Truyện Ngắn Khải Nguyên

 

ÔNG GIÁO LÍ

Tản bút Khải Nguyên

 
Trường tư này do xứ đạo mở từ hồi còn mồ ma thực dân Pháp tại một xứ đạo trù phú kề một thị trấn. Đây kể như là “của hiếm”, bởi thuở ấy có rất ít các trường Sơ học cao đẳng (trường Trung học cơ sở ngày nay), trường công đã đành, mà trường tư, -nhiều hơn, thường cũng chỉ mở ở các thị tứ lớn như Vinh; ngay thị xã Hà Tĩnh cũng không. Trường mang tên một ông thánh Tây. Sau Cách mạng tháng Tám, nó được mang tên một linh mục ta có hoạt động cách mạng và bị chết trong nhà tù thực dân. Ngôi trường khá đẹp và chững chạc, ở vào một vị trí phong quang, hiếm trường có được vào thời ấy và cả bây giờ. Trường nhìn ra đê sông La, con sông duyên dáng và thơ mộng, đằng trước trường là một sân vận động phẳng phiu, rộng rãi. Cạnh trường là ngôi nhà thờ đồ sộ nhất vùng, nơi ngự hai cha libutsachnh mục chánh, phó xứ.
Học trường này vào năm học ấy là những người không kịp thi vào trường công hoặc quá tuổi. Cũng có người học nhảy lớp. Có anh chỉ là do bạn rủ rê. Đặc biệt, có những người từng bỏ học sau cách mạng đi hoạt động xã hội, văn nghệ hay đoàn thể nay trở lại mài đũng quần trên ghế nhà trường.
Năm học vừa bắt đầu, học sinh đã được làm quen với một ông thầy dòng nửa phá giới (vì ông đã có vợ con nhưng vẫn mặc áo dài đen). Hễ lớp nào có giờ trống là ông vào nói chuyện không cần giới thiệu. Ông không còn trẻ, người thấp nhỏ nhưng sung sức. Mặt ông bầu bĩnh, hồng hào, nhẵn nhụi. Giọng ông êm, dáng ông chững. Những khi ông say sưa quá thì nước bọt có thể đùn ra bên mép. Thỉnh thoảng đến chỗ thích chí ông giơ một ngón tay lên ngang tầm tai, mặt nghiêng nghiêng, miệng hé một nụ cười trắng loá, đôi mắt sắc một mí liếc ngang như đưa tình. Ông dừng lại mấy giây thưởng thức hiệu quả trên mặt người nghe, rồi tiếp tục thao thao hùng biện. Ông không cười thực sự bao giờ, có nghĩa là miệng cười nhưng mắt đưa đẩy vô cảm. Ông hay nói đến cụ Phan Bội Châu và khoe hồi ông ở Huế, sinh thời cụ Phan, năng đến với cụ như thế nào, đôi khi còn trích lời cụ nữa. Ông còn nói đến “thiên tài”, rồi chẳng hiểu do đâu ông ưỡn ngực tuyên bố: “Chính Lênin cũng công nhận là có thiên tài!” –ông nhấn mạnh từ “thiên”. Bấy giờ, cũng có học sinh biết Lênin là nhà cách mạng ở nước Nga cộng sản vô thần. Chẳng cậu nào nắm được “chủ đề” của các giờ trao duyên của vị thầy dòng hoạt bát, vui chuyện và có vẻ dễ tính ấy.
Chừng một tháng sau, thời khoá biểu các lớp có thêm tiết  học “giáo lí”. Lớp đệ tứ, lớp cuối cấp, là nơi ra mắt trước tiên của cái môn học lạ tai đó. Tiếng trống báo bắt đầu tiết học vừa điểm, ông thầy dòng nọ bước vào lớp. Ông cúi chào rất thấp đáp lễ bọn học trò rồi mở đầu bằng kể chuyện. Ông nội ông là một thầy phù thuỷ trứ danh, có thể cải tử hoàn sinh, gọi ma nạt quỉ. Một lần, đi chữa bệnh ở một tỉnh xa, ông thầy pháp trổ tài chém đứt đôi người bệnh để phù phép và ra oai với ma. Không may, có kẻ chơi xỏ bôi cứt gà vào kiếm nên không sao chắp thân người bệnh cho sống lại được nữa. Pháp sư biết tàng hình, trốn được về nhà. Ấy, ông nội là vậy! Thế mà cháu đích tôn lại được Ơn Thiêng gọi nương bóng đức chúa Lời! Giọng ông đầy vẻ tự hào; mắt ông long lanh, miệng ông chúm chím, nom càng trẻ trung tệ. Kể xong, ông cười rất duyên, đưa mắt nhìn khắp lớp, rồi dở tập bài giảng dày cộp ra. Ông viết lên bảng một sơ đồ, trên cùng là chữ “linh hồn” to tướng viết hoa, rồi các gạch dọc nối với các chữ phía dưới từng bậc một như một cái bảng phả hệ, trong đó có các chữ như: thô sơ, tế nhuyễn, tinh vi, cực kì tinh vi, … Đại khái có thể đoán là linh hồn bao trùm hay chi phối những gì gì đó. Cả lớp trố mắt theo rõi. Một số thấy lạ, hí húi ghi chép. Lớp này là lớp anh cả đây! Ông thầy dòng xoa tay hài lòng, bắt đầu bài giảng. Ông nói lưu loát, hăng say và cao siêu. Có câu rằng: “Con hổ ăn thịt bạn, thịt bạn hoá thành thịt hổ, nhưng hổ không phải là bạn”. Đoạn này, ông đọc cho chép cẩn thận. Chợt một cậu học trò giơ cao tay xin phát biểu. Ông cau mày vì cụt hứng, nhưng cũng gượng tươi hất hàm ra hiệu cho nói. Cậu này khoan thai đứng dậy nói tỉnh khô: “Cái đồng hồ bị tháo ra dồn thành đống kim loại, nhưng đống kim loại không phải là cái đồng hồ”. Người trên bục giảng quên mất cái xởi lởi thường ngày, quắc mắt: “Anh nói dớ dẩn gì thế? Anh có muốn học không?” Anh kia vẫn nhẹ nhàng: “Thưa, nếu cách sắp xếp các bộ phận máy móc làm cho chiếc đồng hồ khác hẳn đống kim loại thì cùng là xương thịt cả không nhất thiết phải có linh hồn thì con người mới khác con hổ”. Cả lớp bấy giờ mới ớ ra. Thằng cha láu thật! Chặn ngang dòng của nhà hùng biện. Cú chặn của anh chàng chưa có gì là vững vàng và sâu sắc lắm, song cũng làm cho ông nửa thầy tu tái mặt. Từ tái sang đỏ. Có lẽ ông sắp ra oai, nhưng kịp nhớ ra, ông gật gật đầu dễ thương, khoát tay ra vẻ khoan dung cho anh học trò ngồi xuống: “Anh có óc suy luận đấy. Được! Cứ thong thả. Ở trên, tôi chỉ mới đặt vấn đề thôi. Còn phải nghiên cứu mệt”. Ông nhanh chóng lấy lại khí sắc ban đầu giảng tiếp, hay nói đúng hơn, bắt đầu đi vào cửa mở để dần cởi nút cái vấn đề “hóc búa mà lí thú” như ông đã hứa hẹn lúc mào đầu, dĩ nhiên không phải ngày một ngày hai, vì nó là cả một công trình.
Hết giờ học, bọn học trò lao xao:
-Thần học đấy.
-Quái! Bọn ta có phải là dân gia-tô giáo đâu?
Một cậu ra vẻ hiểu biết, giơ tay trịnh trọng nói:
-Ở Pháp, ngay từ cách mạng 1789, nhà thờ đã phải tách khỏi nhà trường rồi. Trường học không được dạy giáo lí. Mà nước họ là nước đạo gốc đấy nhé.
Tuần sau, đến tiết học giáo lí lớp đệ tứ, ông thầy dòng gọi ngay anh học trò hôm trước lên hỏi bài. Ông hỏi những câu khá dễ và vô thưởng vô phạt, rồi cho 9 điểm (trên 10), ghi rõ cẩn thận và thong thả cho cả lớp có thể thấy. Vẻ mặt ông thật bao dong, ngoan lành. Nhưng chỉ vậy ở lớp học sinh lớn thôi. Tình hình các lớp thấp hơn thì khác hẳn. Học sinh lơ mơ là sấm sét đổ xuống đầu ngay. Ông quát. Ông phạt điểm; sẵn sàng hào phóng ban “dê-rô” (zéro -điểm không). Những chú từng há hốc mồm vì ông, nay không dám khoái ông nữa.
Chủ nhật kế đó, tại một ngôi chùa khuất nẻo và vắng vẻ, có cuộc họp của học sinh hai lớp trên và mươi cậu ở các lớp dưới.
Tiết học môn giáo lí tuần tiếp theo ở lớp đệ tứ, ông thầy vào lớp đang đứng trên bục giảng tươi cười nhìn ban phúc cho cả lớp thì một cậu học trò đi nhanh lên đứng cạnh bục, chính cái cậu vừa được 9 điểm tuần trước ấy. Ông hơi nghiêng người, cười dễ dãi, ra ý hỏi. Cậu kia lễ phép nói: “Anh em trong lớp xin thưa với thầy là môn giáo lí không có trong chương trình do nhà nước qui định, vậy chúng tôi xin miễn học”. Ông giáo lí gần như khuỵu xuống ghế, mắt hắt ra một ánh dữ dội, môi vẫn giữ nụ cười bất động chưa kịp tắt. Song chỉ sau khoảnh khắc, ông ngồi thẳng lên, mắt hơi nheo lại, nói lửng lơ: “Nhưng đây có phải là trường nhà nước đâu! Nhà thờ đứng ngoài và trên chính trị”. Một cậu  ở dưới đứng lên, giọng từ tốn nhưng rành rẽ: “Thưa, trường nào thì cũng phải theo chương trình chung cả”. Bỗng người trên bục hoạt bát trở lại, vừa đi ra cửa vừa nói: “Được! Được! Để tôi xin ý kiến bề trên”. Lát sau, cha chính xứ bước vào lớp. Cha người cao dong dỏng, đã đứng tuổi, song còn dẻo dai lắm. Lũ học sinh con chiên của cha vẫn vô tư kể rằng cha thích đi bắn chim, một mình một thuyền với một chị đệ tử xinh xẻo. Cha nói chẳng mào đầu: “Trường này, mỗi năm toà giám mục phải trợ cấp một vạn đồng thì phải được lợi gì chứ! Cộng sản mở trường chắc cũng tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Các anh đừng thấy bên Tàu Tưởng Giới Thạch đang thua mà vội mừng. Còn Mĩ đấy! Mĩ nó không chịu khoanh tay nhìn đâu!” Bọn học trò hầu hết chẳng hiểu do đâu mà cha liên hệ nhanh nhạy và thâm thuý như thế. Họ có nghe tin quân cộng sản Tàu đã vượt sông Dương tử và đang ào ạt tiến xuống Hoa nam. Không chờ đáp lời, cha đĩnh đạc bỏ đi thẳng. Giờ ra chơi, ông hiệu trưởng cho mời năm cậu lên văn phòng. Ông này là đại biểu quốc hội -quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam-, và là em cha chánh xứ. Ông được tiếng là nhu hoà và thức thời. Ông niềm nở tiếp năm chàng và sẽ sàng nói: “Chúng tôi chỉ mong có mấy giờ giáo lí để tiện trình lên toà giám mục thôi. Các cậu là đàn anh của trường nên nói sao cho anh em nghe xuôi”. Hẳn là ông hiệu trưởng cũng như các vị quản nhà thờ nghĩ rằng những cậu này là thủ lĩnh hay đầu têu. Sự thực thì họ cũng như số đông bạn học chỉ biết “phản đối học giáo lí” thôi, vì không thích. Vụ việc “đến tai” ti Giáo dục can thiệp đi tới “giải pháp”: giờ học giáo lí không bắt buộc, ai không học thì thôi, nhưng không được phá rối.
Ông giáo lí cố giữ “nụ cười duyên buổi đầu” khi lại bước vào lớp. Sứ mệnh thiêng liêng của ông giờ đây khá là gay go. Nhưng ông sẽ chinh phục cái bọn ương bướng mà lạc lối này bằng tài năng của ông đã được các cha bề trên sủng ái. Chúng không muốn nghe cũng không được với những lời giảng vừa cám dỗ, vừa thuyết phục. Có thể là chúng vờ không nghe. Được rồi! mắt đờ ra là ăn tiền. Lại không đến nghiện cái món giáo lí ấy à! Bề trên sẽ đãi công xứng đáng. Một đóng góp làm sáng danh ý tưởng đạo Chúa nhường  kia! Nhưng cái bọn “đầu bò” lại tệ hơn là ông tưởng. Ông vào lớp, chúng đứng lên theo cái phép lịch sử khi có khách. Ông xoa xoa tay với nụ cười nghề nghiệp cố hữu trên môi, mắt láo liên nhìn xuống lớp. Không có ai bỏ đi ra cả. Nhưng ông bắt gặp đôi nét mặt thờ ơ đến là khó thương. Lại có số ánh mắt dò hỏi soi mói hoặc tinh quái chờ đợi làm cho một người vốn can trường, tháo vát như ông có một tí chột dạ. Ông cúi xuống tập tài liệu quí hoá và bắt đầu giảng, tránh nhìn xuống các bàn học trò. Giọng ông không được ngân bằng lúc bình thường nhưng vẫn dễ ưa, ông tự đánh giá như vậy. Hơi yên tâm, ông lé mắt nhìn xuống. Cả lớp yên tĩnh, mọi người chăm chú viết lách. Ông thở ra nhè nhẹ, bên mép thoáng một nụ cười thật. Cái hùng biện, cái duyên dáng lại về với ông. Ông đứng thẳng người, trở lại phong cách sở trường. Bỗng ông ngờ ngợ: Cái chăm chú và yên tĩnh của lớp học có gì khang khác, vì rõ ràng là không tập trung theo một hướng. Một số mải mê viết gì đó nhưng nét bút đưa không đồng bộ. Số khác ngửng lên suy nghĩ, song hình như không nhìn thấy ông. Ông chú tâm nhìn bàn đầu thì thấy mấy đứa đang làm toán. Bọn này quá quắt thật! Không học ông thì đi ra ngoài còn đỡ chướng. Đằng này … Đúng là “không phá rối” nhưng lợi dụng chỗ ngồi để làm việc riêng! Nhìn kĩ thì cũng có độ chục đứa là dân đạo nghe ông. Niềm an ủi thật là nhỏ nhoi! Nhưng đến các tiết học sau thì đến cả bọn này cũng quay ra lo các bài học, bài làm thiết thân của chúng. Tình hình ở các lớp dưới chẳng khá hơn chút nào, còn tệ hơn là khác, vì bọn nhóc ở đây không giữ được nghiêm chỉnh như lớp đàn anh. Ông quát nạt, chúng càng lờn ông. Thế là ông giáo lí vội vàng kết thúc cái giáo trình đã chuẩn bị công phu cho cả năm học trong vòng năm tuần, mỗi tuần một tiết học. Ông cũng quên luôn cái sơ đồ “linh hồn” qui mô ngày nọ.
* *  *                           
Câu chuyện trên có mùi tiểu thuyết, nhưng quả tình là thật trăm phần trăm; chuyện thật, nhân vật thật, mấy ông từng là người trong cuộc khẳng định như vậy.
Buổi ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp toan đặt lại ách đô hộ lên nước ta đã kéo dài mấy năm. “Hơi thở” của cuộc chiến đấu toàn quốc dường như ít tác động đến học đường. Trong nhà trường không giảng chính trị, không có các đoàn thể, ít ra là về mặt công khai. Dường như chẳng có cái gọi là “lập trường, quan điểm”, cái mà sau này thường xuyên được nói tới. Một giáo sư sử học (ngày đó, những người dạy trung học đều được gọi là giáo sư) đã giảng: “Cách mạng tháng Tám là một sự tình cờ của lịch sử”, và khi nói đến “chính phủ liên hiệp” đã có lời cảm thán: “Ôi! Đảng phái!” rồi thòng một câu: “Đảng cộng sản đỏ loè loè nhiều người khiếp sợ đã tự giải tán”. (Nếu là sau này thì có thể ông này phải đi tập trung cải tạo!). Tuy nhiên, không ít học sinh cảm nhận được cái “hơi chính trị” của “nhà thờ”. Họ biết rằng xưa kia người Pháp dựa phần nào vào “dân đạo” (cách người ta gọi những người theo đạo Gia tô La mã, mệnh danh công giáo) để đánh chiếm và cai trị nước ta, ưu đãi họ trong thời Pháp thuộc (tất nhiên chủ yếu là tầng lớp trên). Họ cũng biết giáo dân đón mừng nước nhà được độc lập, nhưng rồi bị cái ám ảnh “Việt Minh – cộng sản” do các đấng bề trên truyền dạy. Cộng sản thì “dứt khoát” là chống tôn giáo. Cái ác cảm đối với cộng sản thấm nhuần đến cả những con chiên trẻ nít. Cô bé ấy tên là Quyên, mới lên tám, con một “đốc-tờ” tản cư từ  thành phố về. Một cậu học trò quen đến chơi nhà viết vào một tờ giấy chế đùa: “Quyên = Cu Vấc” (ở miền Trung, gọi con cuốc là con “cu vấc”). Cô bé đỏ mặt tía tai viết ngay vào dưới “đồ cộng sản”!
Thật ra, vào những ngày cuối năm 1948 đầu năm 1949 đó, có những mạch ngầm chính trị lan trong các xứ đạo ở các vùng tự do (vùng của chính phủ kháng chiến) theo sau sự kiện các xứ đạo Bùi Chu, Phát Diệm công khai theo Pháp chống kháng chiến. Mạch ngầm này, tất nhiên có bàn tay ngoại bang, không chỉ giới hạn trong phạm vi giáo dân Gia tô. Dưới đây trích ghi chép của một cậu học trò ngày nọ.
“Một hôm, các cha chánh và phó xứ mời cơm thân mật một trong số các nhà sư đứng đầu hội Phật giáo liên khu. Cha chánh xứ trỏ bữa cỗ thịnh soạn nói hồ hởi: “Chúng tôi biết các vị quen chay tịnh, nhưng không lẽ trong buổi tiếp xúc hiếm có mang tính chất lịch sử này lại không bày biện chút đỉnh. Mong cao tăng chiếu cố”. Vị hoà thượng, người dong dỏng hơi quá khổ, cũng cởi mở và chân thành không kém: “Vâng, chúng tôi thường ưa muối dưa. Nhưng hôm nay đâu dám phụ tấm lòng cao rộng của các cha”. (Cha chánh bụng “cao” thật vì lưng cha hơi dài, còn bụng “rộng” thì phải nhường cha phó). Hai bên cùng cười vui vẻ, khoan thai vào tiệc. Ông giáo lí xăng xái vừa làm người tiếp, vừa làm người hầu. Hẳn là trong gần hai giờ chiếu cố mâm cỗ, đâu phải họ chỉ nói chuyện đạo!”.
Sau này, được biết đã hình thành một “Mặt trận liên tôn chống cộng”. Song le, sự hiềm khích giáo – lương do lịch sử để lại và được người Pháp thống trị trước đây nuôi dưỡng hòng “chia để trị” vẫn chưa phai, nay quân xâm lăng lại muốn dùng sách lược “đoàn kết tôn giáo” đâu có ngon lành! Có một chuyện khá khôi hài cũng do cậu học trò kia ghi lại:
“Ông giáo lí lên bục giảng chẳng đặng nên tìm cách giải sầu chăng? Ông đi viếng cảnh chùa. Ông đi cùng một giáo sư kiêm thầy dòng, một giáo sư văn học kì cựu của trường chuyên dạy văn chương lãng mạn cho học sinh các lớp nhỏ tuổi. Vậy là hai ông thầy dòng đi vãng cảnh Phật rất chi hợp thời. Chẳng những hợp thời mà còn hợp thức nữa! Một ngày tốt lành nọ, hai ngài thả bước tới ngôi chùa cổ kính và khá nổi tiếng trong huyện. Ủa! Sao vị sư trụ trì vừa nhác thấy hai bóng áo thầy dòng đã tỏ ra lạnh nhạt thế? Hai vãng khách, -hay thuyết khách?- bèn thử lựa lời tán dương cảnh chùa rồi lân la hỏi thăm đạo bạn. Nhưng câu chuyện chính vừa mới khai mào thì vị đại diện nhà chùa đã sầm mặt, ngắt lời: “Các người bảo nước Nam không có Phật, còn chuyện gì để nói nữa!” Hai vị sứ giả nhà thờ đâm ra chưng hửng và bối rối. Chẳng biết ai trong hai vị một lần say giảng trên lớp đã tán rằng: Câu tụng niệm “ Nam vô Phật” có nghĩa là nước Nam không có Phật (hồi trước, người ta niệm “ Nam vô Phật” thay vì “ Nam mô Phật” như ngày nay). Chẳng phải do dốt, ít ra là về mặt chữ nghĩa. Với các vị thì tất nhiên chỉ có một đấng tối thượng và duy nhất là chúa Lời, nhưng báng bổ công khai lại là chuyện khác, nhất là lại vào lúc đang cần liên minh tôn giáo này! Không may, trong đám “học trò oắt con” có mấy phật tử; một đứa đã đem “lời giảng” đó hỏi lại sư cụ. Nói “không may” cũng không đúng, nói “không ngờ” thì đúng hơn. Các vị không ngờ có ngày cần cầu thân, -à, cầu hoà giới sư sãi!”.
Có lẽ cần nói ngay rằng cậu học trò ghi những lời trên chẳng phải là Việt minh, càng không phải là Cộng sản, -hồi này cậu ta chẳng hiểu mà cũng chẳng yêu gì cộng sản, nói toẹt ra là “chẳng biết mô tê chi về chính trị” nhưng cậu căm ghét thực dân Pháp. Cậu cũng không ưa các cha cố. Cậu khoái kể lại chuyện một “cha” mà một người bạn vốn là con chiên “ngoan đạo” kể với cậu:
Vị linh mục ấy người thấp béo, to giữa, rất đường bệ. Ngoài trọng trách rao giảng ở nhà thờ, cha còn sứ mệnh chăn dắt linh hồn con chiên một cách cụ thể, vật chất. Các thiếu niên tín đồ nào có lỗi là cha gọi vào nhà chung bắt nằm xuống phết roi vào đít. Cha kiểm tô do con chiên nộp rất chu đáo, kể cả các lễ lạt, biếu xén theo qui định không thành văn. Có lần, một tín chủ đem biếu các cha một cỗ lòng lợn. Cha liếc mắt xem qua rồi lắc đầu: “Thiếu một chiếc bầu dục, con ạ”.
Cậu có một số bạn học theo đạo, trong đó có mấy “dự bị thầy dòng” phá giới, -có nghĩa rằng họ vốn là học sinh chủng viện (nơi đào tạo cha cố) đang mấp mé thầy dòng rồi viện tạm giải thể sao đó. Các bạn học này chẳng hiểu hồi còn tu học trong chủng viện ra sao, chứ ra ngoài rồi thì “hương kinh, gió đạo” chẳng phải “bay đi ít nhiều” mà rất nhiều, nếu không nói là bay sạch. Một bạn tên là Điều thì yêu rất hăng; làm thơ tình gửi người yêu rồi chép vào ngay trong cuốn Thơ Thơ của Xuân Diệu (!). Có những câu đại loại: “Trời lạnh mà lòng sao ấm quá / Phải chăng nay anh được gần em / Tiếng mưa rơi, anh ngỡ điệu kèn / v.v…”. Bạn khác tên Thuận, lớn tuổi so với số đông trong lớp, bạn học vẫn gọi “già Thuận”, khá giỏi tiếng Pháp và tiếng la tinh, người gầy mảnh khảnh, rất hay dí dỏm chêm chuyện trần tục, ít nhiều tếu, vào cả chuyện học. Chẳng hạn, thầy giáo đọc bài “Đi giữa đường thơm” của Huy Cận trong đó có câu “Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ”, già Thuận cười tủm kể luôn với cậu ngồi cạnh: “Giờ học cá nhân trường côn-le nội trú, có hai anh ả trốn vào một phòng riêng tình tự. Tổng giám thị đi đến dòm vào lẩm bẩm: tưởng gì, té ra hai con cu cu”. Kể đến đấy “già” cười hắt khẽ một cái rồi cúi mặt xuống cuốn vở trên bàn, còn cậu bạn thì bị thầy phạt.
Cậu học trò đang được nói tới của chúng ta, -thuộc số năm chàng được hiệu trưởng tôn là “đàn anh” trong vụ giáo lí ngày nọ, không nghĩ rằng chuyện giáo lí kia, học hay không học, thực ra chẳng đơn giản. Nó hàm cái ý cạnh tranh, nếu không là đấu tranh. Hồi này, nơi bàn thờ Chúa trong các nhà giáo dân xuất hiệu câu khẩu hiệu: “Được lời lãi cả thế gian mà để mất linh hồn thì được lợi gì?”. Và con chiên được cảnh báo qua lời rao giảng ở nhà thờ: “Sắp có những ngày nắng lửa, mưa dầu, lụt máu vì nhiều con chiên nhẹ dạ đã để cho quỉ dữ lung lạc. Phải mau mau tỉnh cơn mê muội mới có cơ cứu rỗi linh hồn”. Lần ấy, cậu theo mấy bạn lò dò vào nhà thờ xem người ta lễ. Các cậu mộ cái vẻ sùng kính rất ưa nhìn của các chiên gái trẻ có khuôn mặt đức mẹ Maria, chứ chẳng có ý đồ chính trị, tôn giáo chi. Cậu chàng “diện” chiếc bờ-lu-dông len màu xanh nền nã mượn của bạn, vì hôm đó khá rét. Đang ren rén nghé mắt dò “cái cần tìm”, cậu bỗng giật mình vì một giọng sang sảng truyền xuống: “Cộng sản đã xâm nhập vào trường học của ta, chúng còn mưu toan len vào phá rối trong nhà thờ nữa. Có những kẻ đến trước nơi Chúa ngự mà ăn mặc loè loẹt rất vừa lòng quỉ Sa tăng”. Cậu nhìn lên thấy một cái bóng mập mạp đứng cao trên toà giảng phía giữa nhà thờ trong ánh sáng nhập nhờ.
Cậu không biết rằng ông giáo lí cũng như các cha chẳng hề mơ hồ: Việc đòi không được áp đặt tiết học giáo lí đúng là do chi bộ (ghép) đảng Cộng sản bí mật của hai trường, trường này và trường công đóng tại thị trấn, chỉ đạo. Chẳng biết những ai là đảng viên; chỉ biết sau lần cậu cùng bốn bạn được hiệu trưởng mời lên khuyên lơn, một bạn học già dặn hơn cậu, người vẫn phục cậu học giỏi, nhếch mép cười cười bảo cậu: “Đàn anh của lớp kia đấy!”. Chẳng phải là câu tình cờ nói vui.
Trường tư này còn cho đến năm 1950. Khi giáo dục phổ thông chuyển từ hệ 12 năm (5 năm tiểu học + 4 năm trung học phổ thông + 3 năm trung học chuyên khoa) sang hệ 9 năm (4 năm cấp một + 3 năm cấp hai + 2 năm cấp ba) thì trở thành trường dân lập. 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s