chỉ một, không hai Tháp-Mười*Từ lâu, đất phương Nam từng được coi như là trung tâm của bồ lúa gạo của nước nhà, và cây trái quanh năm bốn mùa tiếp tục nở hoa tươi tốt, đó là do nhờ có những cánh đồng nông nghiệp mênh mông, vườn tược ngút ngàn, thủy lộ sông rạch giao thông thuận tiện. Tuy nhiên, về cảnh sắc ở từng địa phương thì lại cũng đã có những nét đan thanh chấm phá ngoại lệ đa dạng khác nhau. Và một trong những vùng địa lý có mang tính khác lạ hơn nơi nào hết, thì đó chính là vùng văn hóa đặc trưng miệt đầm lầy Đồng-Tháp-Mười ở lãnh thổ biên giới miền Tây Nam-bộ.Nói cách khác, ngày nay cái tên Đồng-Tháp-Mười là một địa danh không còn xa lạ gì đối với hầu hết nhân dân trong nước, mặc dù có người cả đời chưa bao giờ có dịp lãng du đến tận nơi nầy. Dẫu sao, qua các phương tiện truyền thông hiện đại thì người ta cũng từng đã biết rất nhiều về lịch sử của địa phương ở nơi đây nổi tiếng nhất là có nhiều hoa Sen, một loài hoa bình dị tầm thường nhưng lại có mang nhiều ý nghĩa thanh khiết nhất trong các muôn loài hoa dân dã.Vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười là một khu lòng chảo ngập nước quanh năm có địa hình trũng sâu, về địa thế thì nằm ở đầu nguồn của sông Tiền chảy ngang qua từ nơi biên giới, và được trải rộng ra trên 3 tỉnh Long-An, Tiền-Giang và Đồng-Tháp. Còn cái tên Đồng-Tháp-Mười, thì người ta được biết tới từ hồi đầu thế kỷ 19 trong quá trình khẩn hoang và lưu trú của cư dân ở vào thời kỳ đó. Ngày trước, dưới thời Nam tiến của người Việt thì Đồng-Tháp-Mười được coi như là một vùng đầm lầy hoang dại, giang sơn của muôn loài thú dữ tung hoành trên rừng, dưới nước, và gây rất nhiều trở ngại khó khăn nhất cho công cuộc phát triển dinh điền, khẩn hoang lập ấp của các triều nhà Nguyễn vào lúc bấy giờ. Ở đây, bùn sình lầy bước chân không đi được, muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh bềnh như bánh canh, dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua. Trăn, rắn rết bò dọc, bò ngang lổn ngổn, chuột đồng to béo nhởn nhơ, từng bầy khỉ vượn nhảy nhót hú vang chuyền cành. Tôm, rùa, cá…bơi lội thư thả dưới đồng lầy, lau lách tha hồ đua nhau vươn mọc um tùm trên gò sâu, gò cạn. Chim chóc tập họp thành từng đàn, cất cánh chao liệng trên toàn cả một cánh đồng thiên nhiên, bao la chứa đầy ngập nước. Cùng chen lẩn sống chung trong môi trường động thực vật đó, còn có sự sinh tồn của nhiều loài phiêu lưu thảo và các loài hoa hoang dã hằng ngày khoe sắc, đổi màu theo thời gian từ hằng thế kỷ đã trôi qua.Tuy nhiên, ngày nay trước ý chí quyết tâm khắc phục và tinh thần khai phá của con người trong cuộc hành trình đi tìm mảnh đất cắm dùi, để mong đổi thay cuộc sống cho bằng được, thì hầu hết cuộc diện cảnh trí ở nơi đây, giờ nầy đã bị hoàn toàn khác lại.


Đồng-Tháp-Mười ngày nay

Các hình thức cấu trúc cơ sở hạ tầng, từ đường sá, cầu kỳ, chợ búa, công trình phúc lợi cho đến nhà cửa, tụ điểm văn hóa, tâm linh, ruộng đồng, vườn tược, đầm sen…nói chung là làng mạc, phố phường. Từ lâu, nó từng đã được lớp người tiền phong dồn hết mọi nỗ lực để đầu tư trí tuệ. Cũng như, cùng với mồ hôi từ bàn tay lao động khổ nhọc không ngừng nghỉ của con người địa phương trải qua bao thế hệ tiếp nối thay nhau dựng xây thành hình, thì nay đã đâu ra đó. Đó, cũng chính là hình ảnh của những ấp, xã, huyện, thành phố từ bao năm qua từng đã được quy hoạch, chỉnh trang, phát triển mở mang kiến thiết không ngừng. Và ngày nay, theo cuộc cải tổ về hành chính sau cùng vào ngày 14-10-2013, thì tỉnh Đồng-Tháp gồm có 2 thành phố là Cao-Lãnh và Sa-Đéc, 1 thị xã Hồng-Ngự. Và 9 huyện là: Châu-Thành, Cao-Lãnh, Hồng-Ngự, Lấp-Vò, Lai-Vung, Tam-Nông, Tân-Hồng, Thanh-Bình và Tháp-Mười. Thành phố Cao- Lãnh chính thức được chọn làm tỉnh lị cho tỉnh Đồng-Tháp thay thế cho thành phố Sa-Đéc kể từ năm 2007, và nay được coi như là điểm tựa và cơ sở hạ tầng cho sự phát triển kinh tế đặc khu vùng Đồng-Tháp-Mười.

Với tổng diện tích tự nhiên là 3.238km2, trong đó có tới 2/3 diện tích tự nhiên thuộc khu vực Đồng-Tháp-Mười, điều nầy, là một chứng minh về địa thế cũng như về địa lý của tỉnh Đồng-Tháp được coi như là một vùng văn hóa đặc trưng của miền đầm lầy sông nước phương Nam. Hơn thế nữa, là một tỉnh có đường biên giới giáp ranh với lãnh thổ Campuchia dài khoảng chừng 50km, cho nên ngày xưa thì mọi sự giao lưu, tiếp cận của cư dân ở hai quốc gia thường chủ yếu dùng lộ trình giao thông đường thủy. Còn ngày nay, thì được thuận tiện hơn nhiều là nhờ do có 4 của khẩu đường bộ là Thông-Bình, Dinh-Bà, Mỹ-Cân và Thường-Phước, các địa điểm nầy nằm cách khoảng nhau từ huyện Tân-Hồng cho tới huyện Hồng-Ngự. Do vậy, mặc dù có địa lý nằm chung trong vùng đồng bằng sông Cửu-Long** nhưng Đồng-Tháp lại là một trong những tỉnh có nhiều dáng vẻ mang đậm chất thiên nhiên cá biệt nhất ở miền Tây.


Bản đồ tỉnh Đồng-ThápChính vì vậy, mà thời gian qua trong định hướng phát triển về kinh tế, xã hội mới bây giờ thì người dân Đồng-Tháp đã tìm thấy được đâu là thế mạnh của quê hương mình. Và cũng không trễ hẹn, để sẵn sàng tiếp lửa cho những công trình thực hiện các dự án đầu tư mở mang kinh tế về ngành du lịch ở ngay tại địa phương nhà. Thực ra, tiềm năng khai thác phát triển du lịch ở Đồng-Tháp có đầy triển vọng thu hút khách du lịch sinh thái đến từ khắp bốn phương. Tuy nhiên, có thể vì còn có những lý do bị hạn chế trong hoàn cảnh thực tế. Cho nên, sự quảng bá duyên dáng Đồng-Tháp chưa được thể hiện ra cho hết đúng với ý nghĩa giá trị du lịch sinh thái. Và văn hóa cộng đồng của nó, là một thắng cảnh địa phương nên thơ trữ tình, hồn nhiên dân dã miệt đầm lầy, vô cùng thích hợp cho những con người từ lâu có ý muốn tìm đến để tham quan, khám phá.

Vả lại, từ lâu hình như người ta cũng đã từng được nghe biết về câu ca dao nổi tiếng “Tháp-Mười đẹp nhất bông Sen”. Điều nầy, thật không quá đáng chút nào! Thực vậy, trong quá khứ cũng như hiện tại Đồng-Tháp-Mười lúc nào cũng vẫn thuần khiết như hồn sen do nhờ có cảnh quan bao la thiên nhiên, tự bao đời thủy chung hòa quyện hình ảnh của những đầm sen rực nở vào trong cuộc sống của tình người dân dã. Hơn thế nữa, nói cách khác thì từ lâu Đồng-Tháp-Mười cũng đã từng tự hào được mệnh danh chính là quê hương hoa sen, mà hoa Sen thì lại còn là một biểu tượng thanh cao về ý nghĩa tâm linh trong tín ngưỡng của con người. Vì thế, trong tương lai Đồng-Tháp-Mười sẽ có nhiều triển vọng để trở thành một điểm hẹn làm quen cho những thành phần du khách có vốn tâm hồn bình dị, thích trở về gần gũi với phong cảnh đồng quê, miệt vườn.


Thuyền đưa du khách tham quan

Trong tỉnh Đồng-Tháp, huyện Tháp-Mười là nơi nổi tiếng có rất nhiều đầm sen rộng lớn nhất trong cả nước, từ đầm nọ sang tiếp đầm kia, và chủ yếu được được tập trung tại xã Mỹ-Hòa cạnh khu di tích Gò-Tháp. Ở đây, vào mùa sen mãn khai nở rộ lên đồng loạt, hoa sen rực đỏ hồng, nhụy vàng lấm tấm khoe sắc, khoe màu, hương sen lan tỏa ra ngào ngạt khắp cả một vùng đầm lầy sông nước. Nhờ vậy, dù cho có nắng gắt tới đâu thì người ta cũng đều có cảm tưởng như là trời không có nóng, vì thế cho nên bao giờ họ cũng thấy tâm hồn dễ chịu, thoải mái, bình an. Còn toàn khu lòng chảo Đồng-Tháp-Mười thì lại là một vùng đất trũng mênh mông, rộng khoảng 700.000ha. Trong mùa nước nổi, thì nước sông Cửu-Long dâng cao tràn vào Biển-Hồ (Campuchia), rồi sau đó tiếp tục chảy xuống hạ lưu tràn vào Đồng-Tháp-Mười, khiến cho hai vùng địa lý nầy trở thành nơi chứa nước dự trữ thiên nhiên vô cùng ích lợi cho việc đánh bắt thủy sản và nhu cầu nông nghiệp. Riêng tại VN, mỗi khi đến mùa nước nổi (thường bắt đầu từ khoảng rằm tháng 8 ÂL) thì Đồng-Tháp-Mười được dịp khoác lên mình một hình ảnh xinh tươi mới, để hoà quyện sắc màu cảnh vật thiên nhiên bạt ngàn những rừng tràm, đồng lúa, đầm sen…Và thời gian đó cũng là lúc thích hợp nhất, để cho người dân đi săn chuột đồng, đặt lờ, giăng lưới, cắm câu.

Thời còn chiến tranh Đông-Dương, thì toàn vùng Đồng-Tháp-Mười có cái tên là Plaine des Joncs (Đồng Cỏ Lác), trong đó có một hình ảnh chốn hoang sơ rùng rợn khác được người dân gọi là Bưng-Sấu-Hì, là nơi có rất nhiều cá sấu từng gieo tại họa cho người dân vào lúc bấy giờ. Còn bây giờ, thì cánh đồng cỏ ma, và cánh đồng lúa ma lớn lao nhất vùng ĐBSCL còn sót lại hiện chính là một cảnh quan bao la khác lạ, hiếm hoi tìm thấy trong bất cứ nơi nào khác ở đất phương Nam.

Và dáng đứng của quê hương hoa sen khi xưa tuy từng được gọi là một địa danh cá biệt nổi tiếng ở miền Tây, nhưng trong thực tế vào lúc bấy giờ thì lại có rất ít người dân ở đất phương Nam lưu tâm về một vùng địa lý sâu xa, có đường giao thông trắc trở nầy.

Cho dù là:

Tháp-Mười duyên thắng tuyệt vời
Đầm lầy muỗi đỉa, lưng trời hạc bay
Hoa Sen nào của riêng ai!
Quê hương chỉ một, không hai Tháp-Mười*


Cảnh quan thanh bình ở Đồng-Tháp-Mười

Đầm sen ở Tháp-Mười

Giờ đây thì khác, cái tên Đồng-Tháp-Mười đã trở hành thân quen nghe qua rất êm tai. Nó có vẻ bình dị, mộc mạc, và gần gũi trong tâm hồn chơn chất của người dân tuy họ cũng không rõ xuất xứ chính xác từ thời gian nào, cho dù từ lâu cũng đã có nhiều giả thuyết nói về địa danh đó. Tuy nhiên, trong quá nhiều giả thuyết được đưa ra, thì có thể giả thuyết cho rằng Tháp-Mười là một cái tháp bằng đá có vị trí đứng hàng thứ 10 được xây cất lên dưới triều vua Chân-Lạp Jayavarman VII (1181-1218) là hợp lý. Sự kiện nầy cũng đã được nhà khảo cổ Henri Parmentier và Jean-Yves Claeys (người Pháp) phát hiện vào năm 1932, khi ông tìm thấy ở khu vực Tháp-Mười có một cái tháp đứng hàng thứ mười trên bia có ghi bằng tiếng Phạn (Sanskrit) là ngôi tháp thứ mười. Tuy nhiên, một giả thuyết khác cho đó là cái tháp canh có 10 tầng, hoặc tháp canh thứ mười (bắt đầu từ khu vực Ba-Sao đến Gò-Tháp) của nghĩa quân Thiên-Hộ-Dương cất lên để canh chừng giặc Pháp thì có lẽ là hợp lý nhất.

Ở đất miền Tây, ai cũng biết đến Thiên-Hộ-Dương là một vị lãnh tụ lừng danh của phong trào khởi nghĩa chống giặc xâm lăng Pháp. Ông tên thật là Võ-Duy-Dương (1827-1866), sinh quán tại Bình-Định. Lớn lên vào Nam lập nghiệp, và sau đó gia nhập vào phong trào kháng chiến dân tộc giải phóng nô lệ ngoại bang, và ông được vua Tự-Đức phong cho chức Thiên-Hộ. Phó tướng của ông là Đốc-Binh-Kiều, tên thật là Nguyễn-Tấn-Kiều sinh ở miền Trung và khi lớn lên thì cũng vào Nam lập nghiệp. Cả hai ông đều là những người lãnh đạo đoàn nghĩa quân kháng chiến chống giặc Pháp ở tại địa bàn vùng Đồng-Tháp-Mười, sau khi đồn Kỳ-Hòa ở Gia-Định bị thất thủ. Vào lúc bấy giờ thì địa thế, địa hình Đồng-Tháp-Mười có đầy muỗi mòng, đỉa, rắn…được coi như là một vùng đầm lầy vô cùng hiểm trở vào bậc nhất ở miền Nam. Vì thế cho nên, các ông đã tận dụng ưu thế cứ địa dể áp dụng chiến thuật du kích làm cho tiêu hao lần mòn sức mạnh của quân thù. Trong bối cảnh lịch sử thành lập chiến khu đó, cho nên mọi công sự như dùng tháp canh dùng để canh chừng bóng dáng quân giặc là không thể không có.

Và suốt trong thời kỳ gian khổ chống giặc, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của hai ông đã kiên trì quyết tâm cố thủ cứ địa Đồng-Tháp-Mười, biến nơi đây trở thành một chiến khu huyền thoại, vì đây là ở chốn bưng biền, chớ không phải là vùng địa hình có địa thế núi cao, rừng sâu bí hiểm. Vậy mà lực lượng võ trang quân sự thô sơ của du kích quân vào lúc bấy giờ cũng đã làm cho giặc nhiều phen phải khiếp sợ, và bị tổn thất khá nặng nề.

Đối với người dân Đồng-Tháp, thì ngày nay hình ảnh của hai ông chính là những vị anh hùng liêt sĩ tiêu biểu đã làm nên trang lịch sử vẻ vang, ngàn đời lưu lại tiếng thơm phảng phất, lan lẫn vào quê hương hoa sen mà hầu hết mọi người đều rất mực một lòng kính trọng, và tôn thờ không dứt khói hương. Và sau đây, là một bài thơ cảm động được lưu truyền của người dân đất phương Nam luôn luôn tưởng nhớ đến công đức của nhị vị tiền hiền. .

Vì nước quên mình bởi chữ trung,
Thương dân chi sá chốn sình bùn,
Mấy năm Đồng-Tháp danh vang dội,
Cọp rống ngoài truông, cáo hãi hùng,
Hai thước im lìm nơi thạch động,
Đồng bào tưởng nhớ đứng thờ chung,
Nỗi lòng nghĩ đến nhiều năm trước,
Hương lửa đều không cảnh lạnh lùng.


Tượng Thiên-Hộ-Dương Tượng Đốc-Binh-Kiều
trong Bảo-Tàng Đồng-Tháp (Cao-Lãnh)


Đền thờ Thiên-Hộ-Dương
và Đốc-Binh-Kiều tại huyện Tháp-Mười

Giờ đây, lại nói về quê hương hoa sen thì từ lâu người dân địa phương cũng đã từng có sáng kiến phát triển kinh kế du lịch, cùng với mục đích phát huy tình yêu hoa sen trong văn hóa cộng đồng. Và họ đã tạo ra một khu du lịch sinh thái đầu tiên mang tên là Đồng-Sen ở tại tỉnh nhà, để nhằm đáp ứng nhu cầu cho khách tham quan có dịp tìm hiểu về nét độc đáo của vùng đầm lầy sông nước. Tuy nhiên, ngày nay thì lại có phong trào kinh doanh chạy theo lợi nhuận đã bắt đầu có chiều hướng bột phát đang nở rộ lên ở Đồng-Tháp, và cạnh tranh nhau ráo riết. Cho nên, khu du lịch Đồng-Sen trong thời điểm nầy đã phải tạm ngưng hoạt động để tổ chức lại được hoàn hảo hơn. Dẫu sao, bất cứ lúc nào khách viễn phương vừa mới lạc bước đến nơi đây thì cũng đều có cảm tưởng chung như là mình vừa trút bỏ được một cái thế giới thị thành ô nhiễm, náo nhiệt. Giữa những đầm nước sen hồng, gió thổi quyện mùi hương sen thơm ngát, xa xa thấp thoáng có bóng dáng chim trời bay lượn dưới chân mây làm cho du khách thường không bỏ lỡ cơ hội để lưu lại những kỷ niệm hình ảnh phút giây ấn tượng, lãng mạn và đầy chất thơ.


Khu du lịch Đồng-SenVà thật cũng không phải chẳng có nguyên do mà hình ảnh hoa sen thường được dân gian nói nhiều về sự công dụng hữu hiệu của nó.Trong văn hóa và cốt cách tâm linh, thì hình ảnh sinh tồn của hoa Sen là thể hiện cho tinh thần vô nhiễm (cư trần bất nhiễm trần) của Phật-giáo. Vẻ đẹp thuần khiết và ý nghĩa thanh cao của nó từ ngàn xưa đã bám rễ, ăn sâu vào cá tính nhân văn của người dân Việt. Và nó cũng đã từng gợi nguồn cảm hứng cho biết bao nhiêu là đề tài về văn thơ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc v.v cho hầu hết thế nhân không phân biệt biên cương chủng tộc, màu da. Nói cách khác, hình ảnh sinh tồn của hoa Sen chính là điển hình cho một tấm gương trong sáng, để cho người đời nhìn vào cảm nhận được thế nào là biểu tượng cho một cuộc sống phong thái, tao nhã, tự tin với một bản năng tinh thần tinh túy mạnh mẽ lạ kỳ, không hề vẩn đục. Hơn thế nữa, ngoài nét đẹp thanh cao là Vua của loài hoa thuần khiết gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, thì công dụng của toàn cả cây sen cũng đã có công đem lại rất nhiều về mọi sự ích lợi vào trong đời sống thực vật của con người.

Theo khoa Đông-y từ xưa, thì Sen là một loài cây thuốc phổ thông gồm có bát dược tính được phân tích ra như sau: Ngó sen là vị liên ngẫu. Thân sen là vị liên chi. Lá sen là vị liên diệc. Hoa sen là vị liên hoa. Tua sen là vị liên tu. Đài sen là vị liên phòng. Hạt sen là vị liên nhục. Giữa hạt sen là vị liên tâm. Tất cả vị thuốc tên đây đều được bào chế ra từ cây sen dưới mọi hình thức, dùng để trị những chứng bệnh như nào là mất ngủ, dưỡng da, chống lão hóa, giảm cholestérol, giải nhiệt v.v. Còn trong đời sống văn hóa truyền thống dân gian với nếp sinh hoạt cố hữu, thì họ thường dùng hoa sen để chưng bày trang trí cúng lễ, lá sen thì để gói bánh mang lại mùi thơm. Riêng về ẩm thực, thì hột sen, củ sen, ngó sen, tim sen lại là những món ăn bổ dưỡng quen thuộc sau khi được biến chế thành mức, thành chè, thành gỏi hay ướp hương thành trà sen, ăn uống rất thơm ngon.


Trà ướp senHiện nay trên thế giới có rất nhiều chủng loại hoa sen mang màu sắc khác nhau, tuy nhiên, chỉ có vài màu sắc hoa sen thường được người ta nói đến nhiều nhất là sen hồng, đỏ (hồng liên), sen trắng (bạch liên), sen vàng (kim liên), và sen xanh (thanh liên).

Sen hồng (Nelumbo nucifera) xuất hiện nhiều nhất ở châu Á. Sen trắng (Nelumbo lutea) xuất hiện nhiều nhất ở tiểu bang Illinois (Hoa-Kỳ). Sen vàng Mỹ (American Lotus) xuất hiện từ tiểu bang Texas và Florida (Hoa-Kỳ). Sen đỏ (Nymphaea rubra) xuất hiện ở các nước như Afghanistan, Bangladesh, Inde, Indonesie, Myanmar, Népal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Thái-Lan và Nouvelle-Guinée). Và Sen xanh (Nymphaea Caerulea) xuất hiện ở Ai-Cập. Mỗi một loại sắc màu hoa sen đều có mang một ý nghĩa đặc trưng cá biệt, cũng như từng đã tạo ra bao nguồn cảm hứng để cho người đời ghi chép đi vào thế giới hồn thơ nhạc. Và cho dù là loại sen nào đi nữa, thì nó cũng được gắn liền vào hình ảnh trang hoàng sắc hương vào cuộc sống hoàn mỹ của con người.


Sen hồng ở Đồng-Tháp-Mười

Sen trắng Sen vàng
Sen xanh Sen đỏ

Đặc biệt nói về lá sen, thì ở tại chùa Phước-Kiển, Nha-Mân, Đồng-Tháp ngày nay lại cũng có trồng một loại cây sen đặc biệt là có màu sắc thay đổi tới bốn màu trong một ngày. Thường thì từ sáng sớm tinh sương hoa màu trắng tuyết, và kéo dài cho tới khi sang quá giờ ngọ thì lại đổi thành màu hồng, về càng xế chiều hoa chuyển thành màu tím, rồi đỏ khi trời vừa tắt nắng. Chu kỳ sinh tồn của hoa rất ngắn, chỉ nở trong đôi ba ngày thì tàn tạ, tuy nhiên, khi cánh hoa nầy tàn thì hoa khác lại bắt đầu mọc lên và hé nở. Loại hoa sen nầy có tên là Victoria Regia (gốc ở quanh vùng sông Amazone Nam-Mỹ). Hình dáng vô cùng đặc biệt của nó là có nhô lên những lá sen khổng lồ, mặt lá tròn, vành cong lên từa tựa như những cái nia đãi lúa hay nón quai thao, bên dưới đầy gai nhọn cứng, đường kính của nó lên tới gần 3m khi vào mùa nước nổi sen hút nước nhiều Và nó có thể chịu đựng, với sức nặng của một người khoảng 60kg đứng lên trên mà không bị gãy. Người địa phương gọi đó là sen Vua, còn cái ao sen đó thì là dấu tích xưa của các hố bom sau thời kỳ chiến tranh còn để lại. Riêng chùa Phước-Kiển ngày nay thì cũng còn được nhiều người quen gọi nhiều hơn, với cái tên là chùa Lá Sen.


Lá sen khỏng lồ
trong khuôn viên chùa Phước-KiểnĐồng-Tháp cách Hồ-Chí-Minh 143km theo quốc lộ chính, vào đến trung tâm tỉnh lị thành phố Cao-Lãnh thì 154km. Tại bến xe miền Tây hiện nay có rất nhiều hãng xe chạy thẳng về Đồng-Tháp theo lộ trình ngang qua vòng xoáy Trung-Lương ở Mỹ-Tho, tiếp tục theo quốc lộ về Vĩnh-Long, rồi một đoạn sau đó rẽ mặt chạy về địa phận Đồng-Tháp. Tình trạng dân số tỉnh Đồng-Tháp theo số liệu thống kê từ năm 2013 thì tổng cộng có được 1.680.300 người, trong đó có khoảng gần 300.000 người sống ở thành thị và số còn lại sống rải rác ở nông thôn. Các sắc dân thì gồm có cư dân Việt, Khmer, Hoa, Chăm, Thái, Mường, Tày và Ngái (một trong 54 sắc tộc có ít người nhất hiện nay ở trong nước) cùng một số ít là người nước ngoài. Là một tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, Đồng-Tháp chỉ trông cậy vào với tài nguyên nước dồi dào của nguồn sông Cửu-Long, cùng với hệ thống kênh rạch chằng chịt, để phát triển địa phương về nhiều lãnh vực phục vụ đáp ứng nhu cầu nông nghiệp, hoa màu. Ngành kinh tế du lịch địa phương thì đang trên đà khai thác mở mang, nhưng cũng có thể được coi như là hiện còn trong tình trạng phôi thai nếu đem so với nhiều địa phương khác đã đi trước hơn từ lâu. Lý do chính vì các cơ sở hạ tầng ở đây còn yếu kém, chưa phát triển đồng bộ, nhất là về mặt giao thông.

Tuy nhiên, không phải vì thế mà Đồng-Tháp không phải là nơi lựa chọn không thích hợp, để cho những thành phần du khách sành điệu tìm đến tận nơi nầy tận hưởng những thú vị và có cảm giác riêng về sắc thái ở địa phương. Thực vậy, ngoài cảnh quan khác lạ quê hương có 1 không 2 Tháp-Mười, thì các đặc sản ẩm thực hấp dẫn miệt đầm lầy ở đây, chắc chắn cũng có thể đem lại cho thực khách những hương vị đậm đà, khoái khẩu. Như nào là cá lóc nướng trui cuốn lá sen non, rượu sen, hủ tiếu Sa-Đéc, bành xèo, vịt nướng Cao-Lãnh, nem Lai-Vung, gà đập đất, ốc nướng tiêu, lẫu mắm, bánh phồng tôm v.v.. Đặc biệt, là món ăn chuột đồng quay lu, chuột nướng mùi rất thơm ngon nhưng có nhiều du khách thấy sợ không bao giờ dám ăn, vì không quen.


Cá lóc cuốn lá sen non

Chuột quay lu và khô chuột đồng phơi nắngTrong thành phố Cao-Lãnh có ngôi chợ khang trang, có Bảo-Tàng trưng bày các di tích lịch sử, và còn có khu di tích Nguyễn-Sinh-Sắc được khánh thành từ năm 2010. Phó bảng Nguyễn-Sinh-Sắc (1862-1929) nguyên là một nho sĩ yêu nước sinh quán ở miền Trung và có đi làm quan lại vào lúc bấy giờ. Sau khi bị cách chức, ông vào Nam (tại Cao-Lãnh) hành nghề thầy thuốc và sống cuộc đời thanh bạch tại làng Hòa-An cho đến khi qua đời. Đây là một địa điểm hiện nay được các tour du lịch tổ chức đưa du khách đến viếng thăm, thư dãn do nhờ có cảnh quan được trùng tu khang trang, thoáng rộng hơn xưa.


Chợ Cao-Lãnh

Bảo tàng Đồng-Tháp

Khu di tích Nguyễn-Sinh-Sắc

Thành phố thứ nhì của tỉnh Đồng-Tháp là Sa-Đéc. Sa-Đéc nguyên là vùng đất của Thủy-Chân-Lạp, và có tên là Phsar-Dek. Ngày xưa Sa-Đéc từng là tỉnh lị của tỉnh Sa-Đéc, nay tuy không còn giữ vai trò trọng yếu tỉnh lị của tỉnh Đồng-Tháp nữa nhưng bề dày của lịch sử quá khứ hãy còn lưu giữ lại nhiều di tích, và ảnh hưởng xã hội rất nhiều ở tại địa phương. Ở đất phương Nam ngày trước, nếu như người ta thường được nghe nói đến cục đất Mỹ-Tho là nơi “phong hồi thủy tụ” (gió nước hợp hòa) thì Sa-Đéc vào lúc bấy giờ, cũng từng được người ta gọi là vùng “lưu thông quán khái”(sông sâu nước chảy), đất đai phì nhiêu, cỏ hoa tươi tốt, sinh hoạt dân gian diễn ra náo nhiệt hằng ngày. Chợ búa, phố phường in hình trên sóng nước ven sông, hàng hóa bán buôn bày la liệt trên khắp các vỉa hè, đường phố.


Cầu Sa-Đéc ngày xưa

Là một thành phố được thành hình lâu đời do nhờ có địa lý thuận tiện về mặt giao thông, vì thế cho nên nơi đây hiện còn có nhiều chứng tích văn hóa tâm linh chùa chiền cổ, nhất là chùa ông Quách, và các nhà cửa kiểu xưa thời Pháp để lại. Và bây giờ, trên con đường mở mang hiện đại hóa, thì Sa-Đéc cũng có thêm những khu công nghiệp, những trung tâm thương mại lớn, những trung tâm vui chơi giải trí như rạp chiếu phim 3D, quán bar, trò chơi điện tử, công viên thoáng rộng hữu tình.


Chợ Sa-Đéc

Kiến-An-Cung hay chùa ông Quách
là một ngôi chùa cổ nổi tiếng của người Hoa (Phúc-Kiến)Và thông thường, mỗi khi du khách vừa đặt bước chân vào trung tâm thành phố Sa-Đéc, thì hướng dẫn viên du lịch cũng không bao giờ quên giới thiệu về các đặc sản địa phương như bánh phồng tôm Sa-Giang, nem, quýt Lai-Vung, xoài Cao -Lãnh v.v. Đặc biệt, là về món ẩm thực nổi tiếng ở địa phương từ lâu là hủ tiếu Sa-Đéc từ lâu được rất nhiều người từng có dịp thưởng thức.

Tô hủ tiếu Sa-Đéc khổng lồ  Giỏ hoa tươi lớn nhất VN

Tỉnh Đồng-Tháp xưa nay còn có một nơi nổi tiếng khác lạ nữa, đó là về hình ảnh của làng nghề trồng hoa ở Tân-Quy-Đông. Làng hoa Tân-Quy-Đông là một làng hoa lớn nhất ở trong nước, và từ lâu được coi như là trung tâm hoa giống của tỉnh Sa-Đéc. Tại đây, có tới gần 2.000 gia đình sinh sống chủ yếu vào nghề trồng hoa trong một diện tích canh tác trồng trọt khoảng 250ha. Từ lâu, làng hoa Tân-Quy-Đông cũng là một địa phương nổi tiếng là có trồng trọt rất nhiều loại hoa xinh đẹp, không những cung cấp cho thị trường tiêu thụ ở trong nước, mà còn xuất khẩu sang Cam-Bốt, và Lào. Tại đây, không khí hương thơm ngào ngạt tỏa ra từ các loại hoa mai chiếu thủy, thược dược, lan, cúc, hoa tử-dương (tú cấu), cau bình rượu, hoa dâm bụt, hoa nước ngoài như vạn thọ Pháp, tùng Nhật-Bản, hoa hồng v.v. Đặc biệt, vào những mùa Xuân về, Tết đến khách du Xuân tìm đến làng hoa Sa-Đéc rất đông để xem muôn loài hoa nở ngập tràn hương sắc, và cũng để mua về trang trí, chưng bày ở trong nhà.


Làng hoa Tân-Quy-Đông

Hoa nở rộ vàng ngập cánh đồngTại VN, sau ngày thống nhất nước nhà thì ở trên toàn cõi dải đất phương Nam, nói riêng, chỗ nào cũng không khỏi có ít nhiều di tích của chiến tranh còn để lại. Và nếu ở miền Đông Nam-bộ có khu di tích là địa đạo Củ-Chi, thì ở miền Tây Nam-bộ cũng có khu di tích mương hào Xẻo-Quít. Mương hào Xẻo-Quít là một công trình đào đắp tạo nên một hệ thống đường thủy nhỏ hẹp, nằm lõm trong vùng kênh rạch chằng chịt có địa thế, địa hình trắc trở. Và có tác dụng hữu hiệu dùng để chuyển quân cũng như vũ khí trong rừng tràm Đồng-Tháp-Mười ngày xưa, và nay được đưa vào khai thác du lịch. Tại đây, không khí trong lành, phong cảnh thiên nhiên thanh tịnh, sâu lắng, từng gây nhiều ấn tượng trong tâm hồn du khách khi có dịp viếng thăm, và được ngồi trên những chiếc xuồng lòn lách trôi qua những mương đào dưới rừng tràm xanh thẩm ngút ngàn.


Khu di tích lịch sử Xẻo-Quít

Đồng-Tháp hãy còn nhiều địa điểm du lịch vô cùng lý thú, và nếu khách viễn phương có thì giờ, thì hãy nên lợi dụng cơ hội để tham quan đầy đủ cho thỏa mãn tình yêu quê hương hoa sen hằng mong đợi bấy lâu. Và một trong những di tích xa xưa nhất ở miền Nam, thì đó chính là khu di tích Gò-Tháp.


Nền tháp di tích văn hóa Óc-Eo

Các tượng đá biểu trưng cho nền văn hóa Óc-Eo

Khu di tích Gò-Tháp là một khu vực gồm có nhiều gò nhỏ, thấp nằm trên một vùng đất pha cát ở trong huyện Tháp-Mười, cách thành phố Cao-Lãnh 43km, và là một trong những dấu vết văn minh, văn hóa Óc-Eo của vương quốc Phù Nam còn sót lại ở trên dải đất miền Nam VN. Vào mùa nước nổi, toàn khu di tích ngập tràn đồng nước mênh mông, trên gò cao có nhiều cây cổ thụ hàng trăm tuổi sừng sững vươn mình trên cánh đồng bao la đan xen màu lục loài cây cỏ tạo thành một bức tranh thiên nhiên thơ mộng, hữu tình, khiến cho lòng du khách tự dưng cảm khái yên bình, thư thái.

Gò-Tháp có chiều cao so với mặt đất ruộng chung quanh là 3m80, có một diện tích chừng 4.500m2. Và tuy không có vị trí quan trọng tầm cỡ cho bằng khu di tích Óc-Eo ở Ba-Thê, An-Giang (nơi từng được các nhà nghiên cứu khảo cổ cho rằng có thể đấy từng là một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù-Nam từ thế kỷ I cho tới thế kỷ VII), nhưng di tích Gò-Tháp ở đây cũng hãy còn chứa đựng nhiều điều bí ẩn về lịch sử.

Năm 1944, một nhà khảo cổ học Pháp tên là Louis Malleret là người tiếp tục đã khám phá thêm ra khu di tích Gò-Tháp có những nền gạch được xây cất lên, cùng với hàng chục khối đá lớn có hình thể như cột, yoni…ghép nối kiến trúc giềng quanh. Và cùng với nhiều hiện vật gồm các mảnh vỡ gốm, đá, khuôn đúc, 2 tượng Vishnu…Tuy nhiên, trước đó vào những năm 1869-1878, thì nhà khảo cổ Silvestre cũng đã từng phát hiện ra được một bánh xe bằng đá và những dấu tích phần móng của một ngôi tháp trong khu vực Gò-Tháp. Tiếp theo đó, là nhà khảo cổ Lunet de Lajonquière cũng đã góp phần nghiên cứu giải mã thêm về các bản văn khắc trên bia đá. Hầu hết các di tích kiến trúc ở Gò-Tháp đều được các nhà khảo cổ nghiên cứu cho biết nghệ nhân có tay nghề trình độ cao, xây dựng công phu và khéo léo, biết làm tường thành bao bọc xung quanh vị trí để đề phòng mọi sự xâm thực bào mòn của gió nước. Nhờ vậy mà các hiện vật tìm thấy được sau hằng thế kỷ tuy bị vùi sâu dưới lòng đất như các tượng Siva, Vishnu bằng đá sa thạch, các phiến đá, cột đá có chạm khắc họa tiết hoa văn còn giữ được ít nhiều dấu vết cổ xưa.

Hiện nay, phế tích lịch sử Gò-Tháp gồm có cả hàng ngàn di vật còn sót lại thuộc 3 loại hình di tích quan trọng là di tích cư trú với các di vật như cọc nhà sàn, bếp lửa, mảnh gốm nồi niêu. Di tích mộ táng, với đồ tùy táng chôn theo như đồ gốm, đá quý, mảnh vàng, nhẫn vàng có khắc hoa văn được tìm thấy trong 13 ngôi mộ được khai quật. Và di tích kiến trúc trên các gò cao như Gò Tháp-Mười, Gò Minh-Sư, Chùa Tháp-Linh, và Miếu Bà Chúa Xứ. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu khảo cổ đánh giá, thì hiện nay trong khu di tích Gò-Tháp có hai cổ vật được xem như là quan trọng nhất. Đó là pho tượng Phật bằng gỗ thể hiện ra được những đường nét điêu khắc đơn sơ, tính chất giản dị trong tinh thần sáng tạo phong phú về nghệ thuật của nghệ nhân vào hồi thế kỷ thứ V-VII. Và các bia văn bằng đá mang đậm nét tôn giáo Hindu, hệ phái Vishnu, chính các chứng tích nầy đã giúp cho người ta hiểu được tính cách chủ nhân bản địa của nó từng đã có một thời kỳ văn minh vàng son rực rỡ.

Giếng nước cổ  Các hiện vật
Bia đá cổ Phù-Nam Tượng Phật gỗ

Sau năm 1975, các nhà khảo cổ trong nước tiếp tục công trình khai quật và cũng đề ra dự án khoanh vùng bảo vệ 4 khu chức năng chính là khu di tích bảo tồn, bảo tàng, khu rừng sinh thái, khu dịch vụ và khu nuôi thú hoang dã. Do vậy, trong tương lai khu di tích Gò-Tháp sẽ được mở mang phát triển nhiều hơn và sẽ được coi như là trung tâm du lịch của tỉnh Đồng-Tháp. Và mới đây nhất là vào đầu năm 2016, thì Ban Quản-Lý di tích Gò-Tháp cũng đã có cho công bố kết quả thăm dò ở 4 khu vực, với sự phát hiện thêm về kiến trúc Ao thần, Đèn thần Vishnu và nhiều hiện vật cổ khác.

Trở lại với hình ảnh thiên nhiên, du khách trước khi đến với khu Ramsa Tràm Chim thứ 2000 nổi tiếng của VN, thì nên đừng quên ghé tham quan khu du lịch sinh thái Gáo-Giồng (cách thành phố Cao Lãnh 17km) một lần cho biết. Nơi đây, người dân địa phương quanh vùng hằng ngày thường được tín hiệu thiên nhiên báo thức đến hai lần. Lần đầu tiên, là tiếng gà canh khuya gáy sáng. Và lần thứ nhì, là dành cho những người dậy trễ do sự sinh hoạt nhộn nhịp kêu ríu rít của các loài chim, nhất là của đàn cò trắng khi chúng vừa thấy ánh bình minh vừa hé dạng ở chân trời. Tại đây, có nhiều nhất là hàng chục ngàn con cò trắng sinh sống suốt tháng quanh năm như là hình ảnh quen thuộc của xóm làng, và mỗi lần chúng bay lên thì che bóng mặt trời trong giây lát. Khu du lịch Gáo-Giồng đã được thành lập từ năm 2003, và do nhờ bảo quản tốt (có cả đài quan sát cao 18m) cho nên có rất nhiều loài chim nước chọn làm quê hương trú ẩn thường xuyên như điên-điển, le le, trích mồng đỏ, diệc v.v. Nhiều con tỏ ra rất dạn dĩ, không những chúng dám đến săn mồi gần bên du khách, mà còn nhảy múa hoặc cất lên những tiếng gáy nghe buồn man mát nhưng thơ mộng làm sao!


Đàn cò trắng trong khu du lịch sinh thái Gáo-Giồng

Du hành trên xuồng ba láCòn vườn cò Tháp-Mười thì nằm cách thành phố Cao-Lãnh 35km, tuy nhỏ nhưng cũng có nhiều loại cò chọn nơi đây làm tổ. Nhiều nhất ở đây, là loại cò ruồi lông trắng, giò đen, mỏ vàng. Còn lại, là các loại cò sen, cò ma, cò quắm, cò đúm, cò cá, cò xanh, cò ngà và nhỏ nhất là loại cò lép. Và cũng như ở tại Gáo-Giồng, vườn cò Tháp-Mười lúc nào cũng có sự sống của các loại chim khác như bìm bịp, cuốc, bạc má, điên điển, vạc…Thường thì mỗi hừng sáng chúng tung cánh bay đi khắp nơi để kiếm ăn, cho đến lúc chiều chạng vạng tối mới tiếp tục trở về. Và những nơi đi tìm kiếm mồi hằng ngày của chúng, là bất cứ chỗ đồng ruộng ao bèo nào có cá, cua, sò, ếch nhái, ốc, tép, lươn, rắn…thậm chí con diệc nó còn ăn thịt ngay cả các con chim loại nhỏ hơn.


Vườn cò Đồng-Tháp

Con diệc đang ăn thịt con chim nhỏ

Và tiếp theo đây, là điểm hẹn của bạn đã đến. Hiện nay VN có tất là 6 khu Ramsar của thế giới, trong đó gồm có vườn quốc gia Xuân-Thủy (Nam-Định), vườn quốc gia Cát-Tiên (Đồng-Nai), hồ Ba-Bể (Bắc-Kạn), vườn quốc gia Mũi Cà-Mau (Cà-Mau), vườn quốc gia Côn-Đảo (Bà-Rịa&Vũng-Tàu), và đặc biệt nhất là vườn quốc gia Tràm-Chim ở trong tỉnh Đồng-Tháp.

Vườn quốc gia Tràm-Chim có tổng diện tích là 7.313 ha nằm ở hạ lưu sông Cửu-Long, thuộc huyện Tam-Nông. cách th ành phố Cao-Lãnh 37km về hướng Bắc Nơi đây, có tất cả khoảng hơn 130 loài thực vật bậc cao, hơn 231 loài chim nước, hơn 100 loài động vật, và hơn 150 loài cá đã được tìm thấy có sự sinh sống của chúng. Chẳng hạn như nào là lúa trời, cỏ ma, sen, súng, rong tảo, lau sậy, loài chim vịt trời, cò trắng, bồ nông, diệc, cồng cộc, giang sen, loài bò sát rắn, trăn, rùa…Đặc biệt, nhất là loài chim hạc còn được gọi là sếu đầu đỏ (Grus antigone), thuộc loài chim di cư, di trú theo mùa bên cạnh khu bảo tồn động vật hoang dã Anlung-Pring (Campuchia), và hiện nay nó là một loài chim hiếm hoi còn sót lại trên thế giới. Do vậy, cho nên từ lâu Tràm-Chim Đồng-Tháp từng đã được tổ chức “BirdLife Inernational” *** bình chọn xếp vào vùng chim quan trọng (Important Bird Area) ở VN.


Ramsar thế giới Tràm-Chim Đồng-ThápVà người ta cũng còn có thể nói thêm rằng, hệ sinh thái đất ngập nước (Ramsar) của khu vực Tràm-Chim (cạnh Láng-Sen ở địa phận Long-An) là một trong những chứng tích cuối cùng của vùng Đồng-Tháp-Mười từ bao thế kỷ trước, mà giờ đây đã bị thu hẹp do sức tiến của con người. Chính vì lẽ đó, mà từ lâu khách du ngoạn đến đây đã có dịp tìm thấy được những nét đẹp độc đáo không trùng lặp giống như với những cảnh quan nào khác của các vùng miền lân cận. Ngoài ý nghĩa đa dạng về mặt sinh thái, sinh học, nghiên cứu khoa học, văn hóa, và phát triển du lịch, Tràm-Chim còn chính là nơi còn phảng phất về hình ảnh nguyên thủy của vùng đất thiên nhiên, sơ khai của tiền nhân ta khổ công khai khẩn trải qua từ bao thế hệ. Vào mùa nước nổi, thì nước dâng cao lên tràn ngập mênh mông cả cánh đồng Tràm-Chim, hàng ngàn cánh cò xuất hiện chao liệng trên không tạo thành một bức tranh linh hoạt, ngoạn mục vô cùng. Từ trên chòi canh, du khách sẽ có dịp trải nghiệm qua được những phút giây cảm khái tâm hồn đầy kỳ thú trong một chuyến tham quan. Tuy nhiên, còn các loài chim quý thì chúng thường hay bay di chuyển qua lại tự nhiên từ quốc gia nầy sang qua địa phận của các quốc gia khác.


Khu Ramsar Tràm-Chim

Thắng cảnh thiên nhiên tuyệt vời

Cách đây khoảng thập niên, nếu ở Tây-Ninh có một ông Hai Lúa nổi tiếng như cồn vì đã bỏ ra bao năm trời để sáng chế ra được một chiếc trực thăng không đạt mức độ an toàn, thì ngày hôm nay, tại Đồng-Tháp cũng có bốn ông Hai Lúa khác sáng chế ra được chiếc thuyền chạy bằng năng lượng mặt trời.không gây ra tiếng động. Và rất thích hợp, để được dùng vào làm phương tiện đón đưa khách du lịch có nhu cầu muốn được dịp tiếp cận mục kích thỏa mãn về cách sinh hoạt của các loài chim hoang dã ở Tràm-Chim.


Hình ảnh vô cùng ấn tượng về sếu đầu đỏ ở Tràm-ChimTrên chiếc tắc ráng nhẹ nhàng rẽ sóng trên con kinh Mười-Nhẹ sẽ đưa du khách lướt ngang qua những cánh rừng tràm từng dãy tiếp dãy ngút ngàn một màu xanh thẩm để tham quan cánh đồng Tràm-Chim. Và mỗi khi nghe có tiếng động, thì trong cánh rừng có hàng loạt cánh chim vụt bay lên cao theo từng đàn, loại nào theo loại nấy nhưng nhiều nhất là loại cò trắng. Gặp nhằm lúc đúng mùa Xuân, thì du khách sẽ có dịp được ngắm nhìn lý thú hơn trước hình ảnh của những con sếu đầu đỏ (loài chim quý phái đang có nguy cơ tuyệt chủng) có chân dài lông xám chao liệng, nhảy múa tuyệt diệu chẳng khác gì loài chim công, trĩ. Người ta được biết, kể từ khi Tràm Chim (Tam-Nông, Đồng-Tháp) được công nhận là khu Ramsar thứ 2000 trên thế giới, thì dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” cũng đã được Quỹ Quốc-Tế Bảo-Vệ Thiên-Nhiên (WWF)**** và công ty Coca-Cola phối hợp bảo trợ giữ gìn hữu hiệu một di sản bảo tồn đa dạng sinh học của con người. Chính nhờ vậy mà ngày nay khu Ramsar Tràm-Chim hãy còn giữ được tính hoang sơ với màu sắc thiên nhiên. Cho dù, trong những năm gần đây thì tình hình biến đổi khí hậu trên địa cầu diễn ra hết sức là phức tạp, có ảnh hưởng trực tiếp vào các môi trường tự nhiên của không khí, đất đai và ngay cả các hệ sinh thái cây rừng.

Cảnh thiên nhiên Tràm Chim

Đài vọng cảnh ở Ramsar Tràm Chim

Chim Giang-Sen Chim Cồng-Cộc Chim Bồ-Nông

Ngày xưa, Đồng-Tháp-Mười chỉ là một địa danh ở vùng sâu của đất phương Nam. Lúc bấy giờ, đường giao thông không thuận tiện nhưng nhờ vậy mà tính chất hoang dã thiên nhiên sở tại hãy còn giữ lại được rất nhiều từ hình thức cảnh quan đầm lầy, cá nước, chim trời cho đến màu lục nguyên sinh của muôn loài cây cỏ. Còn ngày nay, thì dân đi du lịch phượt bằng xe máy cũng có thể tìm đến đây một cách dễ dàng bằng nhiều lộ trình từ các hướng khác nhau, và sau khi tham quan tìm hiểu, thì ai cũng có thể hình dung ra được một sự biến đổi hình dáng địa phương theo cái mốc của thời gian quá khứ.

Tuy nhiên, nếu nói đến những hình ảnh sinh hoạt kỷ niệm cảnh cũ người xưa ở quê làng thì ở bất cứ nơi nào cũng đều có cả, và đó cũng chính là trường hợp về hình ảnh đặc biệt của chợ chiếu Âm-Phủ ở Định-Yên, huyện Lấp-Vò, tỉnh Đồng-Tháp. Hồi trước, cư dân ngụ tại xã Định-Yên có truyền thống làm nghề dệt chiếu lâu đời và nổi tiếng đồn xa. Nghệ nhân dệt chiếu ở đây tay nghề khéo léo, có thể thêu lẫy được những hình rồng phượng làm tăng thêm giá trị của chiếc chiếu, và họ đã tạo được cho gia đình một đời sống tương đối khá sung túc, cất xây nhà tường cao ráo. Vì thế, ở miền Tây dạo ấy đã có lưu truyền câu thơ đi vào ca dao:

Định-Yên có vựa chiếu to
Có chồng xứ Định khỏi lo chiếu nằm

Thực vậy, thời cực thịnh của nghề dệt chiếu bán buôn ở Định-Yên là số cung không chạy kịp theo số cầu. Vì vậy, các mối lái ghe thuyền mua bán chiếu ở các tỉnh miền Tây phải tranh nhau đến tận nơi để neo đậu nghẹt dưới sông bất kể giờ giấc ngày đêm, để chờ mua chiếu đem về bán lại, và đã có những ngày đêm giao dịch bán buôn diễn ra vô cùng tấp nập với con số lên gần tới cả ngàn người. Về sau, chợ chiếu quy tụ dời về ở sân chùa An-Phước và được xoay vòng từ ngày cho tới đêm. Chợ phiên mỗi đêm, thường diễn ra từ 4 khuya đến 8 giờ sáng. Đặc biệt, vào khung cảnh ban đêm, dưới những ánh đèn dầu hiu hắt, lặng lẽ, với cả một rừng người, mỗi người đứng ôm một bó chiếu đứng bán bên cạnh ánh sáng dật dờ, mờ ảo tỏa khói, cho nên người dân mới gọi đó là chợ Âm-Phủ. Còn thực tế bây giờ thì chợ Âm-Phủ về đêm cũng đã bị đi vào mai một, do nguyên nhân ngày nay người dân sử dụng máy dệt chiếu quá nhiều, và người mua thường đặt hàng trước khi tới nhận.

Chợ chiếu Định-YênNhững ai chưa từng tham quan Đồng-Tháp-Mười thì hãy thử đến viếng thăm một lần cho biết, và đi vào lúc nào cũng được vì mùa nào Đồng-Tháp-Mười cũng có nét đẹp riêng, thú vị vô cùng. Chẳng hạn như trong mùa nước nổi dâng lên cao bao nhiêu, thì loài lúa ma ở đây cũng mọc dài thêm bấy nhiêu, để lúc nào nó cũng vươn mình cao lên khỏi mặt nước. Còn cánh đồng lúa bao la bình thường hằng ngày thì bị đắm chìm vào trong biển nước, và được thay vào bằng cánh đồng sen súng, rong tảo, năn, lác v.v, trong lúc trên trời có hàng ngàn con cò bay lượn theo từng đàn sà xuống săn mồi, lướt nhảy tung tăng trên những lá sen bềnh bồng theo sóng nước…

Đồng lúa ma  Đàn cò săn mồi

Và một khi du khách đã cảm nhận ra rằng, quả thật quê hương hoa sen là tuyệt diệu, thì không lý do nào họ lại không muốn tìm hiểu thêm ít nhiều về một vài hình ảnh của con người Đồng-Tháp. Và cũng nếu câu hỏi đó được đặt ra cho hướng dẫn viên địa phương, thì ý kiến của họ sẽ trưng ra là hình ảnh của Năm Sa-Đéc, một người nghệ sĩ tài năng từ lâu từng để lại nhiều dấu ấn cảm tình cho rất nhiều thành phần khán giả ở trong nước.

Nghệ sĩ Năm Sa-Đéc tên thật là Nguyễn-kim-Chung (1907-1988), tác giả ghi đúng trên bia mộ, vì có nhiều tài liệu ghi khác là (1908-1988). Trước khi trở thành kịch sĩ và diễn viên điện ảnh, thì bà là một nghệ sĩ cải lương tuồng cổ. Năm Sa-Đéc là con của ông bầu Tam (Nguyễn-văn-Tam), người thành lập ra gánh hát bội “Thiện-Tiền-Ban” đầu tiên ở tại tỉnh Sa-Đéc. Suốt trong cuộc đời dấn thân vì nghệ thuật, bà đã lần lượt có dịp cộng tác và lưu diễn khắp nơi cùng với các đoàn hát cải lương nhỏ lớn như Phước-Tường, Vân-Hảo, Phụng -Hảo, Thanh-Minh&Thanh-Nga. Từ là nghệ sĩ hát bội chuyển sang nghệ sĩ cải lương, không dừng lại đó bà còn đi sâu vào sân khấu kịch nghệ trước khi trở thành diễn viên điện ảnh, và được rất nhiều người ái mộ. Do vậy, ngày nay mỗi khi nói đến bà Năm Sa-Đéc thì người dân Đồng-Tháp-Mười rất lấy làm vinh dự và hãnh diện về tài năng tỏa sáng của bà đã góp phần làm rạng danh cho mảnh đất quê hương hoa sen. Trong cuộc sống riêng tư, bà đã hạnh phúc làm lại cuộc đời bên cạnh học giả Vương-Hồng-Sển vào lúc bấy gìờ. Và sau đó mấy tháng, thì ông nhận chức Quyền quản thủ Viện Bảo-Tàng Quốc-Gia Việt-Nam tại Sài-Gòn. Sau năm 1975, tuy bà đã già nhưng vẫn còn phong độ nghệ sĩ, đóng tròn vai kịch nghệ cũng như về điện ảnh. Bà qua đời đột ngột, để lại tình cảm cho rất nhiều người sau khi hay biết được hung tin.

Xót thương người bạn đường đã mất, cụ Vương-Hồng-Sển lúc bấy giờ đã có làm một bài thơ tiễn biệt vợ hiền, nghệ sĩ Năm Sa-Đéc thật là cảm động.

Em sao vội phủi tay đứng dậy?
Tắt đèn đời, tìm giấc ngủ thiên thu.
Anh chỉ còn trơ mắt nhìn theo
Qua giòng lệ viết trang tình nửa đoạn…


Bà Năm Sa Đéc trong phim “Lệ Đá”

Tuy nhiên, ngày trước đất Sa-Đéc cũng đã từng có một nhân vật trí thức được rất nhiều người biết đến. Đó là hình ảnh của nhà Bác-vật Lưu Văn Lang, một kỷ sư đầu tiên của nước VN và của cả Đông Dương. Là một trong những sĩ phu tiêu biểu hàng đầu ở Nam-bộ, ông từng tích cực dấn thân vào các phong trào quảng bá chữ quốc ngữ cũng như tham gia vào các phong trào yêu nước v.v. Trong ngày lễ tang học sinh Trần-Văn-Ơn tại Sài-Gòn, ông đứng ở trong hàng dẫn đầu đoàn người biểu tình lôi cuốn sự tham dự đông đảo của mọi từng lớp nhân dân.

Ngoài ra, ông cũng còn là người đầu tiên sáng chế ra chiếc đống hồ đá duy nhất của VN, coi giờ bằng ánh sáng mặt trời. Và mặc dù nó không thể nào có thể so sánh được với giá trị của chiếc đồng hồ Thái-Dương khổng lồ lớn nhất trên thế giới ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ. (Có nguyên tắc tính thời gian trong ngày, dựa vào sự di chuyển của mặt trời, từng được xây cất lên từ thế kỷ XVIÌI). Nhưng người dân địa phương Sa-Đéc lúc nào cũng biết tự hào rằng quê hương mình từng có nhân tài tạo đã ra báu vật, rất có ý nghĩa theo sự kiện của dòng thời gian lịch sử. Tuy rằng, giờ đây thì di tích còn tồn tại nầy hiện đang nằm trong địa bàn của trung tâm thành phố Bạc-Liêu.


Đồng hồ Thái-Dương VN

Tác giả lưu niệm tại đồng hồ Thái-Dương
khổng lồ ở trong khu Đài-Thiên-Văn Jaipur, Ấn-Độ

Còn ngày nay, thì Sa-Đéc lại cũng có thêm hình ảnh nhân vật khả kính khác nữa. Đó chính là hình ảnh của một nhà Mạnh-Thường-Quân thời đại ở đất phương Nam đã có tấm lòng hào hiệp phi thường, hiếm hoi tìm thấy trong hoàn cảnh xã hội đương thời. Ông đã tự nguyện từ thiện, ban tặng 37 tỉ bạc để xây cất một ký túc xá miễn phí cho sinh viên Trường Đại-Học Nông-Lâm ở tại thành phố Hồ-Chí-Minh. Sau đây là lời tâm nguyện của ông:

“Tôi quyết định bỏ tiền đầu tư xây dựng ký túc xá miễn phí cho sinh viên nghèo với tâm nguyện muốn góp phần đào tạo họ trở thành người giỏi trên nhiều mặt, đóng góp tích cực cho xã hội. Vun đắp, chăm lo cho những sinh viên nghèo có điều kiện học tập thành tài là việc làm thiện nguyện có hiệu quả lâu dài nhất, giống như mình cho họ cái cần câu để họ tự câu cá, nuôi sống bản thân”.


Dự án ký túc xá sinh viên
do doanh nghiệp thương hiệu “Cỏ May” tài trợ

Trường Đại-Học Nông-Lâm trao tặng lại
cho Ông Phạm-Văn-Bên bức tranh thêu có chữ “Tâm”

Đây là tấm gương báu của một doanh nhân bản lĩnh, đạo đức có tâm, và có tầm nhìn thấy phúc lợi của sự đầu tư trí tuệ vào trong phương tiện lãnh vực văn hóa, để làm động lực phát triển khả năng tinh thần sáng tạo của con người trong xã hội. Öng tên là Phạm-Văn-Bên, người địa phương thân thương quen gọi ông là Út Bên (vừa mới qua đời), một vị đại gia có nhân cách lớn sở tại thành đạt sự nghiệp vẻ vang do nhờ có nhiều kinh nghiệm ở chốn thương trường. Và với di sản cơ ngơi đồ sộ thương hiệu “Cỏ May” dưới sự quản lý kinh doanh của ông đang trên đà phát triển mạnh mẽ tại Sa-Đéc. Cùng với, nghĩa cử cao đẹp của một con người có trái tim đức hạnh muốn tìm dịp trả ơn xã hội, biết đạo làm doanh nhân, cho nên giờ đây hình ảnh kỷ niệm thương tiếc về ông còn để lại, thì đã được nhiều người đánh giá, vinh danh xem ông như là hình ảnh của một người thầy không bục giảng.

Ngoài ra, vì vùng đất Đồng-Tháp-Mười ngày xưa vốn từng là một chốn bưng biền, địa hình lầy lội có quá nhiều khó khăn trở ngại với đầy huyền thoại gian nan trong quá trình khẩn hoang tìm đất sinh tồn. Vì thế cho nên, người dân ở địa phương bao giờ cũng luôn luôn biết ý thức tự hào về tinh thần tương thân, tương trợ, để cùng nhau trân quý di sản truyền thống đoàn kết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Do vậy, mà ngày nay người ta còn thấy thêm có rất nhiều về những hình ảnh cao đẹp khác tự nguyện đem lá lành đùm lá rách, và chia cơm sẻ áo cho nhau cần phải xứng đáng được vinh danh. Đó chính là hình ảnh của những mái nhà tình nghĩa đơn sơ được người dân quyên góp xây cất cấp cho người nghèo, hay được từng cá nhân hảo tâm có trái tim nhân ái bảo trợ hiến tặng. Và điển hình như là về trường hợp đặc biệt khả kính của bà Năm Thiền chăn nuôi vịt kiếm tiền, để dùng vào làm việc phúc thiện như tu bổ đường làng, xây cầu thôn xóm, cất lên những mái nhà tình nghĩa, để giúp đỡ những kẻ khốn cùng ở tại địa phương có được nơi yên ổn, nương náu qua ngày.


Bà Võ-Thị-Thiền chăn nuôi bầy vịt từ thiện
 ở tại huyện Cao-Lãnh (Đồng-Tháp)Ở Đồng-Tháp, vì những ngày tổ chức về lễ hội không có được nhiều và đa dạng như ở các tỉnh khác. Vì thế cho nên, du khách đến thăm Đồng-Tháp-Mười chủ yếu là vì tình yêu hoa sen. Tuy nhiên, nếu du khách đến thăm nhằm lúc có xảy ra những ngày lễ hội lớn như lễ hội Gò-Tháp, lễ hội miếu Bà Chúa Xứ v.v, thì vẫn có thể thấy được những bầu không khí tưng bừng, náo nức không kém phần nghiêm trang và vui vẻ ở tại địa phương.

Các đầm sen tư nhân Lễ hội Gò-Tháp

Đặc biệt vào mùa Xuân năm nay, nhằm kỷ niệm 40 thành lập tỉnh Đồng-Tháp, địa phương quê hương hoa Sen đã có tổ chức long trọng một ngày lễ hội với chủ đề “Tự hào Đồng-Tháp Sen hồng” có nội dung bao gồm lịch sử Sen, sắc Sen và Sen Đồng-Tháp. Trong dịp nầy, tổ chức hành trình Sen địa phương đã có tạo ra một không gian văn hóa nghệ thuật đa dạng nhằm tạo ra một sân chơi giải trí lành mạnh vui tươi, để phục vụ đồng bào vui Xuân qua những tiết mục như Trống hội lân sư rồng, Tỏa ngát hương Xuân đất Sen hồng, bắn pháo hoa ở nhiều địa điểm trong địa bàn. Đồng thời, triển lãm giới thiệu trên 500 tấm ảnh bao gồm các nội dung như Chân dung người lao động, Lịch sử và cuộc sống, các thành tựu về lãnh vực kinh tế, xã hội địa phương trong chặng đường phát triển từ 40 năm qua.


Tự hào Đồng-Tháp Sen hồng

Ngoài ra, ngay tại trung tâm thành phố Sa-Đéc cũng còn có di tích của một ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê nổi tiếng, do nhờ được xây cất hài hòa theo mẫu kiến trúc Đông-Tây vào năm 1895. Sau nhiều lần được gia chủ trùng tu, thì ngôi nhà gỗ ba gian kiểu miền Tây Nam-bộ đã phải tự biến thành một biệt thự kiểu phương Tây trộn pha với kiến trúc Việt, và Hoa, nếu nhìn từ bên ngoài. Tuy nhiên, phần kiến trúc bên trong thì hoàn toàn mang đậm đường nét, và màu sắc cố hữu của người Hoa. Ngày nay, du khách đến tham quan di tích nhà cổ sẽ còn có dịp được nghe qua về một câu chuyện tình đầy lý thú, và lãng mạn xảy ra trong ngôi nhà huyền thoại nầy từ hằng thập niên về trước.

Và người ta cũng có thể còn nói thêm rằng, nếu không nhờ có một quyển tiểu thuyết nổi tiếng đoạt giải “Goncourt” và cuốn phim táo bạo “L’Amant” (Người tình) được ghép quay cảnh tại đây, thì ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê cũng chỉ là một ngôi nhà bình thường. Cho dù, nó có được khoác lên bộ mặt kiến trúc trộn pha khác lạ, cũng không thể tạo thành ra được một sức hút tính hiếu kỳ của nhiều thành phần du khách như lúc bây giờ. Và, hơn thế nữa, là hình ảnh của thành phố Sa-Đéc cũng đã bị lãng quên về một huyền thoại ái tình tâm lý đầy lâm ly, gay cấn, mà hiện nay đã được cả thế giới bên ngoài đều có dịp nghe biết đến.


Nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê

Bên trong ngôi nhà huyền thoại

Khác với cuộc tình giữa Bạch-Công-Tử và quận chúa Olga xảy ra tại thành phố Paris được nhà báo Vương-Liêu viết ra từ hơn sáu thập niên về trước, và cho dù đó chỉ là một giai thoại có bài bản được lồng vào với sự trùng hợp của yếu tố thời gian nếu đã có xảy ra. Câu chuyện tình giữa cậu thiếu gia Huỳnh-Thủy-Lê 27 tuổi ở Sa-Đéc, và cô nữ sinh tóc vàng phương Tây Marguerite Duras 15 tuổi rưỡi (con gái của một bà Hiệu-Trưởng trường nữ sinh Sa-Đéc, nay là trường Trưng-Vương) xảy ra ở tại đất phương Nam khoảng thời gian bắt đầu vào một buổi trưa hè ngày 3 tháng 6 năm 1929 là hoàn toàn có thật 100/100, và chứa đầy kịch tính. Hơn thế nữa, nhân chứng sống cũng còn là người trong cuộc, và đó chính hình ảnh của nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras (1914-1996) về sau nầy. Bà là tác giả của quyển tiểu thuyết nổi tiếng “L’Amant”*****, mà trước khi chính thức được chuyển thể sang lĩnh vực điện ảnh, thì nó đã là một kiệt tác về văn học.

Còn cuốn phim “L’Amant” thì dựa vào nội dung cốt truyện của quyển tiểu thuyết nói trên được quay tại Việt-Nam, và đã được hoàn thành trình chiếu chính thức vào ngày 22-01-1992 tại Pháp. Nhà đạo diễn Jean-Jacques-Annaud đã thực hiện thành công một cuốn phim nổi tiếng (độ dài 115 phút) nầy không những có giá trị về mặt nghệ thuật, mà còn về yếu tố tâm lý thu hút được rất nhiều thành phần khán giả ái mộ thưởng thức các thể loại phim tình cảm sống thực, kích thích rực nồng. Và từng đã được các nhà phê bình quốc tế coi như là vô cùng táo bạo trong lịch sử điện ảnh, về những cảnh nóng…thiệt.

Tạp chí điện ảnh quảng cáo về phim “L’Amant” tại Pháp

Bích chương quảng cáo về phim “L’Amant” ở Hoa-KỳTrong hình ảnh toàn bộ phim trường, có rất nhiều cảnh quay được dàn dựng ngay tại bến phà Cát-Lái (phục tạo lại như trên dòng sông Cửu-Long đoạn giữa Sa-Đéc và Vĩnh-Long) như là chủ đề chính của một khúc nhạc dạo đầu, để tạo ra cơ hội cho cú sét ái tình khác màu da giữa cậu thiếu gia Thủy-Lê (gốc Hoa) và cô nữ sinh Marguerite.

Chung cuộc, cho dù nếu không có đủ yếu tố thời gian để nhận ra mọi sự khác biệt về màu da, phong tục ngay từ phút đầu, thì cặp tình nhân đắm say cuồng nhiệt cũng phải đành đau khổ chấp nhận chào thua trước áp lực và định kiến của gia đình. Để rồi sau đó khi có dịp trùng phùng, hồi tưởng lại từng điệp khúc đam mê không muốn rời bên nhau, thì họ cũng đã thực tế nhận ra rằng ý nghĩa còn lại trong mảnh phần hồn của tình yêu chân thành là bất diệt…

Marguerite Duras
(ngày xưa)
Jane March
(quốc tịch Anh)


Ngôi sao điện ảnh Jane March
đóng vai Marguerite trong phim “L’Amant”Và cũng phải thành thật nói rằng là nhờ có tác phẩm sách báo, điện ảnh của cuốn phim thành công nổi tiếng “L’Amant” mà đã có nhiều người nước ngoài (nhất là người Pháp) mới có thêm dịp, để được nghe biết đến nhiều hơn về địa danh Sa-Đéc ở miền Tây.

Miền Nam từ lâu có tiếng là vùng đất lành chim đậu. Nơi đây, cây trái bốn mùa, đồng lúa mênh mông, cỏ hoa tươi tốt, và riêng góc trời thì lại có một vùng đầm lầy sông nước mênh mông mang đậm nét đặc thù với tính nhân văn, phong cảnh địa hình không giống ở bất cứ nơi nào trong nước. Đồng-Tháp ở đây tuy có cảnh quan sông nước đầm lầy nhưng không có được những hình ảnh linh hoạt như chợ nổi như ở Tiền-Giang, Cần-Thơ…Đồng-Tháp ở đây tuy có di tích lịch sử Óc-Eo, nhưng không có được một hòn núi non huyền bí xinh đẹp nào như ở An-Giang. Và Đồng-Tháp ở đây tuy có những cánh rừng tràm, các đặc sản nổi tiếng địa phương, nhưng không có cảnh quan biển cả để nhìn thấy được mặt trời nhô lên từ đáy bể như ở Cà-Mau, Kiên-Giang…Đồng-Tháp còn lại ở đây, chỉ có hình ảnh của loài hoa sen là biểu tượng cho duyên dáng của địa phương mình. Nói cách khác, thì toàn bộ cảnh quan hoang dã của vùng Đồng-Tháp-Mười khi xưa, nay đã bị biến dạng rất nhiều để nhường chỗ lại cho hình ảnh của một địa phương duyên dáng, màu lục xinh tươi. Và chứa đầy sức sống linh hoạt, năng nổ của người dân lúc nào cũng có ý chí kiên trì mần việc ruộng dâu không quản công khó nhọc, với những ước vọng cải thiện cuộc đời và vững tin nhìn về phía trước.

Nhưng tình người ở trên quê hương hoa sen, thì lúc nào cũng luôn luôn tỏ ra thân thiện, hân hoan đón chào từng lớp khách viễn phương.

Hơn thế nữa, nếu du khách đến tham quan Đồng-Tháp-Mười tìm dịp trải nghiệm tâm hồn vào cái thú ngắm sen nở nhằm lúc mãn khai dưới cảnh quan thiên nhiên bao la, in hình hoa đồng, cỏ nội, mây ngàn. Lúc ấy, trong phút giây đầy ấn tượng tuyệt vời thưởng thức mùi thơm ngát hương sen, thì biết đâu có người sẽ ngộ ra được đôi điều lý thú về giá trị chân tướng đích thực của cuộc đời; để mà có dịp suy tư sâu lắng về ý nghĩa hình ảnh vạn vật trong kiếp phù sinh của dân gian trong xã hội.

Trong thể xác định, thì hoa Sen lúc nào cũng vẫn hãy còn được người đời mãi mãi vinh danh, ca tụng coi như là biểu tượng cho sự thuần khiết và sinh hóa hồn nhiên.

Tính chất nguyên thủy trong cuộc sống tâm linh của thế nhân cũng vậy, nó vốn là phần hồn vô nhiễm, trong sạch. Hãy có dũng chí gạn đục, lắng trong “tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”, và noi gương Sen để cố gắng tìm bằng mọi cách giữ cho tâm hồn còn được mãi sự thuần khiết, không dính tới mùi bùn…


Đầm sen trước Đại-Tháp Hòa-Bình
Lâm-Tỳ-Ni (Lumbini, Népal)Ngày nay, đường vào tham quan quê hương hoa sen đã được rút ngắn thời gian do nhờ có đường giao thông thuận tiện hơn xưa, cho nên du khách nước ngoài ngày càng đến với Đồng-Tháp-Mười nhiều hơn. Và chỉ trong một ngày, họ có thể thỏa mãn được tính hiếu kỳ để tìm hiểu thêm về một địa danh nổi tiếng có nhiều hoa sen. Cũng như, về huyền thoại ly kỳ của một câu chuyện tình éo le, cảm động, lãng mạn không biên giới của đôi uyên ương Âu-Á, mà chứng tích còn sót lại bây giờ chính là hình ảnh của ngôi nhà cổ Huỳnh-Thủy-Lê ở trong tỉnh Đồng-Tháp.

Còn đối với khách du lịch nội địa, thì Đồng-Tháp-Mười bây giờ không chỉ là một địa danh của vùng văn hóa đặc trưng của miền đầm lầy sông nước phương Nam, mà nó còn là một dải đất quê hương mến yêu từng có công đóng góp phần quan trọng vào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ xóm làng, phát triển xã hội sau ngày quốc gia thống nhất, tái lập hòa bình.

Riêng về hình ảnh của hoa Sen, thì nó chính là một biểu tượng độc đáo cho vùng đồng lầy Đồng-Tháp-Mười, mà từ lâu từng đã được hầu hết mọi người đương nhiên thừa nhận coi như là một vẻ đẹp thanh cao, mang đậm ý nghĩa tâm linh. Hơn thế nữa, vào năm 2011 thì hình ảnh của hoa sen hồng cũng vinh dự được người dân Việt-Nam trong toàn quốc nhất trí chính thức bình chọn là “quốc hoa”, do nhờ có vẻ đẹp cao sang, trang trọng, gần gũi dân gian, và mang tính dân tộc được đa số người yêu thích.

Tuy nhiên, ngày nay nếu người ta muốn quảng bá về sự thể hiện tính thuần khiết cao đẹp của nó để áp dụng vào hình thức kinh doanh du lịch, thì cần phải có cái tâm cùng với cái tầm nhìn thông thoáng về tâm lý và nghệ thuật. Đây là một công việc không phải dễ dàng, vì nó luôn luôn đòi hỏi ý thức tinh thần trân trọng thừa hưởng của người dân lúc nào cũng phải biết cảnh giác trách nhiệm bằng mọi giá, đề giữ gìn mãi mãi nét đẹp phần hồn duyên dáng của quê hương…

An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris)

* – Thơ An-Tiêm MAI-LÝ-CANG.

** – ĐBSCL gồm có thành phố Cần-Thơ và 12 tỉnh là: An-Giang, Bến-Tre, Bạc-Liêu, Cà-Mau, Hậu-Giang, Kiên-Giang, Long-An, Sóc-Trăng, Tiền-Giang, Trà-Vinh, Vĩnh-Long và Đồng-Tháp.

*** – Tổ chức quốc tế phi chính phủ hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, và môi trường sống của loài chim.

**** -World Wide Fund For Nature

***** – Tiểu thuyết “L’Amant” (Người tình) xuất bản năm 1984, và đoạt giải thưởng văn học Goncourt.tại Pháp. Sau đó được dịch ra 43 thứ tiếng với khoảng 2,4 triệu bản in, và khi chuyển qua điện ảnh thì giành được giải thưởng ” Giải César cho nhạc phim hay nhất” vào năm 1993.


Trong đầm gì đẹp bằng Sen

Nguon: Chim Viet Canh Nam

Gallery | This entry was posted in Bien Soan, Di Tich/Văn Hóa and tagged . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s