NHÀ THƠ THANH TÂM TUYỀN

thanh-tc3a2m-tuye1bb81nTHANH TÂM TUYỀN, NHÀ THƠ TIÊN PHONG

Ngự Thuyết

TTT tên thật là Dzư Văn Tâm, sinh ngày 13/3/1936 tại Vinh, Nghệ An, viết văn, làm thơ, thỉnh thoảng viết về phê bình, và lý luận văn học khi còn rất trẻ. Tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc (TKCCĐ), xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn khi TTT mới 20 tuổi. Tám năm sau, năm 1964, Liên, Đêm, Mặt Trời Tìm Thấy (LĐMTTT) ra đời. Theo lệnh động viên, ông nhập ngũ năm 1962, giải ngũ năm 1966. Năm 1968 tình hình chiến sự căng thẳng, ông tái ngũ và phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho đến khi Miền Nam thất thủ năm 1975. Ông ở tù bảy năm dưới chế độ Cộng Sản. Năm 1990, theo diện HO, ông sang định cư tại Hoa Kỳ, cho in tập thơ cuối cùng, Thơ Ở Đâu Xa (TỞĐX), và qua đời ngày 22/3/2006 tại Minnesota, Hoa Kỳ.

Hôm nay tôi chỉ đề cập đến lãnh vực sở trường và độc đáo nhất của ông, đó là thơ.

Có người cho rằng Văn Học Miền Nam đột ngột chết, bị bức tử mà chết sau tháng 4/75. Tôi không đồng ý. Một nền Văn Học rực rỡ như thế không thể nào mai một, nó đã được kế tục và phát triển. Bằng chứng là trước đây và nhất là hôm nay, nền Văn Học ấy đã và đang được vinh danh. Cũng vì thế, ngoài phần trình bày Thơ TTT trước năm 1975 như đòi hỏi của cuộc Hội Thảo, tôi xin trích dẫn thêm một bài thơ trong tập TỞĐX in năm 1990 ở tại Mỹ.

Trước hết, tôi xin giới thuyết hai chữ “tiên phong” trong bối cảnh Văn Học Việt Nam. Nó không có nghĩa là “avant-garde” như trong thuật ngữ tiếng Pháp, mà là “xông xáo, đi trước” so với tính cách “dè dặt, thủ cựu.”

KTQV, từ năm 1954 đến năm 1975, chỉ 21 năm, văn học Miền Nam phát triển rầm rộ, nhanh chóng, nhất là thơ. Ngoài những nhà thơ đã nổi tiếng từ thời tiền chiến như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, rất nhiều nhà thơ lỗi lạc khác chen nhau xuất hiện như Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Nhã Ca, Trần Dạ Từ v.v…, trong đó một khuôn mặt độc đáo nhất, mạnh mẽ nhất, táo bạo nhất, cách tân nhất, đó là TTT.

Thử nhớ lại lúc TKCCĐ ra đời cách đây gần 60 năm. Đó là một chấn động lớn trong sinh hoạt văn học Miền Nam, nó tạo nên những tranh luận sôi nổi. Người thì cho rằng TTT điên rồ viết những câu thơ vô nghĩa, hoặc cố tình lập dị để được chú ý; kẻ thì ca ngợi trên tờ Sáng Tạo.

Thơ của Lê Thánh Tông (1442-1497) viết cách đây 500 năm “Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương/ Miếu ai như miếu vợ chàng Trương”(Đề Miếu Bà Trương) so với thơ tự do của Trần Dần bây giờ “Dừng chân trong mưa bay/Ướt đầm mái tóc/Em em nhìn đi đâu/Môi em đôi mắt” (Không Nói), ta không thấy bỡ ngỡ. Xưa và nay đều quen thuộc, đều được hiểu trọn vẹn.

Thế Thơ TTT? Nếu lấy bài Chim làm ví dụ, thì quả nó hoàn toàn xa lạ. Nó không phải là một tiếp nối quá khứ, mà là một đột phá tận cùng, một đoạn tuyệt với truyền thống. Xin trích đoạn đầu của bài thơ ấy:

“Đêm giao thừa thế kỷ mưa rơi sao

mái sáng đường nằm chiêm bao biển giận dỗi

bàn tay mây mắt trăng môi nhiệt đới

chiến tranh còn những khoảng đất hoang

cửa sổ đập lên cao cánh chim én mùa xuân

ôm vào lòng bãi cỏ vườn hoa bầy sao rụng” …

Nhưng Thơ TTT có phải luôn luôn “xa lạ” như thế hay không? Câu trả lời là không. Trái lại là đằng khác. Có hai lý do chính.

Thứ nhất, có nhiều đoạn, nhiều bài vô cùng giản dị, không chút màu mè, không tô điểm, không tu từ, không thể nào đơn giản hơn nữa, nằm rải rác trong cả hai tập thơ đầu:“Nếu đã đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng hay sang Bắc Ninh/Nếu đã đi từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long hay lên Thủ Dầu Một” (Bao Giờ)… Hay: “Anh biết vì sao cộng sản thủ tiêu Khái Hưng/mỗi lần hoàng hôn tôi bước cùng đám đông/lòng khẩn cầu cách mạng”(Trưởng Thành). Một số bài trọn vẹn cũng thế, rất đơn giản, như Bằng Hữu, Một Lần Nữa … “Bình dị, đơn sơ” và “phức tạp, khó hiểu” chen lẫn nhau là một trong những phong cách của Thơ TTT. Tuy nhiên, ngay cả với những bài bình dị nhất, Thơ TTT vẫn khác hẳn thơ của lớp người đi trước hoặc đồng thời.

Thứ hai, TTT không đả phá vần điệu. Nếu Thơ Lục Bát luôn luôn gieo vần âm bằng, thơ 7 chữ, Thơ Mới v.v…cũng thường gieo vần âm bằng, thì trong Thơ TTT vần và nhịp điệu hết sức đa dạng, sáng tạo, kín đáo, bằng trắc đều có, và nhiều khi những chữ vần được đặt cách xa nhau. Vần âm bằng rất nhiều, âm trắc hoặc bằng trắc xen kẽ cũng thường gặp, nhưng rất mới lạ, TTT còn cho bằng vần với trắc như trong bài Tình Cờ chẳng hạn:

Hai người yêu nhau rất tình cờ

như trên cùng một toa xe lửa

tàu chạy qua cầu nghe tiếng sắt và tiếng nước trôi mau

nhìn về đốm lửa yếu thành phố trên sông

thành phố trẻ thơ tiêu điều ru dưới những bầu trời xấu …

Lại có loại vần của nhịp điệu, của hình ảnh, của ý tưởng trong những bài thơ rất dài như Sầu Khúc, Đêm, Bài Ca Ngợi Tình Yêu, Mặt Trời Tìm Thấy.

Cũng có nhiều đoạn thơ hoàn toàn không vần:

Khi mặt trời vừa thức

Đòi gặp mùa xuân

Cho làn mi lá ngủ

Cho khoé mắt biển sâu

Cho đồi hoa bát ngát…

(Bài Thơ Của Tháng Giêng)

hoặc thơ văn xuôi:

“Hồn nhiên tôi trở thành thi sĩ ca dao nhẹ những nhát cuốc đầu xới lần áo mỏng ruộng đồng.

Những chuyến đi xa theo mưa về ngủ mái rạ. Đem hiền lành, có lẽ từ một cửa bể bến sông quán rượu. Những người bạn hứng mưa vào lòng tay, gịot mưa đẹp như mắt ngủ, rất xa không hề cách. Tôi sẽ đưa em về ngủ bên sông, tâm hồn là cánh đồng chưa khai phá. Tôi sẽ mời anh về nghe mưa trên vừng trán vô tư, giác quan mở từng ngõ lạ xuống linh hồn. Chúng ta ngủ ngoài mưa như mơ ngủ.” …

(Mưa Ngủ)

KTQV, khác hẳn hầu hết những nhà thơ trước ông rất hạn chế về đề tài, thơ TTT mở rộng ra nhiều lãnh vực của cuộc sống. Ông đề cập đến tình yêu nam nữ; tình bằng hữu; tình yêu quê hương, đất nước; những khát vọng về tự do; những quan tâm đến cách mạng, đến tình hình ở nhiều nơi trên thế giới, đến những thành phố còn sống trong ngục tù Cộng Sản; những ưu tư về thân phận con người, những băn khoăn siêu hình; những truy lùng tiềm thức, vô thức.

Một điều đáng chú ý là TTT không tả cảnh. Thiên nhiên chỉ được nhắc đến rất vắn tắt khi cần minh họa cho những dòng ý thức. Nói cách khác, con người với tư duy của hắn được chú ý hơn ngoại cảnh. Mưa trong “Mưa Ngủ” vừa được trích dẫn đã biến thành con người rồi, nó về ngủ mái rạ, nó về rơi trên vừng trán vô tư. Điều này làm tôi nhớ trong cuốn The Brothers Karamazov của Dostoevksy mà TTT rất mến, gần 1000 trang mà chỉ có mấy dòng nhắc nhở đến thiên nhiên, thời tiết.

Hơn một lần TTT bày tỏ quan điểm của mình về thơ. Trong Định Nghĩa Một Bài Thơ Hay, ông viết: “một câu thơ hay tự nhiên như lời nói”, hay trong Một Bài Thơ:“không đa đa siêu thực/thẳng thắn/khởi từ ca dao sang tự do.” Tuy nhiên ngay khổ đầu của bài Chim được trích dẫn bên trên lại khiến ta nghĩ đến những hình ảnh đột ngột xuất hiện đặt bên nhau không theo một thứ tự logic nào cả, những khơi dậy của tiềm thức, vô thức, những giấc mơ, vân vân, tức là những đặc trưng được André Breton trình bày trong Tuyên Ngôn của Trường Phái Siêu Thực (Manifestes du surréalisme) ra đời năm 1924. Đúng ra Bài Chim không xa Siêu Thực, không gần Ca Dao như tác giả của nó mong muốn. Có thể nói rằng Thơ TTT là phối hợp của Truyền Thống Dân Tộc (Ca Dao) với Chủ Nghĩa Hiện Đại Phương Tây.

Thời còn rất trẻ, dưới 20 tuổi, ông viết: “Tôi không ca ngợi tình yêu, tôi nguyền rủa tình yêu (Nổi buồn trong thơ hôm nay 1955). Đấy chẳng qua là cái sôi nổi, bồng bột của tuổi trẻ. Thật ra TTT từng viết một bài thơ tình rất dài, rất hay, một thứ tình yêu không nước mắt, không than thở không bi lụy, nhưng đầy thương nhớ, trăn trở. Yêu nhau như “nụ hôn đầu” thì tiếp theo ngay đó là “ôm mái tóc lang thang”. Xin trích dẫn hai đoạn trong bài ấy, Liên Những Bài Thơ Tình Thời Chia Cách trong TKCCĐ:

“Sự vắng mặt của em và bãi biển mùa đông

thành phố đau từ mỗi cột đèn

mỗi bực thềm cửa đóng

em đi không nón không áo choàng

mưa tầm tã

những cửa sổ đêm muốn hé ra

nổi loạn

và mắt em mặt trời cỏ hoa với môi anh đằm thắm

và rực rỡ nhớ thương

Nét cong môi hồng mắt tình cờ

ngực hoa yếu đuối

những miền không gian được gọi qua

tình yêu không thẹn thùng

đâu phải một thứ mưa ô buy vào thành phố

năm cửa ô hồi sinh trên xác năm cửa tù

mưa nắng cùng rủ nhau xuống Sinh Từ ngõ Hội Vũ

bao nhiêu đường tình tự ga hàng cỏ

nụ hôn đầu ôm mái tóc lang thang” …

Ở tập thơ thứ hai LĐMTTT tình yêu vẫn còn, khá tươi sáng, trong Bài Ca Ngợi Tình Yêu:

Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát

sớm mai khua thức nhiều nhớ thương

em là cánh hoa là khói sóng

đêm màu hồng

Tuy nhiên thường xuyên hơn, kể cả trong tình yêu, là những ám ảnh, trăn trở, những độc thoại nội tâm ảo não, những tiếng nói trong cơn mê:

“Anh xé tóc em cùng những cành lá chết

Mùa thu

Ghi thương tích nơi cườm tay

Khóa chặt

Anh xô ngã em từ chóp đỉnh hạnh phúc

Khuôn mặt vỡ tan

Như cẩm thạch

Như nước mắt

Như muôn đời

Không hối hận

Con đường anh phải đi một mình

Trần truồng dã thú

Đón anh ở cuối đường

Hố sâu vĩnh viễn

Không có em

“Những bài thơ tình không viết được

Những hồn ma hoang đầu ngọn cây

Xác chết rữa nát

Trong kẹt rừng khô

Đêm thức dậy mở mắt mắt đã mù

Hai con sâu nằm trên chân mày đang khoét lỗ

Con quạ hôi hám mở lồng ngực bay lên

Mỏ ngậm quả tim đựng hình ảnh đời người

Đời người thản nhiên như tên gọi” …

(Đêm)

hoặc những khắc khoải về thân phận con người tha hóa, chỉ mong còn chút tự do:

“Trong đầu là hư vô

Trong mắt là hoang đảo

Trên môi là thần chú

Trên tay là trống không

Cả đời là sa mạc

Cả tôi là tự do”…

(Đêm)

Nhưng có tự do hay không, hay là đi đâu nhà tù cũng đi theo vây hãm:

“Phiêu lưu mãi là một nhà tù

Dãy tường câm chuyển động

Trên một triền vực sâu”

(Sầu Khúc)

Nói chung, Thơ TTT không dễ đọc. Trước hết, nếu thơ của ta từ xưa cho đến thời Thơ Mới và cả giai đoạn 1945 – 1954 là tiếng nói của tình cảm, của biểu đạt, nhằm gây xúc động – Xuân Diệu xôn xao trước thời gian: “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ!” (Giục Giã), Huy Cận bâng khuâng trước không gian: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” (Tràng Giang) – thì thơ trong giai đoạn 1954-1975, đặc biệt Thơ TTT , là những dòng ý thức, nhận thức, nhằm đặt vấn đề. Cũng không còn cả cái “Nao nao dòng nước uốn quanh” như trong Kiều mà là những thao thức, trăn trở “dù tôi đang đứng bên bờ sông, nước đen sâu thao thức”.

Bài Phục Sinh, bài thơ đầu tiên trong TKCCĐ là một ví dụ của những dòng ý thức, của những tra vấn, trăn trở về thân phận con người. Ta thử xem khổ thứ nhất:

Tôi buồn khóc như buồn nôn

ngoài phố

nắng thủy tinh

tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ

thanh tâm tuyền

buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

tôi xin một chỗ quỳ thầm kín

cho đứa trẻ linh hồn

sợ chó dữ

con chó đói không màu

tôi buồn chết như buồn ngủ

dù tôi đang đứng bên bờ sông

nước đen sâu thao thức

Ba chữ đầu của bài thơ đầu trong tập thơ đầu của TTT xuất hiện mới lạ: “Tôi buồn khóc”. Xưa nay ta chỉ nói buồn cười, buồn ngủ, buồn mửa, vân vân. Và ta sẽ gặp trong hầu hết Thơ TTT rất nhiều sáng tạo chữ nghĩa như thế: hy vọng thổn thức, lòng tin phủ tro, quá khứ đăm đăm, buổi chiều vội vã đêm, mây đục đậu lên bờ cửa sổ, bước ai thánh thót, ngực gọi đêm về, mắt kín mưa đêm, trên chúm môi lá biếc/ những chòm hôn vội vàng, v.v. Nhiều vô số kể. Chữ nghĩa mới lạ là một trong những đặc điểm nổi bật của thơ ông.

Xin trở lại với bài Phục Sinh. Câu đầu tiên đầy ray rức được nối tiếp bằng hai câu thật ngắn, thật đột ngột, ngoài phố/nắng thủy tinh, tạo nên sự đối nghịch lớn – tôi trong căn gác cô đơn khắc khoải, muốn tự hủy, tên tôi cũng sẽ chỉ còn là một nỗi nhớ, trong khi ngoài kia cuộc đời vẫn còn đó trong veo nắng.

Câu thứ sáu lại là chuyển biến mới mang nhiều hình ảnh, ẩn dụ, đa tầng, đa nghĩa:

buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường

Sao trên trời là tướng tinh của con người, và một ngôi sao tắt có nghĩa là một người sắp qua đời chăng? Vâng, chiều nay có một ngôi sao vỡ, giáo đường gióng lên tiếng chuông cầu hồn. Mà câu thơ ấy cũng gợi lên hình ảnh chiếc linh hồn nhỏ chạm vào chuông giáo đường làm tóe ra những hình sao vỡ. Cho nên “đứa trẻ linh hồn” vội tìm chỗ ẩn nấp trốn tránh con chó dữ trong tôi đóng vai bà già đánh lừa em bé quàng khăn đỏ mà nhà thơ sẽ nhắc lại trong đoạn kế tiếp.

Trong suốt hai tập thơ TKCCĐ, LĐMTTT, và khá nhiều bài thơ khác đăng trên các báo, ta thường gặp những cách phô diễn đầy ẩn dụ và tra vấn như trên. Xin trích thêm vài câu trong bài thơ văn xuôi Khúc Tháng Chạp viết vào cuối năm 1969:

“Nội không quạnh quẽ như ngàn cõi chiêm bao vượt. Đập vỗ, đập vỗ hoài con mắt buốt, con mắt vi ty rụng trụi lớp mi che, không động thức. Con mắt khờ câm căng chống. Tưởng dáng mùa hè chín ối. Tưởng nét mùa thu lung linh. Đã bay qua, bay qua nghìn mệt mỏi. Như điệu ngân hụt hẫng”…

Thơ TTT, do đó, đòi hỏi sự tham gia của người đọc. Sự tham gia ấy sẽ phát hiện ý nghĩa và giá trị của văn bản. Người đọc đến từ những nguồn gốc khác nhau, trình độ khác nhau, cảm thụ khác nhau, nhận thức khác nhau, do đó phát hiện cũng khác nhau.

Chẳng hạn trong bài Dạ Khúc khá đơn sơ, người thì cho rằng hai câu đầu, Anh sợ những cột đèn đổ xuống/Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta, là vớ vẩn, kẻ thì thích lối ẩn dụ ấy đã nói lên được một nhân sinh quan không bình yên trong một thế giới đổ vỡ. Franz Kafka cũng đã từng “vớ vẩn” hơn để nhân vật Gregor Samsa hóa thân thành con sâu gớm ghiếc (Metamorphosis) sau một đêm nằm ngủ đầy mộng mị. Hoặc với bốn câu thơ dưới đây, có người bảo thiếu trau chuốt, kẻ khác lại cho rằng viết như thế mới gây ấn tượng mạnh:

Sao tuổi trẻ quá buồn

như con mắt giận dữ

Sao tuổi trẻ quá buồn

như bàn ghế không bày

Nhưng có lẽ ai cũng phải thừa nhận rằng “Dạ Khúc” là tiếng nói của tuổi trẻ cô đơn, bơ vơ, buồn chán, nổi loạn, tuổi trẻ của ai mà chả thế, trong một quê hương tương tàn, một đất nước tan tác!

Tôi xin đọc nguyên bài Dạ Khúc[1].

Đối với bài Chim mà ta đã trích dẫn trên chẳng hạn, việc tham gia của người đọc lại không dễ. Chữ nghĩa tinh khôi, hình ảnh dồn dập, lung linh, đa dạng, nhạc điệu phong phú, nhưng bài thơ muốn nói gì? Kiếp người ví như kiếp chim chăng, con người trong cuộc lữ có khác gì cánh én cô đơn bay mải miết trong thời gian và không gian, thời gian là đêm giao thừa của thế kỷ, không gian là vô vàn hình ảnh, sự kiện, xuất hiện ngổn ngang, là bão tố, là “mưa rơi sao”. Và kết cục, như được mô tả trong dòng cuối cùng của bài thơ, “chim bay vào trận mưa sao”.

Về sau, khi cuộc chiến khốc liệt vượt lên trên mọi nỗi băn khoăn, khắc khoải của thời đại, Thơ TTT lại chuyển biến:

Ta nhớ sau lưng núi thanh thản

Biếc mây như lệ của đêm điên

Ta nhớ rằng ta không nhớ nữa

Như cây trơ trụi mùa hưu miên

Như phiến gỗ nặng thả theo nước

Bập bềnh trôi nổi ta về xuôi

Như lau lách mọc chen bờ bãi

Phất phơ tóc bạc lả theo trời

(Đỉnh Non Xa, Giai PhẩmVăn 9/1974)

Phải chăng TTT đang “về xuôi”, về với các thể thơ dễ dãi đã có, về với những sôi nổi của tuổi trẻ đang lắng dần, những giấc mơ đang tan vỡ, về với đám đông lau lách dưới kia, khi mái tóc không còn xanh, khi “tóc bạc lả theo trời”. Nhưng dù với thể thơ nào, TTT vẫn tỏ ra có biệt tài. Xin dẫn một đoạn ngắn của bài Ngôi Nhà Đỏ, Trăng Hồng thật dài làm ví dụ, trong đó những chấm câu bất ngờ, những ngôn từ quấy động, vần thì âm trắc, hình ảnh đa dạng, dữ dội, ý tứ cuồng nộ, khiến lời thơ trở nên dồn dập, khúc khuỷu, gắt gỏng:

Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng khỏa.

Trời sương lam. Núi ngây rừng gió lạ.

Cây ngà say. Đêm heo hút lặng khơi.

Mùa trở gió. Rười rượi buồn cỏ lá.

Mùa ngã độc. Nhà nín hơi lẩn lút

Đồi sượng sần. Cây lìa cành, lá trút.

Đừng ngoái nhìn. Phơ phất khói sương thu.

Đừng ngoái nhìn. Trăng khỏa thân xanh mướt

Sau Tháng tư 1975, trong nhà tù Cộng Sản, TTT vẫn làm thơ. Khi định cư tại Mỹ, ông gom góp những bài thơ làm trong tù in thành tập thơ cuối cùng, Thơ Ở Đâu Xa rất giá trị.

Xin trích trong tập thơ cuối cùng ấy bài chiều cuối năm qua xóm nghèo viết vào năm 1978 mà bất cứ một ai từng ở tù cải tạo của Cộng Sản đều tìm thấy mình trong đó. Bài thơ hắt hiu, chữ nghĩa buồn tênh từ đầu đến cuối như một bức tranh sử dụng toàn gam màu lạnh mà dưới lớp băng giá đó âm ỉ vài tia lửa ấm, vài giao thoa của đời sống tối tăm. Đây một chút nhớ, đâu lũ trẻ co ro đứng trông tù qua thôn; kia một chút thương, nhà ai lạnh lẽo khiến lòng ta ảm đạm. Vâng, lũ trẻ không theo lời xúi giục của người lớn ném đá vào đoàn tù đi qua như đã xẩy ra, mà đứng co ro nhìn; đoàn tù thì nhớ lũ trẻ cũng là nhớ lũ con của mình không biết hiện ở phương trời nào. Và nhà ai năm hết Tết đến tuy ở bên ngoài nhà tù cũng thê lương tăm tối không đèn lửa chẳng khác gì bên trong trại tù. Đây không phải so sánh để tự an ủi, mà là thương cảm. Bài thơ làm theo lối 7 chữ 8 câu, cách tân, chia thành hai đoạn:

“Mưa bay lất phất gió căm căm

Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm

Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc

Co ro đứng xem tù qua thôn

Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng

Về trong xây xẩm buổi tàn đông

Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

Ảm đạm lòng ta chiều cuối năm”

KTQV, những đóng góp của TTT cho văn học Việt Nam thật lớn lao. Ông là nhà thơ tiên phong mở ra những chân trời mới lạ cho thơ Việt Nam, mang lại nhiều khám phá độc đáo, và đạt được những thành quả ít ai sánh kịp. Cho đến nay, nói như Báo Mạng Tiền Vệ khi ông vừa mới qua đời (22-3-2006), Thơ TTT “vẫn còn là một nguồn cảm hứng lớn đối với nhiều nhà thơ có khát vọng đổi mới”. Trong thời kỳ cực thịnh của văn học Việt Nam, TTT vượt lên như một trong những đỉnh cao nhất. Có thể nói rằng TTT là một trong một số ít nhà thơ lớn nhất không phải chỉ riêng đối với Miền Nam mà cho cả nước./

[1] Anh sợ những cột đèn đổ xuống

Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta

Bóp chết mọi hy vọng

Nên anh dìu em đi xa

Đi đi chúng ta đến công viên

Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối

Ôi môi em như mật đắng

Như móng sắt thương đau

Đi đi anh đưa em vào quán rượu

Có một chút Paris

Để anh được làm thi sĩ

Hay nửa đêm Hà Nội

Anh là thằng điên khùng

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới

Tiếng kèn đồng cứ mãi than van

Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng

Sao tuổi trẻ quá buồn

như con mắt giận dữ

Sao tuổi trẻ quá buồn

như bàn ghế không bày

Thôi em hãy đứng dậy

người bán hàng đã ngủ sau quầy

anh đưa em đi trốn

những dày vò ngày mai

Bộ sưu tập | Bài này đã được đăng trong Bien Soan và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s