Tiểu thuyết của Tản Đà

Tiểu thuyết của Tản Đà
Hoàng Yên Lưu

tan da

Trong lãnh vực văn xuôi, Tản Đà viết nghị luận, giáo dục, tuồng và tiểu thuyết… Ông là tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi như những bài báo có tính cách nghiên cứu hay nghị luận đăng trên An nam tạp chí (Mối cảm tuởng về thơ ca của nước ta, phong dao tục ngữ…), Phụ nữ thời đàm (Hài đàm về thơ mới) và Đông pháp thời báo (Sự nghiệp văn chương…)

Trong cuốn Tản Đà Tùng Văn xuất bản năm 1922, trong bài tựa Tản Đà viết: “Tản Đà thư điếm khai trương, chủ nhân xin có mỗi thứ văn một bài in báo rao hàng cho vui, nhân gọi là Tản Đà Tùng Văn.” Trong Tản Đà Tùng Văn có đủ loại văn như lời tựa đã nói, nào là nghị luận, hài hước, nào là tiểu thuyết. Nhưng ngày nay nhắc tới Tản Đà Tùng Văn người ta chỉ nhớ bài thơ Thề Non Nước.

Câu chuyện Thề non nước nếu gọi theo lối xưa là loại ký ghi lại một biến cố trong đời nhà văn (sự kiện trong tác phẩm có thể là hư cấu và cũng có thể là chân thực) như Nguyễn Huy Hổ viết Mai đình mộng ký hay Nguyễn Bá Trác viết Hạn mạn du ký. Còn xếp theo tiêu chuẩn hiện đại thì nó thuộc loại tiểu thuyết và là “truyện vừa”.

Tác phẩm kể lại cuộc hội ngộ giữa một khách thơ (mang dáng dấp và phong cách của Tản Đà) và một đào nương (một cô gái sống nơi xóm bình khang hay lầu hồng được gọi là ả đào hoặc cô đầu có thanh có sắc).

Câu chuyện có thể có thực vì Tản Đà là khách tài hoa thường lui tới nơi lầu hồng ở Khâm thiên (Hà nội), Vạn thái (Hải phòng), sáng tác những bài ca trù được gái phong trần ưa chuộng ca theo cung đàn nhịp phách trong các buổi “Cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm”.

Thề non nước cũng có thể là truyện tưởng tượng của một nhà thơ suốt đời đi tìm người tri kỷ trong mộng tưởng.

Nếu lấy nhãn quan của nhà phê bình ngày nay thì Thề non nước (chính thức ấn hành 1932) không phải là tiểu thuyết đặc sắc, không những về kết cấu, về nghệ thuật tả tình, tả cảnh và đối thoại đều sơ sài và cũ kỹ, so với tác phẩm trước nó như Cành hoa điểm tuyết (1921) của Đặng Trần Phất, và Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách còn phải nhường bước.

Nhưng trong tác phẩm này, có một bài thơ nhan đề là Thề Non Nước, một trong những bài thơ tình cảm hay nhất của Tản Đà. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào?

Tản Đà đã kể lại trong truyện ngắn Thề Non Nước in trong Tản Đà Tùng Văn. Câu chuyện có thể hư cấu, tuy nhiên trong lúc xúc cảm tuôn trào, mộng thực hòa đồng, ông đã để lại cho đời một bài tình thi châu ngọc.

Phần sau đây lược trích trong truyện Thề Non Nước hy vọng giúp người yên thơ Tản Đà biết rõ hoàn cảnh ra đời của một bài thơ nổi tiếng và tính chất đa mộng, đa cảm, đa sầu của một thi nhân tài tử luôn luôn mang cảm giác cô đơn. Không phải ông chỉ nói chuyện với bóng, với ảnh mà đôi lúc cũng có cuộc hội ngộ với tri âm trong cuộc hành trình “nửa đời nam, bắc, tây, đông”. Giai nhân có thể là người trong mộng và cũng có thể là nhân vật thực và giữa những người tri kỷ đã có phen diễn ra cuộc ngâm vịnh lý thú như lần “khách” (tác giả tự xưng) gặp Vân Anh, nhân vật chính trong Thề Non Nước, một đào nương ở xóm bình khang, tài sắc nhưng bạc phận.

Một lần ghé thăm cô đào có tên là Vân Anh, khách lãng du và giai nhân bạc mệnh trò chuyện về văn chương đã nảy sinh cơ hội thi hứng tuôn tràn:

“…Vân Anh đi mở rương, lấy cuốn văn ra. Ông khách giở xem, thấy cũng có nhiều bài thông lắm. Xem đến bài Vịnh lĩnh mai (Vịnh cây mai trên núi) có hai câu rằng:

Hàm tình bất hướng đông phong tiếu

Độc bạn thanh tùng đạp tuyết du

(Chẳng cười với trận đông phong,

Thông xanh bầu bạn giãi lòng tuyết sương.)

Nghĩ như hai câu này thì thật có phong điệu, mà tại sao người làm thơ lại sa vào bình khang?

Khách xem hết các bài thơ chữ nho, lại hỏi về văn quốc âm. Vân Anh đọc bài “Vịnh sen Hồ Hoàn Kiếm”:

Hồ Gươm sen mới ra hoa

Cả hương, cả sắc, ai mà không chơi

Sen tàn lá rách tả tơi

Quanh hồ lai vãng ai người tiếc thương?

Nước hồ, sen đứng soi gương

Còn đâu là sắc là hương với đời

Tủi thân sen lại giận trời

Cho chi hương sắc, cho người trọng khinh.

Khách nói:

– Thơ hay, nhưng sao lời buồn quá thế?

Vân Anh:

– Bài này tôi mới làm. Trong lúc buồn mà gắng làm ra vui sao được!

Khách ngậm ngùi một lúc rồi nói:

– Nghĩ như cô, người như thế, tài hoa như thế, mà sao không nổi tiếng? Sao gia cảnh quá thanh bần?

Vân Anh đến lúc ấy tỏ ra buồn bã, trả lời khách:

– Ông nghĩ thế, chớ như tôi thời làm sao nổi tiếng. Chữ Nho bây giờ, đến như ông Nghè, ông Cử cũng còn nhiều vị chẳng vinh hiển gì, huống hồ là một người cô đầu biết hai ba câu thơ, còn lấy gì có giá được? Từ khi tôi ra hát đến nay, hôm nay mới có ông hỏi đến hoàn cảnh thiếu thốn là một…

Lúc ấy đã đến hơn bốn giờ sáng, khách bảo xếp bỏ rượu để đi ngủ. Vân Anh buông màn cho khách ngủ, rồi vào trong nhà với mẹ.

Ngày hôm sau, trời mưa dầm mãi từ sáng cho đến chiều. Lúc người khách ngủ dậy thời vào khoảng chín, mười giờ. Nguyên người khách đến uống rượu bận ấy, chỉ định ngủ một tối rồi sáng hôm sau ra đi nhưng sau một đêm nói chuyện với cô gái phong trần, cái cảm tình đối với nàng phát sinh lòng thương tiếc vô hạn. Lại nhân hôm ấy trời mưa dầm, thành ra khách ở lại. Mười giờ hơn, Vân Anh xin phép để làm cơm sáng… Trong nhà Vân Anh từ tối hôm trước chỉ còn có một con gà thời đã làm mồi rượu rồi mà cũng phải vay thêm đồ ăn mới đủ dọn; đến lúc ấy nàng không biết làm thế nào, nghĩ người khách đi lại chưa thân, cũng không tiện ra hỏi. Hai mẹ con ra vào, thì thầm bàn cùng nhau, khách cũng hiểu tình ý, nhưng cứ tự nhiên như không biết, chỉ nằm xem những thơ văn của Vân Anh, rồi lại mở va li, lấy giấy bút để viết. Độ 12 giờ hơn, thấy cơm bưng lên, đầy đủ món ăn. Bữa ấy hai người cùng ngồi uống rượu. Ngoài bức mành thưa, trời vừa mưa vừa gió, những người đi ngoài đường lặn lội ướt át mà trong chỗ mâm rượu thời một người du tử với một mỹ nhân thù tạc, đàm đạo nhân tình thế thái cùng văn thơ. Khách tuy không phải là người say đắm ở nơi bình khang nhưng lúc ấy bất giác cũng cao hứng.

Đương trong lúc tửu hứng, Vân Anh nói:

– Tôi có một bức tranh sơn thủy là của gia bảo, vẫn cuộn để trong rương, thường muốn đề một bài quốc văn mà nghĩ lại không xứng, nay không mấy khi được gặp cao nhân, xin hạ bút đề cho một bài, thực là quý quá.

Khách nói:

– Sự đề vịnh vốn không dễ, lại đề lên một bức họa trân quý thời thực không dám nhận, nhưng cô thử lấy cho xem thời hay lắm.

Vân Anh đi mở rương lấy bức tranh đưa ra, khách giở xem, thực là một bức cổ họa. Trông khoảng trên có ba chữ triện không hiểu là chữ gì? Vân Anh nói đó là chữ nôm. Khách nhận ra thời là ba chữ “Thề Non Nước”.

Vân Anh nói:

– Cứ ba chữ này, nghĩa đen là chỉ non, thề nước. Nhưng bức tranh không hiểu ý nghĩa ra sao?

Khách nghĩ một lúc rồi nói:

– Ba chữ đề đây là non với nước thề nguyền với nhau. Như thế có nhẽ hợp ý bức họa.

Vân Anh:

– Dẫu nhận là như thế, nhưng đây chỉ vẽ một dãy núi, còn không thấy sông nước gì cả, lấy gì thề thốt?

Khách đáp:

– Dù tranh không vẽ sông nước nhưng nhận kỹ một ngàn dâu ở chân núi này, tức là sông núi khi xưa mà tang thương đã biến đổi.

Khách giảng giải:

– Nguyên bức họa này chỉ là một bức tranh tang thương cho nên dưới vẽ một ngàn dâu tựa như thể khúc sông; trên núi thời như mây như tuyết, như mấy cây mai già, như bóng tà dương, đều là để tả cái tình cảnh thê thảm. Bởi thế cho nên ba chữ đề này, dẫu là lấy câu sẵn mà đề vào, song thực tỏ ra được cái tình thương nhớ của dãy núi… Dãy núi đã cảm nhận nỗi tang thương.

Vân Anh hỏi:

– Bây giờ muốn đề một bài thơ thời phô diễn thế nào mới sát ý?

Khách:

– Phải trông vào bức họa và lại lấy ba chữ “Thề Non Nước” đó làm chủ đề. Tuy nhiên, phải chú trọng vào một chữ “non”, lấy chữ “non” làm chính, vì không những “non” mới thực là chủ điểm trong bức họa mà lại có ở trong đề. Còn hai chữ “thề” và chữ “nước” thời trong bức họa không có mà trong đề có, cũng phải nhận như có nhưng chỉ nên đề cập tới một cách kín đáo, nhẹ nhàng.

Vân Anh:

– Như thế thời khó lắm!

Khách lại hỏi:

– Cô muốn đề bằng văn Nôm hay bằng Hán văn?

Vân Anh:

– Đề bằng văn nôm thời hơn, vì ba chữ đề ở đây bằng chữ nôm.

Khách:

– Nhưng nên làm một bài thơ hay một bài lục bát?

Vân Anh:

– Bài lục bát cũng được, hay một bài cổ luật cũng được.

Khi ấy, khách lại ngồi uống rượu mà vừa nghĩ. Bức họa vẫn để đó. Vân Anh đứng dậy xuống bếp bảo con ở lên bưng mấy bát đồ ăn xuống để hâm lại. Lúc Vân Anh lên cùng ngồi vào bàn thời khách đã nghĩ được mấy câu:

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non

Nhớ lời nguyện nước thề non

Nước đi chưa lại, non còn đứng không

Vân Anh:

– Hay lắm! Chữ “thề” chữ “nước” vẫn nói đến mà như không có; chỉ một chữ “non” là tả thực. Nhưng còn trùng vần “non” thời kém hay.

Khách:

– Vần “non” trùng, tưởng cũng không ngại lắm; nếu câu nệ mà đổi đi thời mất hết vẻ thiên nhiên.

Vân Anh:

– Câu tiếp đó ra sao?

Khách:

– Cứ ngắm “non” trong bức họa mà tả thực cho hết những cảnh vật ở trên non, nhất là tả cho được cái tình tương tư của non thời mới hay.

Vân Anh đọc:

Non cao những ngóng cùng trông

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

Xương mai một nắm hao gầy

Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương

Trời tây ngả bóng tà dương

Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha

Non cao tuổi vẫn chưa già

Non thời nhớ nước, nước mà quên non!

Khách:

– Hay lắm! Thử đọc lại cho nghe một lượt nào.

Vân Anh đọc lại. Khách nói:

– Như thế dù không trông vào bức họa, cứ đọc bài thơ cũng đủ thấy như vẽ ra một cảnh “núi tương tư”. Không ngờ cô văn nôm hay mà nhanh được đến như thế.

Vân Anh:

– Cũng là nhờ ông đã bảo rõ cho cách làm…”

(Sau đó, khách từ biệt ra đi… nhưng ngầm giúp Vân Anh bằng cách để tiền trong vali gửi lại nhưng không khóa. Nhưng Vân Anh không tham, cam chịu cảnh cơ hàn của một đào nương thất thế nhưng phẩm chất cao thượng.).

Câu chuyện tiếp tục:

“Một tối, Vân Anh ngồi buồn một mình, tưởng lại bài đề họa hôm nọ, tìm tờ giấy chép thơ đem ra xem. Nàng nghĩ nếu bài đề bức họa chỉ như thế thôi thời chưa đầy đủ ý nghĩa, lại sợ có thể là điềm không hay vì không có hậu. Nàng ngồi nghĩ và nối thêm hai câu:

Dù cho sông cạn đá mòn

Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa

Mới được hai câu, thấy có người vào, thời là ông khách cũ, tay cầm một chai rượu, miệng cười và ra hiệu làm rượu uống. Đêm hôm ấy, hai người lại thù tạc, lại nói chuyện về bài đề họa.

Vân Anh nói:

– Bài này nếu ngừng ở đây chỉ sợ mang lại điều kém may mắn!

Khách:

– Làm văn có sợ gì sai, nhưng bài này thực ra chưa trọn ý.

Vân Anh bèn đọc hai câu mới nghĩ ra.

Khách:

– Hay lắm! Câu trên tả chân thật hay!

– Thế đã được chưa?

Khách:

– Kể ra cũng được, nhưng nối thêm nữa có nhẽ mới được đầy đủ.

Lúc ấy tửu hứng đã cao, khách lại ngâm rằng:

Non cao đã biết hay chưa?

Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

Nước non hội ngộ còn luôn

Bảo cho non chớ có buồn làm chi

Nước kia dù hãy còn đi

Ngàn dâu xanh tốt, non thì cứ vui.

Vân Anh tiếp lời:

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước không nguôi lời thề

Khách nói:

– Như thế đã đầy đủ ý nghĩa.

Vân Anh đem chép lại toàn bài rồi đọc lại một lượt. Hai người cùng lấy làm ưng ý. Sẵn bút mực trong vali, họ đốt đèn thật sáng, đem bức họa ra để đề thơ. Khách đề trước một bài chữ nôm. Vân Anh thì viết quốc ngữ. Đề xong, lại cùng ngồi uống rượu làm văn. Hai người cùng làm chung nhau một bài, mỗi người làm mỗi đoạn. Cuộc rượu chưa tàn, hứng văn thơ cũng chưa tàn, nghe tiếng gà như đã giục khách. Khách xin từ biệt ra đi. Vân Anh ngẩn người và giữ lại. Lúc ấy, hai tình quyến luyến, người chốn bình khang không phải là giả vờ mà du tử cũng nặng lòng ly biệt.”

(Trích Thề non nước-bản 1932)

Hoàng Yên Lưu

Bộ sưu tập | Bài này đã được đăng trong Bien Soan và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s