Chuyện bên nhà

Những nỗi truân chuyên
Đoàn Dự ghi chép

  1. Tình em duyên chị, lắm nỗi bi thương

Ngưi đàn bà sống trong hang đá

Giữa trưa nắng, người đàn bà ấy vẫn cứ cặm cụi nhặt, bới những thứ người ta bỏ đi dưới chân núi rồi lặng lẽ cho vào chiếc túi ny-lông cũ rích. Thứ gì ăn được là chị bỏ vào miệng. Ban ngày chị cười, ban đêm lại gào khóc. Dù khóc hay cười thì những âm thanh đó nghe cũng đến rợn người. Đó là chị La Thị Vui, năm nay 39 tuổi, ở xóm Găng, xã Cẩm Đàn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Dân làng sống quanh chân núi này đều nói các âm thanh của chị Vui phát ra giống hệt tiếng sói tru. Nhiều khi họ khuyên chị: “Đừng ăn những thứ đó. Đấy là rác, mất vệ sinh lắm, chớ có ăn”, nhưng chỉ những người không bị chị Vui “gây sự” mới dám khuyên như thế. Bao nhiêu năm nay người ta gọi chị là: “Mụ điên có kéo”, bởi chị luôn dắt một chiếc kéo cũ trên cạp quần và sẵn sàng rút ra, giơ lên đe dọa những ai dám khuyên nhủ chị. “Cút đi, mặc kệ tao. Giời phật cho tao ăn thì tao ăn!…”.

Chuyện về cuộc đời chị Vui ở làng này thì ai cũng biết và có thể kể ra vanh vách. Các ông các bà lớn tuổi thuật lại rằng, trước khi bị tâm thần, chị Vui nổi tiếng là một cô gái nết na, xinh đẹp, chịu thương chịu khó kể cả việc nhà lẫn việc nương rẫy, hàng xóm láng giềng ít ai hơn được. Sở dĩ “cô Vui” hóa ra như vậy là do sự cổ điển, lạc hậu, thời buổi này mà còn thiển cận, tin tưởng hão huyền giống như đời nảo đời nào của bố mẹ cô. Chính cái quan niệm hẹp hòi của bố mẹ đã đẩy người phụ nữ xinh đẹp, siêng năng cần mẫn, có nhiều cậu trai quê hâm mộ, trở thành người dở điên dở khùng, sống một mình trong hang đá nhưng vẫn bị những tên đàn ông đốn mạt hãm hiếp, sinh con, một mình “vượt cạn” không ai biết, rồi đứa con bị thú ăn thịt. Có lẽ chị Vui là người đàn bà đau khổ nhất trần gian. Tội lỗi ấy bố mẹ chị gây ra với nguyên nhân nhỏ xíu khó ai có thể tưởng tượng nổi: “Làm chị thì phải lấy chồng trước, em lấy chồng sau. Nếu em lấy chồng trước là đảo lộn tôn ti trật tự, làng xóm chê cười”.

ddu hangda

Cuộc hôn nhân cổ hủ, hẹp hòi

Dân chúng Cẩm Đàn kể rằng khoảng hơn 20 năm về trước (1995), chị Vui và cô em gái kế mình đều đang ở vào cái tuổi cập kê. Hai chị em đều xinh xắn, nết na nên được nhiều chàng trai trong vùng hâm mộ. Trong số đó có chàng thanh niên tên H. say mê tha thiết cô Xuân – em gái cô Vui – dần dần cũng được cô Xuân đáp lại. Cậu H. nói với bố mẹ đem trầu cau sang dạm hỏi cô Xuân. Cậu H. ở thôn Nhân Định, xã Yên Định, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Ở ngoài Bắc, làng nọ cách làng kia chẳng bao xa nên dân chúng thường biết mặt nhau. Đôi bạn trẻ được cả hai bên gia đình đồng ý nên hôn lễ mau chóng được xác định ngày.

Nhưng sự thật quá bẽ bàng khi cô dâu trong ngày cưới không phải là cô Xuân mà là người chị tên Vui. Chú rể chết sững. Cả gia đình, họ hàng phía bên nhà trai cũng đều hoang mang, sửng sốt. Nhưng mọi sự đã rồi nên họ đành tạm thời nín nhịn cho xong bởi vì cô Vui cũng đẹp và nổi tiềng hay làm.

Chuyện phía nhà gái “đánh tráo” cô Vui khiến làng xóm bàn tán xôn xao. Bà Xuyến, người thôn Nhân Định, chia sẻ: “Thật ra những việc như thế ở vùng chúng tôi mấy chục năm trước không phải là không có. Ngay gần nhà tôi cũng có một chuyện tương tự. Cô đó chồng qua đời, có một đứa con riêng, có người mai mối cho một người dân tộc thiểu số trông rất đẹp trai. Qua thời gian tìm hiểu, hai bên đồng ý tiến tới hôn nhân. Thế nhưng lúc về đến nhà chồng, cô dâu mới ngã ngửa người ra khi biết người chồng “thật sự” của mình là anh ruột của chú rể chứ không phải chú rể, già hơn và bị cụt cả hai chân. Cô ấy đau đớn, thất vọng lắm nhưng ván đã đóng thuyền, đành phải chịu vậy thôi”.

Các phóng viên nghe nói chị Vui chỉ vì cái quan niệm lạc hậu của bố mẹ mà gặp hoàn cảnh trớ trêu, hóa điên hóa khùng, một mình sống trong hang đá rất tội nghiệp, nên bèn tới thôn Găng, xã Cẩm Đàn, huyện Lục Ngạn là làng gốc của chị Vui, tìm gặp người nhà của chị để tìm hiểu câu chuyện “thế thân” ngày xưa thực hư ra sao. Mọi người gặp chị La Thị Bình – chị ruột của chị Vui, đã lập gia đình và có con cái. Chị Bình buồn rầu nói: “Chuyện đã qua khá lâu rồi, khơi lại chỉ thêm đau lòng. Người nhà quê chúng tôi ngay cả bây giờ cũng suy nghĩ rất nông cạn, hầu hết đều quan niệm rằng là chị thì phải lấy chồng trước em. Cả làng này ai cũng nghĩ như thế chứ không chỉ một mình bố mẹ tôi. Cái Vui chưa lấy chồng thì cái Xuân không thể “đi trước” được. Làm như vậy làng xóm chê cười”. Sau đó, chị nói thêm: “Ngoài ra, một lý do khác là bố mẹ tôi đi coi bói, thầy bói nói rằng số của cái Vui lấy thằng H. thì hợp hơn cái Xuân. Nếu cái Xuân lấy thằng H., giữa đường sẽ đứt gánh, một trong hai đứa sẽ chết lúc còn rất trẻ. Cũng vì muốn tốt cho con nên bố mẹ tôi mới quyết định như vậy, không ngờ lại ra nông nỗi…”. “Lúc đi xem bói ông bà có dẫn cô Xuân với cô Vui cùng đi hay không?”. “Có, bởi vậy cái Xuân cũng sợ nên mới chịu để cho cái Vui thay thế mình”. “Thầy bói nói mò, chắc họ đoán biết hai bác muốn thay đổi nên mới nói tầm bậy để kiếm tiền?”. “Tôi cũng nói như vậy nhưng bố mẹ tôi không nghe, nhất định bắt cái Vui thay thế cái Xuân”. “Sao không bãi hôn? Nếu đã tin lời thầy bói thì bãi hôn cũng vẫn còn kịp”. “Thế mới nên chuyện. Hiện nay bố mẹ tôi ân hận vô cùng nhưng cũng không làm gì được”.

“Địa ngục trần gian” trong gia đình chồng

Vì sự suy nghĩ nông cạn của bố mẹ ruột, cuộc sống hôn nhân sau đó của cô Vui chẳng khác nào địa ngục. Chồng cô do không lấy được người yêu nên chán nản, đau khổ. Làm đám cưới được mấy hôm xong anh ta bỏ vào trong Nam kiếm sống, bỏ mặc người vợ ở nhà hứng chịu điều tiếng chê bai của xóm làng.

Hai năm sau, ở nơi đất lạ quê người, khó làm ăn nên người chồng trở về. Có lẽ lúc này nỗi buồn về mối tình cũ không còn ray rứt lắm nên anh ta chấp nhận cuộc sống hôn nhân không có tình yêu với cô Vui.

Biết là chồng và cả gia đình nhà chồng không ưa gì mình nên chị Vui luôn luôn cố gắng làm mọi công việc để chiều ý mọi người. Tuy nhiên, kết quả không được như chị mong muốn. Vốn ghét nên cả nhà lườm nguýt, mắng mỏ chị bằng đủ mọi lời lẽ cay nghiệt. Có những đêm chị nằm khóc thầm, than thở cho số kiếp của mình.

Thế rồi niềm vui cũng lóe lên khi chị có thai và sinh được một bé gái xinh xắn, dễ thương. Nhưng bố mẹ chồng và chồng lại muốn chị sinh con trai để …nối dõi tông đường!

Đến lần thứ hai có bầu, chị hy vọng cái thai sẽ là con trai để xóa tan đi sự ghét bỏ của chồng và gia đình nhà chồng. Nhưng cuộc sống lại một lần nữa phũ phàng đối với chị. Chị lại sinh con gái. Đấy càng là cái cớ để chồng và bố mẹ chồng ghét bỏ chị. Họ ghét lây cả hai đứa trẻ do chị sinh ra.

Lạ lùng là bị chồng ghét bỏ, luôn luôn đàn áp nhưng chị lại dễ có thai và mắn đẻ như gà. Khi chị có bầu lần thứ 3, bố mẹ chị sợ chị lại sinh con gái nữa nên đến xin cho chị về nhà với lý do là để dưỡng thai. Trong suốt thời gian này, nhà chồng rêu rao rằng cái thai trong bụng chị không phải là máu mủ của chồng chị. Chỉ đến khi chị sinh ra đứa bé là con trai, ai nhìn cũng bảo là nó giống bố như đúc, bấy giờ nhà chồng mới hết nói xấu đồng thời bảo chị đem con trở về để họ trông nom đứa cháu “đích tôn”.

Tuy chị đã trở lại nhà chồng nhưng cuộc sống địa ngục vẫn đeo bám lấy người phụ nữ bất hạnh đó. Chồng vẫn ghét bỏ và luôn đánh đập, nhất là đánh bằng thanh củi vào mặt, vào đầu nhiều khi tóe máu nên chị hóa ngớ ngẩn, hay quên, dần dần trở thành như người mất trí. Chị càng ngớ ngẩn bao nhiêu, nhà chồng lại càng khinh bỉ và đối xử tệ bạc với chị bấy nhiêu. Một bà hàng xóm kể lại: “Nó sống tội nghiệp như làm dâu dưới thời Pháp thuộc. Mấy lần mẹ chồng đốt quần áo của nó rồi đuổi đi. Thằng chồng giao hẹn đã đi thì không được trở lại nữa nên nó chỉ khóc, cố gắng chịu đựng và không dám đi. Mẹ chồng còn độc ác đến nỗi chọc vỡ cả ngói chỗ giường mấy mẹ con nó nằm. Mùa hè thì nắng rọi xuống, mùa đông thì lạnh, còn lúc trời mưa thì ướt không có chỗ ngủ, tội lắm!”.

Phải chịu quá nhiều bạo lực của chồng và gia đình nhà chồng nên chị Vui bị tâm thần ngày càng nặng hơn. Cho tới khi mang thai đứa con thứ 4 thì hầu như chị hoàn toàn mất trí nhớ, không còn biết gì nữa. Chị thường đi lang thang trong làng, ai cho gì ăn nấy, không cho thì nhịn đói mà không biết là mình đói. Ai hỏi gì chị chỉ cười hềnh hệch như người điên. Ông Chiến, người trong làng, nói: “Cả chục năm người ta mới thấy cái Vui nó cười. Nhưng khổ một nỗi nó cười mà không biết là mình cười”.

Trong các anh chị em, chị Vui quý mến nhất chị cả tức chị Bình. Trước đây hễ có chuyện gì hai chị em thường thủ thỉ với nhau. Bởi vậy cho nên khi đầu óc không còn được bình thường, mỗi lần lang thang ngoài đường, dù điên thì điên, chi Vui vẫn thường nghe lời chị Bình khuyên nhủ.

Nói về cuộc sống trong quá khứ của đứa em gái tội nghiệp, người chị bao dung này không cầm được nước mắt: “Cứ tưởng nó đã có hai đứa con gái, một đứa con trai, đứa nào cũng rất xinh xắn thì gia đình họ cũng nghĩ lại, bỏ qua tị hiềm, quan tâm tới nó chút đỉnh bởi vì nó đang bụng mang dạ chửa. Không ngờ lần đó thấy nó đi lang thang tay cầm cây que, cứ đập chỗ nọ lại đập chỗ kia, cái bụng thì lép xẹp, tôi hỏi em đẻ rồi à, nó gật. “Em đẻ hồi nào? Cháu bé đâu rồi?”. Nó bảo không biết, đẻ ngoài vườn nhãn, bỏ ở ngoài ấy rồi. Tôi kinh hoảng chạy ra vườn nhãn sau đình thì thấy đúng là có vết máu trên cát dưới gốc một cây nhãn lớn, còn xác đứa trẻ thì đã bị súc vật cắn hết một phần rồi. Thật xót xa quá!

Sau lần sinh nở đó, chị Vui bỏ đi. Chị bắt đầu cuộc sống hoang dại của mình. Người ta bảo, ngoài những lúc ngẩn ngơ, đầu óc chị còn khá tỉnh táo. Chị bỏ đi không hẳn vì tâm thần mà đó là một cuộc trốn chạy địa ngục, để rồi cả chục năm trời trôi qua, chị lấy khe núi làm nhà và những cánh rừng thuộc thôn Nhân Định làm bạn…

Lấy hang đá làm nhà

Đi lang thang, ngủ ở đầu đường xó chợ mãi không ổn, chị Vui quyết định tìm cho mình một “căn nhà” để tránh mưa năng.

Ban đầu chị chọn “nhà” trên mặt đất ở phía dưới của hai tảng đá gác lên nhau thành hình chữ A bên cạnh bờ suối gần với quốc lộ 2C. Ban ngày chị vào chợ huyện Sơn Động, tìm kiếm những thứ người ta bỏ đi làm đồ ăn. Đêm đến, chị lội sang bên kia bờ suối, vào chỗ cái khe giữa hai hòn đá đó mà ngủ. Trời nắng ráo thì không sao nhưng khi trời mưa, nước dâng lên, căn “nhà” của chị bị ngập, có gì ướt hết.

Ông Chiến, người sống trong làng Nhân Định, kể: “Cô ấy như thế đấy, lang thang suốt ngày, mệt, tối chui vào cái khe đá nằm ngủ. Cũng có khi cô ấy để cả quần áo, dầm mình xuống nước mà tắm. Người nhà ở bên thôn Găng xã Cẩm Đàn đã nhiều lần sang khuyên nhủ trở về nhưng không được, đành phải để mặc cô ấy muốn làm gì thì làm. Những người ở gần đấy bảo rằng ban đêm hễ nghe tiếng cô ấy chửi oang oang thì đúng là nước suối dâng lên làm cho cô ấy không có chỗ ngủ!…”.

Nhận thấy ngủ trong khe đá bên bờ suối không ổn, chị Vui đi tìm một “căn nhà” khác. Chỗ ở mới này là một cái hang trên lưng chừng núi Hú U cũng thuộc thôn Nhân Định. Nếu đứng dưới chân núi nhìn lên hang của chị Vui, nhiều người không khỏi ngạc nhiên không hiểu tại sao chị Vui – một người tâm thần – lại leo lên leo xuống hằng ngày được như vậy.

Các phóng viên quyết định tìm lên nơi ẩn náu của người đàn bà điên, bỏ ngoài tai những lời cảnh báo là bà ấy rất hung dữ, có khi mình đang leo, bà ấy ở bên trên đẩy đá xuống thì rất nguy hiểm.

Nhất quyết lên cho kỳ được, các phóng viên ngỏ ý muốn nhờ người dân địa phương đưa lên nhưng ai cũng từ chối. Họ không sợ hang núi cheo leo mà sợ bị “bà điên” ném đá. Sau hết, có người mách rằng muốn lên thì chỉ có cách nhờ chị Bình – chị của chị Vui – đưa lên.

Thấy các phóng viên nhiệt tình, chị Bình đồng ý đưa mọi người lên núi tìm em gái mình.

Sau chừng nửa tiếng đồng hồ lần theo vách đá, các phóng viên cũng tới được nơi ở của “người rừng”. Cửa hang rộng khoảng hơn 1 mét, chiều cao cũng cỡ chừng đó và chiều sâu khoảng hơn 2 mét. Trong hang là một đống toàn quần áo cũ, lâu ngày không giặt nên rất hôi hám. Hai tấm chăn, có lẽ do người ta vứt đi, chị Vui nhặt nên trông rách nát nhưng được gấp lại cẩn thận, có lẽ ban đêm chị trải ra, một tấm để nằm, một tấm để đắp. Trong hang cũng có một chiếc bình nhựa cũ đựng những hạt đậu nành trương phình. Chị Bình bảo đó là loại “tương” do chị Vui tự làm để trộn cơm ăn. Phía ngoài cửa, khói bám đen một góc, đấy cũng chính là chỗ chị Vui dùng để nấu nướng…

Trong lúc mọi người đang “khám phá” thì bỗng chị Vui xuất hiện như một bóng ma ở phía bên kia tảng đá. Trông thấy người lạ, chị bưng miệng kêu rú lên rồi bắt đầu chửi và lấy đá ném: “Cút đi! Chúng mày cút đi! Cả bọn chúng mày đến phá nhà tao hả?”. Chị Bình lên tiếng: “Chị đây em ơi. Chị Bình với mấy người bạn lên thăm em đây mà. Đừng ném nữa, không ai phá nhà của em đâu…”. Nghe giọng chị Bình bấy giờ “bà điên” mới thôi không ném nữa.

Một lát sau, “bà điên” ngồi xuống mỏm đá, hai chân buông thõng và bắt đâu hát nghêu ngao. Lạ lùng là chị hát hay và thuộc nhiều bài hát. Hát chán, chị nói vọng sang với chị gái: “Chị về đi. Em không về đâu. Thần thánh chưa cho em về!”. Rồi chị lẳng lặng đứng dậy bỏ đi vào trong khe núi…

 

Tình người chị cả

Chị Bình kể: “Lâu lâu tôi lại xách gạo lên hang cho nó chứ cả nhà không ai dám lên. Nếu có nó ở đấy thì chuyện trò còn không thì cứ để ở trong hang. Có nhiều lần tôi cho nó tiền nhưng nó không lấy, nó bảo ở đây có thần thánh nuôi rồi, nó không lấy tiền làm gì. Quần áo cũng thế, thỉnh thoảng tôi cũng mua cho nó vài bộ nhưng nó không mặc, cứ cất trong hang. Nó chuyên đi nhặt nhạnh các quần áo rách ở đâu về chất đống rồi chỉ mặc những thứ rách rưới đó thôi. Nhìn em ngay cả mùa đông cũng phong phanh da thịt, tôi thương lắm nhưng không biết phải làm sao”.

Đã nhiều lần chị Bình rủ em về nhà ở nhưng chị Vui không nghe. Hễ cứ nói đến về là chị Vui nổi khùng và đuổi chị gái mình đi luôn. Sau này, biết em không thích nên chị Bình cũng không dám đề cập đến chuyện đó nữa. Chị Bình bảo nhiều lúc thương em đến phát khóc, ăn không ngon, ngủ không yên. “Những đêm mùa đông rét mướt, mình nằm chăn ấm nệm êm, cứ nghĩ đến em mà không cầm được nước mắt. Đêm hôm khuya khoắt, gió thốc thế chả biết nó có ngủ được hay không. Những hôm mưa bão, lòng tôi như lửa đốt. Số nó đúng là số trời đày” – chị Bình nói giọng buồn bã.

 

Những tên đàn ông đốn mạt

Chị Vui đã trở thành người đàn bà điên và sống ẩn mình trong hang đá, vậy mà những gã đàn ông đốn mạt vẫn “chịu khó” leo lên trên ấy hãm hiếp chị. Bởi thế trong 6 năm sống cuộc sống hang hốc, chị Vui bị mang bầu 2 lần và phải tự mình “vượt cạn” trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ thứ, suýt chết..

Lần thứ nhất vào năm 2011. Người ta cứ thấy bụng chị to dần. Nhiều lần chị Vui xuống núi đi lang thang, dân làng nhìn thấy hỏi chị có biết bố nó là ai không, chị lắc đầu bảo không biết. Chị Bình nhớ lại: “Sáng hôm đó có người gọi tôi bảo em gái chị sắp đẻ rồi. Họ thấy nó bò ở ngoài bìa rừng. Nghe thế tôi hộc tốc chạy đi tìm nhưng tìm mãi chẳng thấy đâu. Tôi nghĩ có khi người ta thấy nó sắp đẻ nên đưa giùm vào bệnh viện rồi cũng không chừng, bèn chạy đến Bệnh viện An Châu để tìm mà cũng không thấy. Tôi cùng thằng con lớn lại mò vào rừng, lùng sục đến chiều cũng không thấy. Mãi sáng hôm sau tôi mới thấy nó nằm thoi thóp ở góc rừng, mặt mũi nhợt nhạt như người sắp chết. Tôi hỏi: “Đẻ rồi à? Con để đâu? Sao hôm qua chị tìm mãi không thấy, gọi ầm ĩ mà em không lên tiếng?”. Nó nói lên tiếng để chị bắt em về dưới làng hả? Đứa con em bỏ trong rừng rồi, thần thánh đem nó về nuôi rồi. Tôi bảo nó chỉ chỗ bỏ đứa con thì nó nhất định không chỉ. Hai mẹ con tôi lại tiếp tục đi tìm nhưng không thấy. Tôi nghĩ, chắc cháu đã bị thú rừng tha đi mất rồi.

Chỉ một thời gian ngắn sau, cái bụng chị Vui lại lùm lùm. Đến khi chị Vui sắp đến ngày sinh, chị Bình đang làm công nhân mỏ than ở Quảng Ninh. Nghe người nhà gọi điện thoại báo tin em gái sắp sinh, chị bèn xin nghỉ dài hạn để về nhà “bám sát” em, không để cho em vứt con thêm một lần nữa. “Lúc lên trên núi thấy cái bụng nó to vượt mặt, nước ối chảy đầy chân, tôi bảo vào trong hang nằm đi, em sắp sinh rồi đấy. Nó cãi không phải vậy đâu, em mới đi tắm nên ướt đấy!

Dù em đã nói như thế nhưng chị Bình vẫn luôn túc trực bên cạnh em trong cái hang nơi chị Vui sinh sống. Đỡ đẻ xong cho em mẹ tròn con vuông, chị đem ngay đứa trẻ về nhà chăm sóc. Thằng bé con chị Vui do đó may mắn sống sót và được làm người. Nó sống với chị Bình, còn người mẹ điên tiếp tục sống ở nơi núi cao, rừng thẳm…

Nhung noi truan chuyen - H.5

Nỗi lo lại bị lạm dụng và cuộc đời chưa biết về đâu

Vừa ngồi tâm sự với khách, chị Bình vừa lau nước mắt lăn trên gò má vì xót thương cho số phận của đứa em gái. Chị nói: “Gia đình cũng đã từng đưa Vui đi bệnh viện để điều trị tâm thần nhưng nó lại bỏ trốn. Còn bây giờ thì không ai đến gần nó được nữa, vì cứ trông thấy người là nó lại trốn mất”. Chỉ có chị Bình mới tiếp cận được người em gái của mình.

Từ ngày em gái sống ở hang đá, đã nhiều lần chị Bình cố thuyết phục em về ở cùng nhưng cứ nghe thế là Vui lại đuổi chị đi và còn nói sẽ không nhìn mặt chị nữa, chị Bình đành chịu. Dù nghèo, chỉ làm công nhân mỏ than nhưng chị vẫn cố đùm bọc đứa cháu tội nghiệp. Đứa bé khá bụ bẫm, chị Bình đặt tên cháu là La Quốc Việt, nhiều người đến xin về nuôi nhưng chị nhất định không cho. Hiện cháu được hưởng một khoản trợ cấp nhỏ của chính quyền dành cho mẹ của cháu. Chị Bình tâm sự: “Cứ mỗi lần nghĩ tới em gái phải sống trong hang đá lạnh lẽo, nhất là vào mùa đông, tôi rất xót xa. Ở trên ấy nó đi bắt ốc lá trên cây hay hái rau rừng về nấu ăn. Cái cần là gạo, muối, nước mắm, thỉnh thoảng tôi vẫn đem lên cho nó”.

Theo ông Tăng Tiến Thành – trường thôn Nhân Định – chính quyền xã đã nhiều lần tổ chức lấp hang đá, không cho người đàn bà đó cư trú trong hang nữa, vì sợ lỡ chị chết ở đấy thì có ảnh hưởng xấu tới địa phương. Nhưng người đàn bà ấy vẫn quanh quẩn ở đó hoặc đi đâu một thời gian rồi lại về khu này, chẳng ai biết rõ chị sinh sống ở chỗ nào.

Nói về giải pháp để giúp người đàn bà điên này tránh việc bị lạm dụng dẫn tới sinh đẻ liên tiếp, ông Lê Văn Hồng – phó chủ tịch xã Cẩm Đàn – cho biết: “Xã cũng đã tìm biện pháp giải quyết, đưa chị ấy đi chữa bệnh. Nhưng không thể tiếp xúc được với chị ấy nên cũng đành chịu. Bây giờ, xã cũng chỉ biết trợ cấp cho chị ấy để chị Bình – người nuôi cháu bé – có điều kiện nuôi nấng chăm sóc cháu”.

Cái quan niệm hẹp hòi: “Làm chị thì phải lấy chồng trước em” chắc nước ngoài không có như vậy.

  1. Tình “chị” duyên “em”, cả hai đều buồn

Khi chị Phan Thị Hòa sinh đứa con thứ 3, em gái của chị là Phan Thị Viên được bố mẹ cho đi xe đò từ Thừa Thiên-Huế ra Vinh (Nghệ An) chăm nom, giúp đỡ chị gái. Trong thời gian sống chung một nhà, Viên bỗng dưng có tình cảm với anh rể. Khi bị phát hiện thì oái oăm là Viên đã có bầu và nhất định muốn lấy anh rể nên không chịu phá thai.

 

Từ mối tình ngang trái

Ở thị xã Cửa Lò (Nghệ An), câu chuyện về người đàn ông lấy cả hai chị em gái làm vợ được khá nhiều người biết. Bởi vì dân chúng bàn tán nên không khó để các phóng viên từ Huế ra tìm được ngôi nhà của ông Hồ Chí Hiếu. Bên cạnh người “vợ nhỏ” bế đứa con gái mới sinh, ông Hiếu và người vợ này đã kể cho các phóng viên nghe câu chuyện tình khá đặc biệt của họ.

Nhung noi truan chuyen - H.6

Ông Hồ Chí Hiếu (57 tuổi), quê ở xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Sinh ra trong một gia đình đông con nên ông Hiếu không có điều kiện để học hành, phát huy năng lực dù ông tự nhận mình là người có tài. Học đến lớp 6 thì cậu bé tự động nghỉ học, ở nhà giúp bố mẹ làm ruộng. Năm 1979, 21 tuổi, khi đã trở thành một thanh niên, cậu Hiếu xin làm công nhân trong ngành cơ khí. Trong thời gian làm việc, cậu Hiếu quen và đem lòng yêu thương cô gái cùng quê, cùng làm trong ngành tên là Phan Thị Hòa (lớn hơn Hiếu 1 tuổi). Năm sau,1980, Hiếu 22 tuổi, Hòa 23 tuổi, họ làm đám cưới rồi xin nghỉ, cùng nhau ra Vinh thuê nhà, làm ăn sinh sống. Hiếu bán kẹo kéo còn chị Hòa thì làm bánh bao, cuộc sống của họ dần dần ổn định. Họ sinh 2 đứa con, một trai, một gái.

Năm 1989, chị Hòa sinh đứa thứ 3. Trong thời gian này, họ đã khấm khá, thường bán bỏ mối, chị Hòa lại có con nhỏ nên rất bận rộn. Bố mẹ chị Hòa ở Phú Vang thương con nên cho em gái chị Hòa là Phan Thị Viên, kém chị Hòa hàng chục tuổi (lúc ấy chị Hòa 31 tuổi, còn cô Viên 20 tuổi) ra Vinh để giúp đỡ chị.

Trong thời gian ở chung với nhau, cô gái mới ngoài 20 tuổi bất ngờ có tình cảm với ông anh rể hơn 30 tuổi. Điều đặc biệt là khi biết cô em vợ thích mình, ông Hiếu cũng không phản ứng gì, thậm chí sau đó còn lén lút qua lại với Viên. Dù biết rằng đó là mối quan hệ trái khoáy nhưng như bị ma dẫn lối, quỷ đưa đương, hai người vẫn quấn quýt lấy nhau.

Đến năm 1994, sau gần 5 năm lén lút qua lại, Viên 25 tuổi, chuyện tình của hai người vỡ lỡ nhưng lúc đó Viên đã mang bầu gần 3 tháng. Gia đình hai bên phẫn nộ, bố mẹ cô vào tận nơi bắt phải phá thai song cô nói cô chỉ yêu và muốn lấy anh rể mà thôi.

Cô Viên tâm sự: “Thời điểm đó người ta khuyên tôi nên lập gia đình với người khác để anh rể và chị gái được yên. Tôi biết làm như vậy mới phải nhưng tình cảm của tôi lại không theo được. Tôi đã yêu anh rể, dù đó là tình yêu trái khoáy song rất mãnh liệt, tôi không thể nào rời xa anh được. Tôi chấp nhận mọi thử thách để được sống bên anh. Ngày ấy tôi đã nghĩ rằng trong tình trạng xấu nhất, tôi sẵn sàng tự tử để chứng minh tình yêu của tôi với anh”.

Lau những giọt nước mắt cho “vợ nhỏ”, ông Hiếu cho biết: “Thấy Viên bị cả hai bên gia đình đối xử nghiêm ngặt tôi cũng đau xót lắm. Tôi muốn cô ấy phá thai rồi tìm hạnh phúc riêng cho mình nhưng cô ấy nhất định không chịu. Trước tình yêu của Viên tôi không thể làm ngơ được. Tôi đã đứng ra bảo vệ và lo lắng cho cuộc sống của cô ấy. Thực tế, một thời gian sau đó tôi nhận ra rằng tôi cũng yêu em vợ rất nhiều và không thể sống thiếu cô ấy”.

Vì tình yêu trái khoáy dành cho anh rể, Viên đã khước từ rất nhiều tình cảm của người khác. Ông Hiếu cho biết, hồi mới từ Huế ra Vinh, Viên có rất nhiều người để ý yêu thương nhưng cô không nhận lời ai. Ngay cả khi cô đã sinh con nhiều người cũng vẫn muốn cưới cô làm vợ song cô đều từ chối. Tình cảm chân thành của Viên dành cho anh rể khiến họ hàng hai bên rồi cũng nguôi ngoai, không ai nói đến nữa.

 

Nỗi buồn “ tình chị duyên em”

Năm 1995, để tránh sự dị nghị của hàng xóm láng giềng – nhiều khi họ nói thẳng vào mặt – ông Hiếu thu xếp đưa cả hai vợ xuống thị xã Cửa Lò sinh sống.

Lúc này, ở thị xã Cửa Lò gần như người ta chưa biết tới món bánh bèo. Ông Hiếu đem nghề làm bánh bèo truyền thống của xứ Huế ra cùng hai bà vợ mở quán kinh doanh hết sức phát đạt. Khi đã giàu có, ông mua đất, xây dựng cho mỗi vợ một cơ ngơi riêng còn ông thì …xoay vòng, một tháng sống với vợ cả, một tháng sống với vợ nhỏ, và “bí quyết ” của ông là: “Ở gia đình nào cũng vậy, tôi luôn hoàn thành bổn phận của người trụ cột. Tôi không thiên vị ai cả mà chỉ muốn làm cho cả hai vợ và các con tôi được hạnh phúc”.

Được biết, điều vui mừng đối với ông Hiếu là con cái của cả hai bà vợ đều hòa thuận, thường qua lại, thăm hỏi lẫn nhau. Hiện nay, bà cả có 5 người con, có người đã lập gia đình và ông bà đã có cháu nội. Vợ nhỏ của ông có 2 con, cháu lớn mới thi đậu vào đại học.

Nhưng khi nói về mối quan hệ giữa bà Hòa và cô Viên, ông Hiếu trầm ngâm không nói gì. Theo các phóng viên được biết, từ sau ngày bị cô Viên “cướp chồng”, bà Hòa từ mặt, không thèm tiếp xúc với em gái nữa. Dù sống gần nhau nhưng khi gặp cô Viên, bà đều tìm cách tránh. Trong những ngày giỗ chạp, bà làm đúng bổn phận của người chủ gia đình, nhưng trò chuyện, tiếp xúc với em gái thì tuyệt đối không. Đó cũng là nỗi buồn duy nhất còn đọng lại sau câu chuyện cách đây đã gần 20 năm đối với cả hai người.

Cô Viên nói: “Tôi biết tôi sai, muốn thành thật xin lỗi nhưng chị Hòa không cho cơ hội. Tôi rất buồn, nhiều đêm không ngủ được bởi lỗi lầm năm xưa vẫn còn ám ảnh”.

Ngồi bên cạnh vợ, ông Hiếu tiếp lời: “Vợ cả của tôi sống rất tình cảm, yêu thương con gái của Viên thậm chí còn hơn cả con ruột của bà ấy nữa. Nhưng tiếp xúc, trò chuyện với Viên thì không bao giờ. Tôi đoán Hòa có nỗi khổ tâm riêng song cô ấy rất kín đáo, tôi không hiểu được”.

Ước nguyện của người chồng “mía ngon đánh cả cụm”

Ông Hiếu tâm sự với các phóng viên: “Tôi bị bệnh tiểu đường rất nặng, sống nhiều lắm cũng chỉ ngoài 60 tuổi là cùng. Cuộc sống không còn dài, tôi chỉ mong sao Hòa tha thứ cho Viên để chị em hàn gắn, cuộc sống gia đình hai bên được hạnh phúc. Đó là ước nguyện lớn nhất của tôi. Khi điều đó thành sự thật, tôi có chết cũng có thể yên tâm nhắm mắt”.

Kết luận của Đoàn Dự

Ngày trước tôi có coi phim “Và Thượng Đế Tạo Ra Người Đàn Bà” (“Et Dieu Crea La Femme”; tiếng Anh: “And God Created Woman”). Phim này của Pháp, do Brigitte Bardot đóng, Roger Vadim đạo diễn. Cô gái đó mồ côi cha mẹ, ít học nhưng giàu tình cảm và có tài nhảy múa, ca hát kiếm ăn tại các quán rượu bình dân. Cô ở cùng xóm và thầm yêu chàng thanh niên cũng nghèo kia bởi vì anh ta đẹp trai, hoạt bát, hay giúp đỡ mình, sẵn sàng nhào vô đánh nhau với bọn du đãng khi chúng muốn ăn hiếp cô. Nhưng hoàn cảnh đưa đẩy khiến cô gặp gỡ và lấy người anh của chàng thanh niên mặc dầu cô biết chàng cũng thầm yêu mình. Có lúc bất ngờ thất vọng, buồn bực về cuộc hôn nhân không được như ý muốn, cô gái tháo chiếc xuồng đang cột trên bến của chồng, chèo ra giữa sông với ý nghĩ có chết cũng được. Gió to sóng lớn, cô không biết điều khiển, chiếc xuồng tròng trành sắp lật. Người em chồng vừa về tới nơi, kinh hoảng tháo vội đôi giầy, nhảy đại xuống sông bơi ra cứu ứng. Cô gái thoát chết, gục đầu vào vai chàng mà khóc. Giữa cảnh thiên nhiên trong lòng sông rộng vẫn còn mưa gió không một bóng người, dục vọng của họ nổi lên, họ ôm chầm lầy nhau, hôn nhau đắm đuối và suýt đi đến chỗ lầm lạc. Nhưng, Thượng đế tạo nên người đàn bà và cũng tạo cho họ lý trí. Cô chợt tỉnh, “ra lệnh” cho người em chồng chèo thuyền vào bờ. Ngay hôm sau cô bàn với chồng thu xếp đi xa kiếm ăn, từ đấy cô tránh không gặp lại người em chồng nữa và cuốn phim đến đó kết thúc.

Ô hay, người Tây phương họ làm phim sao lại đạo lý đến thế trong khi người Việt Nam thì… lung tung beng, anh rể, em vợ, thiệt, hết chỗ nói!

Đoàn Dự ghi chép

Bộ sưu tập | Bài này đã được đăng trong Tap but và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s