Đạo Mẫu Việt Nam

Sơ yếu về

Đạo Mẫu

(Đạo Mẫu Việt Nam)
A brief introduction of Đạo Mẫu
***

 

 
 
 

 
 

 

ĐẠO MẪU VIỆT NAM – Toạ đàm về Đạo Mẫu

    Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt và một số tộc người khác, tục thờ Nữ thần, thờ Mẫu và thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ có vai trò và vị trí khá quan trọng, nó đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của con người, do vậy, nó phổ biến khá rộng khắp, từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi tới miền ngược.
 
    Đạo Mẫu vốn là một tín ngưỡng gần với thiên nhiên, trời đất, được “đời thường hóa”, gắn liền và đáp ứng những khát vọng của con người, thân phận của con người nhất là người phụ nữ trong đời sống hàng ngày.
 
    Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt Nam, việc tôn thờ Nữ thần, thờ Thánh Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến và có căn cội lịch sử và xã hội sâu xa.
 
    Đạo Mẫu, ngoài những nghi lễ thờ cúng, nó còn sản sinh và tích hợp nhiều giá trị văn hóa – nghệ thuật, tạo nên một “văn hóa Đạo Mẫu”, chứa đựng nhiều sắc thái văn hóa độc đáo của dân tộc.
 
    Dưới đây là những nét rất cơ bản của tín ngưỡng này với tên gọi chung là Đạo Mẫu.
 
1. Thờ Nữ thần và Thánh Mẫu.
    Nguồn gốc lịch sử của Đạo Mẫu không được ghi lại rõ ràng trong sách vở. Có người cho rằng nó có nguồn gốc từ thời tiền sử, khi người Việt thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu (= Vị thần Mẹ).
 
    Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng để bao hàm cả các nữ anh hùng trong dân gian – những người phụ nữ có thật, nổi lên trong lịch sử với vai trò người bảo hộ hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ, và cuối cùng được thần thánh hóa để thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu.
 
    Ở Việt Nam, chưa có thống kê một cách hệ thống và đầy đủ các Nữ thần được nhân dân tôn vinh và thờ phụng. tuy nhiên, việc thờ phụng này đã có từ rất lâu đời và phổ biến ở nhiều dân tộc, ở đồng bằng cũng như miền núi, nông thôn lẫn đô thị được ghi nhận như sau:
 
    Trong sách cổ “Hội chân biên”, in năm 1847 đời Thiệu Trị, do Thanh Hòa Tử tập hợp, thì trong 27 vị thần tiên có nguồn gốc thuần Việt, thì đã có 17 là Tiên nữ.
 
    Trong sách “Các Nữ thần Việt Nam” xuất bản những năm 80 của thế kỉ XX, thì đã tập hợp và giới thiệu bước đầu 75 vị Nữ thần tiêu biểu của nước Việt.
 
    Trong sách: “Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam”, trong số 1000 di tích được giới thiệu thì đã có 250 di tích thờ cúng các nữ thần và danh nhân là nữ. Riêng xung quanh quần thể di tích Phủ Dầy thờ Mẫu Liễu, người ta cũng tìm thấy hơn 20 đền miếu thờ các nữ thần.
 

 
  Trong vốn huyền thoại và truyền thuyết của Việt Nam, các vị nữ thần gần với việc tạo lập bản thể của vũ trụ, như Nữ thần Mặt Trời – Nữ thần Mặt Trăng đã sưởi ấm và soi sáng cho mặt đất
        – Các hiện tượng: Mây, mưa, sấm, chớp (Tứ Pháp) cũng được thần thánh hóa và mang tính nữ.
        – Các yếu tố mang tính bản thể vũ trụ, như Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ được gắn với các Bà: Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thủy, Bà Hỏa…
        – Các Mẹ (Mẫu) gắn với biểu tượng đất nước, quê hương, dân tộc như Mẹ Âu Cơ của Lạc Việt, Mẹ Quê hương của xứ sở Pô Inh Nưga của người Chăm.
        – Các Mẹ sản sinh ra các giá trị văn hóa: Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lửa.
        – Các Mẹ là tổ sư các nghề: dệt, tằm tang, làm muối, nghề mộc, làm bánh, ca công …
      –  Các phụ nữ ra trận “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, Nữ tướng đứng ra chấp chính quốc gia cũng trở thành các Nữ thần: Hai Bà Trưng, Triệu Ẩu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân, Lê Chân, Vũ Thị Thục, vợ ba Đề Thám . . .
 
    Các vị nữ thần kể trên từ bao đời nay đã được nhân dân tôn làm Thần, Thánh, được Triều đình ban sắc phong là “Thượng đẳng thần”, là Thành hoàng của nhiều làng, trong đó Liễu Hạnh công chúa được dân gian tôn vinh là một trong “Tứ bất tử” của đất nước.
 
    Các vị thần trong đạo Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người Mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Đạo Mẫu không chú trọng vào cuộc sống sau khi chết, nó quan tâm đến cuộc sống hiện tại và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc trên trần gian.
 
    Trong hàng các nữ thần, một số vị được tôn vinh là Mẫu, Thánh Mẫu, Vương Mẫu, Quốc Mẫu … Có nghĩa rằng Mẫu là Nữ thần, nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu. Theo đó, thờ Nữ thần với thờ Mẫu là không hoàn toàn đồng nhất.
 
    Về mặt danh xưng “Mẫu ” là từ gốc Hán – Việt, còn thuần Việt là “Mẹ”. Các từ Mẫu, Mẹ, Mụ là danh xưng chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô thân thiết của con cái với người đã sinh hạ ra mình. Tuy nhiên, Mẹ, Mẫu còn bao hàm nghĩa rộng hơn mang tính tôn xưng, tôn vinh: Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu – “Mẫu nghi thiên hạ”.
 
    Tuy chưa thống kê đầy đủ, nhưng cách tôn xưng là Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, Vương Mẫu thường trên quan hệ tới các trường hợp sau:
        – Mẫu (= Quốc Mẫu, Vương Mẫu): Đó là các Thái hậu (Mẹ vua), Hoàng hậu (vợ vua), Công chúa (con gái vua) có tài năng, công đức, khi mất hiển linh và được tôn xưng là Mẫu, như Tống Hậu, Thái Hậu họ Đỗ tương truyền là mẹ Lý Thần Tông; Ỷ Lan, con gái Vua Hùng Nghị Vương thờ ở đền Cao Mại, Lâm Thao, Phú Thọ.
        – Mẫu nghi thiên hạ:  Nguyên Phi Ỷ Lan.
    Một số các trường hợp khác cũng tôn xưng là Mẫu, Quốc Mẫu như:  Quốc Mẫu Diệp Phu nhân thờ ở đền Trần Liên, Yên Bái; Mẫu Sơn Quốc thờ tại Mẫu Sơn, Lạng Sơn.
    Cùng hệ thống này ở miền Trung và nhất là Nam Bộ, một số nữ thần cũng được tôn vinh là Mẫu: Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen), Chúa Xứ Thánh Mẫu (Núi Sam), Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Sắt…
 
    Như vậy các Mẫu hay Thánh Mẫu vừa có nguồn gốc thiên thần, vừa có nguồn gốc nhân thần, là hình thức tín ngưỡng “nâng cao”, “lên khuôn” từ cái nền thờ Nữ thần vốn rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc Việt.
 
    Tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng những nhân tố về một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước đã được thiêng liêng hoá mà Mẫu là biểu tượng cao nhất.
    Đạo Mẫu tiếp thu những ảnh hưởng của tục thờ cúng tổ tiên, một tín ngưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu trong tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam.
    Trong quá trình đạo Phật du nhập vào Việt Nam và phát triển theo khuynh hướng dân gian hoá, giữa đạo Phật và đạo Mẫu có sự thâm nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau khá sâu sắc. Điều dễ nhận biết là ở hầu hết các ngôi chùa hiện nay ở nông thôn đều có điện thờ Mẫu. Trong đó phổ biến nhất là dạng “tiền Phật hậu Mẫu”, phía trước thờ Phật ,phía sau thờ Mẫu.
 
2. Thờ Thánh Mẫu Tam phủ – Tứ phủ.
    Không nên đồng nhất hoàn toàn giữa thờ Mẫu thần với thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ (= Tam Tòa Thánh Mẫu).  Từ việc thờ Nữ thần, thờ Mẫu đến Mẫu Tam phủ – Tứ phủ là bước phát triển về nhiều mặt. Tác nhân của sự phát triển ấy vừa có nhân tố nội sinh vừa có nhân tố ngoại sinh.
 
    Trước hết, tín ngưỡng thờ Mẫu thần nói riêng và thờ thần nói chung vốn là một tín ngưỡng dân gian mang tính tản mạn và rời rạc, nay đã có bước phát triển đáng kể về tính hệ thống, quy về một hệ thống tương đối nhất quán về điện thần với Tứ phủ – Tam phủ.
 
    2.1. Mẫu Tứ phủ hay Tứ phủ công đồng là hệ thống bốn vị Mẫu bao gồm:
        1/.- Thiên phủ (miền trời): Mẫu đệ nhất mặc áo đỏ (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp.
 

 
        2/.- Nhạc phủ (miền rừng núi): Mẫu đệ nhị mặc áo xanh (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh.
 

 
        3/.- Thuỷ phủ (miền sông nước): Mẫu đệ tam mặc áo trắng (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp.
 

 
        4/.- Địa phủ (miền đất): Mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, mặc áo vàng, là nguồn gốc cho mọi sự sống. Không có giáng đồng.
 
    2.2. Tam phủ: là hệ thống ba vị Mẫu đệ nhất, Mẫu đệ nhị, và Mẫu đệ tam (không bao gồm Mẫu đệ tứ). Mẫu đệ tứ thường  được thờ riêng. Riêng Tam phủ Thánh Mẫu gần như các đền đều thờ. Mẫu đệ tứ các đền thờ ít hơn và  thường thờ nơi quàn các vong linh.
 
 
 
    Mẫu Tam phủ – Tứ phủ đã thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức về cội nguồn dân tộc, đất nước, chứa đựng lòng yêu nước được linh thiêng hóa, mà Mẫu là biểu tượng cao nhất.
 
    Mẫu Tam phủ – Tứ phủ cũng đã thể hiện những nghi lễ thờ cúng được chuẩn hóa, trong đó nghi lễ Hầu bóng (lên đồng) và lễ hội “tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” là một điển hình.
 
    Trong quá trình biến đổi, phát triển từ thờ Mẫu đến thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ, chúng ta đặc biệt chú ý tới giai đoạn từ thế kỷ XVI trở đi – giai đoạn xuất hiện Mẫu Liễu, quan niệm dân gian thường coi Bà là hóa thân, thậm chí đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên, trở thành một vị thần chủ của Đạo Mẫu Tam phủ – Tứ phủ.
 
    Tất nhiên, sự xuất hiện của vị Thánh Mẫu này ở vào khoảng thế kỷ XVI vừa xuất phát từ nhu cầu phát triển nội tại của tín ngưỡng thờ Mẫu đã có từ trước, vừa phản ảnh khát vọng của quần chúng nhân dân thời Lê mạt, một xã hội buôn bán, nhất là buôn bán chợ quê phát triển, gắn với vai trò của người phụ nữ; xã hội rối loạn, nhân tâm ly tán, mà một trong biểu hiện của nó là các cuộc khởi nghĩa nông dân triền miên.
 
    Với vị Thần chủ này, Đạo Mẫu vốn là một tín ngưỡng gần với thiên nhiên, trời đất, nay được “đời thường hóa”, gắn liền và đáp ứng những khát vọng của con người, thân phận của con người nhất là người phụ nữ trong đời sống hàng ngày như tài lộc, chữa bệnh, và chính từ đây, Đạo Mẫu Tam phủ – Tứ phủ có được bộ mặt mới, vừa rất dân tộc, rất truyền thống lại vừa rất cập thời, làm cho nó nhanh chóng phát triển, lan tỏa khắp mọi miền đất nước (bao gồm “Mẫu hóa” các tín ngưỡng bản địa khác), vừa có cơ hội tập trung thành trung tâm thờ Mẫu lớn, như Phủ Dầy (Nam Định), Đền Sòng Sơn (Thanh Hóa), Đền Bắc Lệ (Lạng Sơn), Phủ Tây Hồ (Hà Nội), Đền Kì Anh ( Hà Tĩnh ), Điện Hòn Chén (Huệ Nam Điện).
 
    Và cùng với sự xuất hiện vị thần chủ này, thì hệ thống điện thần, quan niệm nhân sinh và vũ trụ, đặc biệt là các nghi lễ – lễ hội càng thể hiện tính hệ thống hơn.
 

 
    Đạo Mẫu có các nghi lễ tổ chức theo Âm lịch với các tín đồ và nhiều người đi lễ tham gia. Các nghi thức hành lễ không được đào tạo chính thức mà chủ yếu được truyền khẩu từ đời này qua đời khác. Nghi lễ phổ biến nhất là lên đồng hay còn gọi là hầu bóng.
 
    Trong nghi lễ này, người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, linh hồn này được vời đến để nghe lời cầu nguyện của người đi lễ. Trong các nghi lễ, phụ nữ thường đóng vai trò chính, người lên đồng cũng thường là phụ nữ (bà đồng), đôi khi mới do nam giới đảm nhận (ông đồng).
 
    Các giá đồng (= các điệu múa linh thiêng) là một phần quan trọng của nghi lễ. Có 72 giá đồng, bao gồm giá các quan lớn, giá các cậu, giá chầu bà, giá các cô,…
 
    Trong buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát văn (hay chầu văn). Hát văn là một thể loại hát nói (vừa hát vừa nói). Hát văn do người đồng biểu diễn cùng với dàn nhạc cung văn. Người ta nói rằng, chầu văn tạo nên một khung cảnh và âm nhạc tâm linh để giúp cho người đồng nhập vào vai mới và gắn kết với những con người và nơi chốn ở bên ngoài thế giới địa phương của họ.
 
    Tất nhiên, bên cạnh sự “lên khuôn”, hệ thống hóa nói trên, trong Đạo Mẫu Tam phủ – Tứ phủ vẫn còn ẩn chứa nhiều yếu tố tín ngưỡng, ma thuật, những sắc thái và biến dạng địa phương . . ., khiến nhiều người mới bước vào tìm hiểu có cảm giác như lạc vào thế giới thần linh hỗn độn, phi hệ thống, tùy tiện.
 
Ghi chú:
1/. Trong hệ thống Mẫu Tứ phủ, có những ghi chép sau:
Bảo Dân Hộ Quốc Thánh Mẫu (越國聖母)
– Mẫu Âu Cơ (Thiên Phủ & Nhạc Phủ)
– Mẫu Đệ Nhất (Thiên Phủ). Danh hiệu: Mẫu Liễu Hạnh.
– Mẫu Đệ Nhị (Nhạc Phủ). Danh hiệu: Mẫu Thượng Ngàn.
– Mẫu Đệ Tam (Thoải Phủ). Danh hiệu: Mẫu Thoải.
– Mẫu Đệ Tứ (Địa Phủ). Danh hiệu: Lê Mại Đại Vương.
2/. Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện vào khoảng đời hậu Lê, nhưng nhanh chóng trở thành vị Thần chủ của Đạo Mẫu Việt Nam và được tôn vinh với tư cách là Mẫu Thượng Thiên, được thờ ở vị trí trung tâm, mặc trang phục màu đỏ.
    Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cho là công chúa của Ngọc Hoàng Thượng đế, do lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần làm con gái nhà họ Lê (ở nơi ngày nay thuộc tỉnh Nam Định) vào năm 1557. Dưới trần, bà có cuộc sống ngắn ngủi, lấy chồng và sinh con năm 18 tuổi và chết năm 21 tuổi. Do bà yêu cuộc sống trần tục nên Ngọc Hoàng cho bà tái sinh lần nữa. Trong kiếp mới, bà du ngoạn khắp đất nước, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, gặp gỡ nhiều người. Bà thực hiện nhiều phép mầu, giúp dân chống quân xâm lược. Bà trở thành một lãnh tụ của nhân dân và thậm chí bà còn tranh đấu với vua chúa. Do đức hạnh của bà, nhân dân đã lập đền thờ bà (Đền Sòng tỉnh Thanh Hóa). Bà đã được thánh hóa và trở thành một vị Thánh Mẫu quan trọng nhất và một hình ảnh mẫu mực cho phụ nữ Việt Nam.
    Tại làng Tây Hồ -Hà Nội có Phủ thờ Mẫu Liễu Hạnh, dựng trên doi đất trông ra Hồ Tây, cảnh đẹp , gió lộng từ ba phía, ngoài ra còn có những đền thờ nổi tiếng ở nhiều nơi như Phủ Giầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, đền Sòng, Phố Cát- Thanh Hoá…

 
 

Mẫu Thượng Ngàn
 

Mẫu Chúa Xứ (Núi Sam)
 

Mẫu Linh Sơn (Tây Ninh)
Bộ sưu tập | Bài này đã được đăng trong Bien Soan. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s