Lạm Bàn về một cuốn tiểu thuyết

LẠM BÀN
VỀ MỘT CUỐN TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ
Khải Nguyên Biên Soạn

but 2 Tôi cố tìm đọc “Hội thề” của tác giả Nguyễn Quang Thân, không vì cuốn tiểu thuyết đó được giải của hội nhà văn Việt Nam mà vì đọc được một số những lời khen và chê khá là trái nhau. Có thể lược ra mấy ý chính:

Khen: -Tác giả muốn lấp đầy một trong những trang trắng của lịch sử bằng nghệ thuật tiểu thuyết.

-Làm phát lộ cái mà chỉ tiểu thuyết mới nói được, phá vỡ các tính chính thống, thám hiểm mặt lật ngược hay mặt trái mà xã hội chúng ta đã xây dựng về chính mình.

-Là sự nhuận sắc chính sử, là lời ngợi ca mối quan hệ quân thần, đề cao tầm nhân văn của trí tuệ người Nam, với khát vọng được sống yên bình bên cạnh một nước lớn luôn nuôi mộng xâm lấn.

-Đồng cảm với tác giả khi ông miêu tả Nguyễn Trãi cô độc giữa các tướng lĩnh của Lê Lợi.

-Lê Lợi mang những nét thô lậu của một thổ hào người Mường Thanh Hóa mà có những phẩm chất đế vương.

-Một cuốn tiểu thuyết dụng công, có những đột phá và thu hút người đọc; đã thu hoạch được những thành công nhất định, đã chế ra những sản phẩm mang giá trị thương phẩm không hấp trộn màu mè …

Chê: -Phản ánh không chân thực tinh thần của thời đại lịch sử.

-Hư cấu nhưng phải tôn trọng lịch sử. Tác giả đã mô tả những tướng tá nông dân thù ghét trí thức, lại chỉ nghĩ chuyện hại nhau, tranh công, hám lợi; trong khi lại đề cao tài, đức, lối xử thế như một “hiền nhân quân tử” của Thái Phúc, đề cao nhân cách của Vương Thông qua một mối tình gần như huyền thoại.

-Hư cấu những chi tiết phi lịch sử: chức đại học sĩ của Nguyễn thị Lộ, Khuê Văn Các, đường Cổ Ngư chưa có vào lúc xẩy ra câu chuyện của cuốn truyện.

-Đẩy Nguyễn Trãi vào thế cô độc. Để ông tự nhận là đứa em côi cút trước hàng tướng Thái Phúc.

-Tác giả mô tả cái đám chủ chiến võ biền gắn kết với nhau một cách bản năng do những tham vọng thôi thúc chẳng lí tưởng cao sang gì; thủ lĩnh cái đám này tiêu biểu nhất, đứng đầu chính là Lê Lợi. Đám học trò Thăng Long như công lạc vào đàn quạ. Liệu có phi lịch sử? Cái bất cập của “Hội thề” là điểm rơi sai, đó chính là điểm yếu, chỗ hụt hơi của tác giả khi xây dựng hình tượng của hai tuyến nhân vật.

-Do một kịch bản phim đã không được dùng vì “nhạy cảm” nên tác giả của nó đã chuyển qua tiểu thuyết và sửa cho “mềm” hơn, trong đó có sự tô vẽ cho tướng giặc.

+Xem ra: về khen, có quá tán dương; về chê, có lúc hơi nặng lời, -thường rơi vào những trường hợp thiên về một phía.

*Xin góp vài điều cảm nhận của một độc giả bình thường về cuốn tiểu thuyết này (nxb Phụ nữ, 2008).

Tác giả Hội thề không có tham vọng viết về toàn bộ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nên đã khéo chọn giai đoạn cuối, giai đoạn quyết định. Cách dẫn dắt câu chuyện đến hội thề, thỉnh thoảng xen việc trước vào làm cho những người đọc không nhớ sử lắm cũng hình dung được phần nào dây liên hệ với toàn bộ cuộc tranh đấu chống giặc Minh giành độc lập thắng lợi.

Tác phẩm dễ đọc, ít ra là với độc giả tầm tầm như tôi. Có những “chương” trội, như chương “Thân chinh”. “Chương” cuối, trái với chờ đợi của người đọc, gây một cảm tưởng hẫng hụt. Đoạn hư cấu đưa Ngọc Trần vào truyện là khéo, có tay nghề … Tuy nhiên, tay nghề ấy có khi hư cấu quá đà. Ví như chuyện Thái Phúc cùng Nguyễn Trãi mang ấn tín của chủ soái cánh quân cứu viện chủ lực Liễu Thăng tử trận lên ải Lê Hoa thuyết phục bọn Mộc Thạnh lui binh. Sử liệu chép: bấy giờ Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả lên trấn giữ ở đấy kìm chân bọn giặc; Lê Lợi cho người mang tang chứng đến cốt cho bọn chúng thấy đạo quân cứu viện thứ nhất đã bị đại bại khiến khiếp sợ mà rút chạy (cần chi Nguyễn Trãi phải thân hành lên khuyến dụ!). Hai tướng Phạm và Trịnh nhân đấy xuất quân truy đuổi và thắng lớn. Với óc tưởng tượng dồi dào, tác giả muốn “nâng” nhân vật Thái Phúc và mối giao tình giữa y và Nguyễn Trãi nên đã vẽ ra một chuyến công cán khá là “lãng mạn”.

Tính cách một số nhân vật đã có nét. Nhiều nhân vật được ngòi bút tác giả ưu ái, trong đó có những nhân vật phụ như vợ chồng Nguyễn Thống (cặp nhân vật này có khi được người đọc nhớ hơn nhiều nhân vật trọng yếu). Các nhân vật “phản diện” Phạm Vấn, Lê Sát cũng được “ưu ái” khi dụng bút. Tuy nhiên, có những nhân vật không đạt lắm, Lê Lợi chẳng hạn. Dường như tác giả muốn “mượn” bút pháp Tư Mã Thiên “vẽ ” Lưu Bang để “dựng” người khởi nghiệp nhà Hậu Lê và đã không mấy thành công, tôi không dám chắc, nhưng quả thật “nét thô lậu của một thổ hào người Mường Thanh Hóa” và “những phẩm chất đế vương” mà tác giả tạo ra không “đi” với nhau để cho một chân dung đủ gây ấn tượng. Người đọc cũng thấy tác giả dồn bút lực vào nhân vật Nguyễn Trãi. Cũng đáng thôi, nhiều người đã tôn vinh ông nhất là vào khoảng giữa thế kỉ trước; song, chính vì vậy mà đọc xong không được mấy vui, có chỗ cảm thấy tồi tội cho ông. Hơi lạ là tác giả để cho Nguyễn Trãi đáp lời cha ở ải Nam quan: “/… / Làm sao con lại có thể bình tâm nhìn người ta dẫn cha đi? Đạo hiếu không cho phép con làm thế ”. Nghe vừa hơi khoa trương vừa hơi khách khí!

Từng có một số lời bình nặng lời vì tác giả nhấn mạnh không ít lần những tính cách tiêu cực của số võ tướng gốc nông dân, và vì tác giả tỏ ra “nể nang” Thái Phúc, “nương nhẹ” Vương Thông, … Thiết nghĩ đó chưa phải là những chỗ đáng lưu tâm nhất, chưa phải là những chỗ khiến người đọc khó chịu hay phiền lòng nhất.

Có lẽ chỗ gây cộm nhiều là cái ranh giới tác giả tạo ra giữa “đám võ tướng vô học” (xứ Thanh, Nghệ) và giới “sĩ phu Hà thành” gần như là giữa hai trận tuyến. Đám võ tướng này mang các tật xấu của bọn đầu lĩnh thảo khấu và rất “dị ứng” với đám sĩ phu kia. Có thể tác giả bị “ám ảnh” bởi cái “hiện thực” thời hiện tại chưa xa (cũng có thể có ý “mượn xưa nói nay”; hoặc nữa, kiểu nói sang, “dấu ấn thời đại của tác giả vào tác phẩm”): giới lãnh đạo thuộc “công nông binh” là thế, giới trí thức không là gì trong mắt họ (chẳng thế mà lãnh tụ CS TQ từng so trí thức với cục phân!). Song le, đó là sau khi đường lối “công nông chuyên chính” được xác lập, sau những đợt “phát động quần chúng”; chứ trước đó những trí thức, những thanh niên có học đi theo cách mạng vẫn được hoan nghênh, trọng dụng. Trong xã hội ta ngày trước, tuy giữa sĩ phu và nông dân có sự cách biệt nhưng không đối kháng; nông dân vẫn tôn trọng “những người có học”, khi xẩy ra đấu tranh đối tượng chính của họ là quan lại, cường hào, … Có thể biện hộ cho tác giả: đây không là nông dân nói chung mà là những người có quyền hành. Vâng, nhưng mà Ngô Thì Nhậm sĩ phu vẫn được các tướng võ biền Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, … tin cậy, nghe theo đó thôi; có thể xung khắc phản biện nhau chứ không xung đột dù là ngấm ngầm. Vì họ Ngô được Nguyễn Huệ tin dùng! –Nguyễn Trãi không được Lê Lợi tin dùng sao? Những tướng lĩnh nông dân ấy có thể thô lậu, ham hố, song họ đang dấn thân vì nghĩa lớn, – vì nghĩa lớn người ta có thể quên mình, huống chi …  Lúc đang cùng nằm gai nếm mật, đang cùng phấn đấu gian khổ, đang đối đầu với kẻ địch, những tà tâm nếu có và những tham vọng bị chìm đi, người ta sẻ san ngọt bùi cũng như chia nhau hoạn nạn. (Về sau lại là chuyện khác! Chiến thắng rồi, chuyện tranh giành, đấu đá vì quyền và lợi mới có cơ nổi lên; sự ác cảm, miệt thị, lòng đố kị mới có dịp phát tác. Mà khi đó ai dám chắc “cái đám” trí thức là bất can!). Tác giả để cho những người “có học” Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, trong ý nghĩ và khi trao lời với nhau, không ít lần tỏ ra khinh miệt đám võ tướng “vô học”. “Đám” này, ngoài những tật xấu và cạn điều nhân nghĩa, còn kém tầm nhìn xa. Thế nhưng, chẳng hạn, người hiến kế cho nghĩa quân chuyển hướng chiến lược từ Thanh Hóa vào Nghệ An tạo ra bước đột phá quyết định là Nguyễn Chích, một võ tướng gốc nông dân! (vị tướng này mờ nhạt trong cuốn truyện). Điều đáng nói là tác giả để lộ quá rõ ngòi bút thiên vị, hầu như là định kiến. Đem so sánh thì thường khó đúng chỗ và dễ vô duyên, nhưng người viết bài này cũng có nghĩ chút xíu: chẳng hạn, ngòi bút La Quán Trung trong Tam quốc diễn nghĩa, với Lã Bố, không hạ những lời miệt thị mà nhân vật vẫn rõ ra là một anh vũ dũng vô mưu, nhân cách kém; với Triệu Vân, không tỏ lời tán tụng mà nhân vật vẫn hiển hiện là một tướng có đức có tài.

Chẳng hiểu tác giả có chủ định gì mà nhiều lúc “đi trước” sự kiện lịch sử. Lê Lợi mới chỉ xưng là Bình Định vương, chứ chưa lên ngôi hoàng đế, mà ngòi bút tác giả đã tôn “Phạm Thị Ngọc Trần, đương kim hoàng hậu”, “thái tử Nguyên Long” (sau ngày thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, mãi đến năm 1433 mới chọn Nguyên Long làm thái tử); và để cho Nguyễn Trãi, người hẳn phải am hiểu triều nghi, cũng “xin bệ hạ nghe lời tâu của hạ thần …”; còn Lê Lợi thì có lần trách Nguyễn Trãi: “Ngươi xui ta lên ngôi quá sớm” (trong bài viết này, những chỗ nhấn mạnh khi trích dẫn là của KN). Đây có thể chỉ là sự “lỡ” của biểu đạt, song liệu có “liên đới” gì không với việc để cho những ý đồ và âm mưu dọn đường giành “ngôi kế vị” được đẩy lên cũng “quá sớm” ?

Những ý đồ và âm mưu ấy chi phối tâm lí, suy nghĩ, hành động của không ít nhân vật trọng yếu, tác động đến cả chủ soái. Chúng như mạch ngầm ám vào đại cuộc giải phóng đất nước. Đây cũng là một lệch lạc nữa của cuốn tiểu thuyết.

Lần giở hết cuốn tiểu thuyết thấy rõ công phu và sự cẩn trọng của tác giả. Do vậy, thật lạ là cuốn sách có những “bất đắc” khó ngờ.

“Kết tội” tác giả như là cố tình “hư cấu những tình tiết phi lịch sử”, đã nêu lại ở trên, e chưa thể tất, song cũng hơi khó hiểu là sao ông có thể quên, chẳng hạn, bia tiến sĩ Văn miếu Thăng Long được bắt đầu dựng từ đời vua Lê Thánh Tông! Đây có lẽ là do nhớ nhầm hoặc sử dụng nhầm tài liệu. Việc sử dụng nhầm có thể tác hại cho những đoạn văn có những chi tiết hư cấu (vốn là bình thường trong sáng tác) liên quan đến những tài liệu kia. Có một tình tiết tác giả dựa vào, được đưa ra gần đây, không rõ căn cứ, cho rằng bà Trịnh thị Ngọc Lữ, vợ đầu của Lê Lợi, bị giặc Minh bắt và hi sinh. Theo thần phả nơi đền thờ bà ở thị trấn Lam Sơn thì bà đâu có bị giặc bắt! (Người vợ vua bị bắt trong trường hợp này là bà Phạm thị Nghiêu về sau được tướng giặc thả). Bà Lữ bị Lê Thái Tông hạ xuống bậc “thần phi” năm 1438, sau khi con bà là Tư Tề bị truất từ quận vương xuống thứ dân. Lê Quí Đôn cũng viết bà mất vào đời Thái Hòa, triều Lê Nhân Tông. Còn trường hợp bà Phạm thị Ngọc Trần, một vợ khác của vua Lê, bị hiến tế cho thần năm 1425 ở Trào Khẩu, Hưng Nguyên, Nghệ An, tác giả cuốn truyện có thể “dời” đến một địa điểm khác theo ý đồ của mình (bởi xét cho cùng thì chuyện hiến tế này chẳng qua cũng là một thứ hư cấu). Song, địa điểm vực Nầm trên sông Phố mà tác giả chọn có vẻ không thích hợp, bởi những lí do sau: -lễ hiến tế trong dịp xuất đại quân từ xứ Nghệ tiến ra bắc phạt, như mô tả trong truyện, phải từ đại bản doanh như thành Lục niên chứ không thể từ một căn cứ vệ tinh (sẽ nói thêm sau); -vực Nầm, nơi từng ghi chiến tích đánh bại quân Minh khi chúng định tập kích nghĩa quân ở căn cứ động Tiên Hoa, chẳng lẽ lại làm nơi “thí ” vợ chủ soái! –đáng nói hơn, sông Phố là con sông nhánh khá hẹp, nhất là đoạn từ vực Nầm trở lên thượng nguồn chỉ rộng chừng dăm chục mét; vực Nầm nằm sát ngay dưới chân Rú Vằng tức Kim Sơn ở bờ nam, (thời Pháp thuộc, để làm con đường số Tám qua đó người ta phải nổ mìn phạt một mảng lớn vách núi đứng chếch trên bờ vực), không đủ chỗ cho tác giả bày biện lễ hiến tế hoành tráng. Do vậy, ông cho bày ở bờ bắc, nơi có một dải đất thấp mà khuỷu sông Phố tại đây ôm sát. Nhưng kì lạ là Bình Định vương, “hoàng hậu”, tùy tùng, quan quân từ bản doanh “Kim Hoa” phía nam bờ sông kéo ra không thấy vượt sông, cứ thế làm lễ, rồi “hoàng hậu” gieo mình từ trên bờ vực!

Còn có những sai sót về địa-lịch sử. Tác giả ghi “làng Trị Yên là căn cứ cuối cùng của nghĩa quân ở trấn Nghệ An”. Hai cái nhầm! Một là, căn cứ chính cuối cùng của nghĩa quân ở xứ Nghệ phải là thành Lục niên mà tác giả có nhắc đến ở phía dưới. Hai là, căn cứ (phụ) của nghĩa quân, gần con hói Trùa (suối Chùa) thông ra sông Phố chỗ phía trên vực Nầm, không ở làng Trị Yên. Nó vốn là căn cứ của Nguyễn Tuấn Thiện, thủ lĩnh quân khởi nghĩa chống Minh tại địa phương, trở thành căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn sau khi ông này ăn thề kết nghĩa cùng Lê Lợi nơi cây-thị-ăn-thề (nay cây này vẫn còn ở xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Cách nay chừng nửa thế kỉ, các nhà sử học đã phát hiện ra căn cứ này là động Tiên Hoa [cái tên có liên quan đến rú (núi, thật ra là đồi) Tiên Động và rú Hoa Bảy, nơi đóng bản doanh ở làng Phúc Đậu, nay là xã Sơn Phúc]. Cái sai trên cũng do mù mờ như cái sai sau đây, tuy “hai mà một”. Đoạn kể về lễ hiến tế, tác giả tả: “Lê Lợi ngồi trên chiếc kiệu có mười hai người khiêng từ trong làng Kim Hoa, nơi nghĩa quân đóng đại bản doanh đi ra”. Bỏ qua một bên những chỗ có thể ngờ ngợ trong câu văn này, hãy nói về cái địa danh “làng Kim Hoa”. Không biết tác giả lấy cái tên này ở đâu, bởi, đây là cái tên khá “hiện đại” và “đoản mệnh”. Trước Cách mạng 1945, hai bên hói Trùa có bốn làng thuộc hai tổng khác nhau: Phúc Đậu, Thủy Mai, Trị Yên, Tiên Bì. Sau Cách mạng, cấp tổng bị bãi bỏ, làng Phúc Đậu hợp với làng Thủy Mai thành xã Phúc Thủy; làng Trị Yên hợp với làng Tiên Bì thành xã Kim Yên. Khoảng ba năm sau, hai xã Phúc Thủy và Kim Yên lại hợp nhất thành xã Kim Hoa. Đến cải-cách-ruộng-đất, năm 1955 xã Kim Hoa tách ra thành ba xã: Sơn Phúc (Phúc Đậu cũ), Sơn Thủy (Trị Yên và Tiên Bì cũ) và Sơn Mai (Thủy Mai cũ) như ngày nay.

Không lẽ nằm trong chủ đích “khoa trương hóa” cùng với những lời miêu tả kiểu như: Lê Lợi “oai phong trong bộ giáp trụ lấp lánh vàng và tua ngũ sắc”, Tư Tề “trong bộ võ phục rực sáng nhờ những viên đá quí”, v.v… ? Có chút gì đó hơi “phường tuồng” trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ dài lâu. Còn không ít chỗ cùng bút pháp nống lên như thế. Chẳng hạn, tổng binh Vương Thông thường “thiết triều” bắt mọi người quì tâu để lấy oai (nếu quả như thế mà đến tai vua Minh thì họ Vương chỉ có mất đầu, có khi bị tru di chín họ; đâu có thể đùa với tôn ti phong kiến, lại là phong kiến Tàu! – tôn ti  phong kiến biến tướng, cũng chớ có đùa!). Chẳng hạn, ở hội thề, các tướng của hai đạo quân đối địch biểu lộ “mặt họ sáng bừng, thứ ánh sáng nhân ái” (chủ đề “nhân ái” lồ lộ hầu suốt cuốn sách).

Chê nặng tác giả bôi xấu các tướng nông dân của nghĩa quân mà đề cao tướng giặc có lẽ hơi “oan” cho tác giả. Song, chỗ này thì đúng là “chướng”: với những người của phía đối địch thì luôn luôn gọi đủ họ tên: Vương Thông, Mã Kì, … ; trong khi với những người của nghĩa quân thì có khi gọi  xách mé tên cúng cơm: Vấn, Sát, Hãn, thị Lộ, … , (chỉ thiếu gọi “Lợi” nữa thôi!). Đọc những câu như thế này mấy ai có thể thản nhiên: “Thái Phúc nhìn Trãi, tỏ vẻ biết ơn”. (Chẳng thà như trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, tác giả đều gọi tên cúng cơm: Tháo, Quyền, Phi, Thiệu, … ; duy, vì ưu ái riêng, với ba người Lưu Bị, Gia-cát Lượng và Quan Vũ ông ta gọi tên tự Huyền Đức, Khổng Minh và Vân Trường).

Về ngôn từ , cách diễn đạt, có những chỗ tác giả hơi “lỏng tay”. Chỉ xin nêu đôi chỗ (nếu hiểu chưa thấu đáo xin được chỉ giáo).

+ Lê Lợi vỗ vai Vương Thông trong đại tiệc sau hội thề bảo: “Thôi, xí xóa, xí xóa!” (Ngỡ như hai người đang giữa chiếu “nhậu” thời nay! Còn như để điểm xuyết cho nét thô lậu của một thổ hào thì e không đúng chỗ).

+ Vương Thông nói: “/…/ trước khi lên đường về cố quốc ” (y có rời bỏ nước y đâu! hay là nước y bị mất rồi?!

+ “Thị Lộ /… / quì xuống gục mặt vào đôi đầu gối Nguyễn Trãi. Mắt nàng ngời sáng tình yêu” (ắt hẳn mắt “nàng” phải nằm trên đỉnh đầu!).

+ “Trần Nguyên Hãn hai tay nâng chén trà, thút thít, …” (mà chẳng phải khóc!)

+ “Tức thì bà Lộ tru tréo” (với Nguyễn Trãi. –tác giả chẳng nể nhân vật mà mình vẫn chăm bẵm, nỡ hạ bút như thế!)

+ “Tiếng reo hò kêu khóc của hàng ngàn quân sĩ /…/” (chẳng thể vửa reo hò vừa kêu khóc, e  phải “phân công” bên reo, bên khóc!)

+ “Mộc Thạnh đánh ải Lê Hoa để làm thế ỷ dốc cho đại quân của Liễu Thăng” (y định đóng quân cố thủ luôn ở đấy chăng!)

+ Lê Lợi biện giải việc thí vợ mình để tế thần: “Quân sĩ /… / họ chết sống vì ta vì xã tắc mà chỉ yêu cầu ta hi sinh một người vợ yêu thì từ chối sao được?” (câu này có thể gợi những ý nghĩ không vui, ít ra là trách nhiệm về cái chết tức tưởi của “vợ yêu của chủ tướng” thuộc về đám quân sĩ!)

Trong tác phẩm có những chỗ viện dẫn nên xem lại! Tác giả cho Nguyễn Trãi lấy câu “thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền” để giảng giải cho Tư Tề thông kế sách giảng hòa với Vương Thông. Câu này, tác giả dịch nghĩa ở cuối sách là “thánh nhân bất đắc dĩ lắm mới dùng đến quyền lực”. Chẳng “dùng quyền lực” gì ở đây cả! Không hòa thì phải đánh, tức là dùng sức mạnh. Vả chăng, nghĩa quân có quyền lực gì với quân giặc đâu, dẫu chúng đang bị bao vây? (Nếu có quyền thì chỉ việc ra lệnh cho chúng, việc gì phải thương thuyết lôi thôi!). Thật ra, nhiều người hiểu  “quyền” ở đây là “quyền biến”, –thánh nhân (thường giữ nguyên tắc) bất đắc dĩ mới phải dùng đến cách quyền biến. Chủ trương giảng hòa khi đang ở thế thượng phong cũng có thể là sách lược quyền biến nhưng rõ ràng là chủ động chứ đâu phải “bất đắc dĩ”, lẽ nào Ức Trai quên! (Đưa câu này ra để biện hộ cho một sách lược “nhân nghĩa”, -cũng là một “nguyên tắc” xử thế của ông-, thì thật oái oăm!).

Ở chỗ khác, tác giả để Nguyễn Trãi căn dặn người cháu bằng câu “Tam quân khả đoạt súy giả, thất phu nan đoạt trí giả ”. Câu này, một tài liệu đáng tin cậy ghi là “Tam quân khả đoạt súy , thất phu bất khả đoạt chí .

Dựng lại một “tấn tuồng lịch sử” cách nay gần sáu trăm năm là một công phu đáng nể. Người đọc dù ít nhiều hài lòng hoặc chưa cũng nên hoan hô và cảm ơn tác giả.

Đọc một tác phẩm văn học in trên giấy mà kĩ một chút thì dễ bị “nặng đầu”, không như đọc lướt qua hoặc đọc trên mạng.

 Hải Phòng, 5 – 2014

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s