cây viết Nguyễn Trọng Thuật.

Một trong những tay bỉnh bút đắc lực của tờ Nam Phong là cây viết Nguyễn Trọng Thuật.

Nguyễn Trọng Thuật sinh năm 1883, người xã Mạn nhuế, huyện Nam sách, tỉnh Hải dương, bút danh Đồ Nam Tử, Quảng Tràng Thiệt cư sĩ; là nhà văn tiền phong của văn học chữ quốc ngữ tiền bán thế kỷ XX.

Từ nhỏ ông được gia đình cho học chữ Hán, lớn lên học chữ quốc ngữ và chữ Pháp và trở thành một nhà giáo bậc sơ học. Trong thời kỳ báo chí trở thành mảnh đất hấp dẫn cho những người yêu chuộng văn chương, Nguyễn Trọng Thuật đã quay sang làm báo, cộng tác với tờ Nam Phong của Phạm Quỳnh. Thời gian này, ông biên soạn một tác phẩm về quê nhà: quyển Danh nhân Hải dương (xb 1919).

Là một kẻ sĩ yêu nước nên ông bí mật tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Sau cuộc Khởi nghĩa Yên bái thất bại (1930), Nguyễn Trọng Thuật bỏ chính trị hoàn toàn dốc tâm vào văn học và Phật học. Ngoài việc sáng tác và biên khảo về văn học ông còn cộng tác với tờ Đuốc tuệ, cơ quan truyền giáo của Phật giáo miền Bắc (thành lập 1934) và biên khảo về Phật giáo trong tủ sách Phật học tùng thư ở Hà nội.

Ông qua đời ở Hà nội ở tuổi 57.
Tác phẩm của Nguyễn Trọng Thuật còn để lại gồm khá nhiều loại:
– Loại danh nhân lịch sử như Danh nhân Hải dương, Nguyễn Trường Tộ.
– Loại văn học: Thơ ngụ ngôn, Việt văn tinh nghĩa.
– Loại giáo dục: Gia đình giáo dục, Giáo dục phổ thông phải lấy gia đình làm trọng.
– Loại tiểu thuyết: Quả dưa đỏ được giải thưởng của hội Khai trí tiến đức 1925, Cô gái hái dâu (kể tích nguyên phi Ỷ Lan và Lý Thánh Tông).
– Loại tôn giáo: Phật giáo tân luận, Bình luận về sách Khóa hư.
– Loại dịch thuật: dịch Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác.

Bộ Việt Văn tinh nghĩa của Nguyễn Trọng Thuật được coi như một bộ văn phạm Việt nam đầu tiên, tuy còn sơ lược nhưng tác giả đã có nhiều ý kiến xác đáng như về cách phân chia thời kỳ phát triển của chữ Hán khi du nhập vào đất Việt.
Theo ông, thời kỳ Bắc thuộc, mới đầu ta học chữ Hán theo âm của nòi Hán. Sang thời kỳ độc lập, chữ Hán được ta dùng theo nghĩa gốc nhưng phát âm khác và bước sang thế kỷ XX khi chữ quốc ngữ thịnh hành thì chữ Hán được viết theo mẫu tự a,b,c và đọc cũng hoàn toàn khác người phương bắc.

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại nhận xét chung về Nguyễn Trọng Thuật khá tinh tường như sau:
“Nguyễn trọng Thuật là nhà văn có cái chí hướng và lúc nào cũng muốn cho văn chương Việt nam có cái đặc tính Việt nam. Một tờ hài báo đương thời (tờ Ngày nay) đã đem câu này gán cho ông để giễu cợt: ‘Tôi là người Việt Nam’. Người ta có thể căn cứ vào câu này để kết luận về những tác phẩm của Nguyễn Trọng Thuật: tư tưởng ông như thế, nên những cái gì ông viết, ông cũng muốn cho nó có cái đặc tính Việt Nam.

Có điều chúng ta nên biết là Đông dương tạp chí chưa có truyện dài do người Việt nam soạn và Nam Phong tạp chí cũng phải đợi đến khi Quả dưa đỏ của Nguyễn trọng Thuật ra đời mới có truyện dài do người Việt nam viết để đăng báo, còn trước kia người ta chỉ đăng toàn tiểu thuyết dịch, thỉnh thoảng mới có một vài truyện ngắn được viết. Như vậy, trong buổi đầu thật rất có ít người nho học lại có óc sáng kiến như Nguyễn Trọng Thuật”.

Riêng độc giả miền Bắc, biết về Nguyễn Trọng Thuật nhiều hơn cả qua tác phẩm Quả dưa đỏ. Quả dưa đỏ cũng như Tố Tâm được coi như những truyện dài đầu tiên mang sắc thái của nền văn học mới xây dựng bằng chữ quốc ngữ.

Sự thực hai tác phẩm kể trên không phải là những truyện dài đầu tiên chịu ảnh hưởng cấu trúc tiểu thuyết Âu Tây trong Văn học Việt Nam. Trước đó ở trong Nam có nhiều tác phẩm truyện dài ra đời như Truyện Thầy Lazazo Phiền của Nguyễn Trọng Quản in năm 1887, Hà hương phong nguyệt của Lê Hoằng Mưu xuất bản năm 1912. Ngoài ra còn nhiều tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh cũng xuất hiện khá sớm nhưng nghệ thuật kể chuyện tới Quả dưa đỏ và Tố Tâm được coi như hoàn chỉnh hơn cả, nên các nhà nghiên cứu thường lấy hai cuốn này làm mốc để nghiên cứu sự phát triển của tiểu thuyết mới.

Ngoài ra, các cuốn tiểu thuyết của Đặng Trần Phất như Cành hoa điểm tuyết (1921) và Cuộc tang thương (1922), cũng có nhiều đặc sắc, ra đời trước đó nhưng không được các nhà nghiên cứu chú ý như Quả dưa đỏ vì Quả dưa đỏ có cơ hội được quảng cáo nhờ Nam phong và Hội Khai trí Tiến đức.

Quả dưa đỏ là một câu chuyện mượn tích cũ trong Lĩnh nam chích quái để chứng minh luận đề cái gì ta được hưởng ở kiếp này là do tiền kiếp, do thiên mệnh, và sự cố gắng của bản thân mà có chứ không phải do người khác ban cho dù là do bậc hoàng đế uy quyền.

Câu chuyện Mai An Tiêm và sự tích dưa hấu đã được chép trong tập truyện cổ Lĩnh nam chích quái nhưng Nguyễn Trọng Thuật đã hư cấu thêm nhiều chi tiết để biến thành một tiểu thuyết phiêu lưu theo kiểu “Robinson Suisse” (The Swiss Family Robinson) của Johann David Wyss. Tác phẩm của Wyss mô tả một gia đình bị đắm tàu lạc vào hoang đảo (cuốn này trước 1945 đã được nhà văn Nguyễn Xuân Huy dịch ra tiếng Việt) hợp với loại tiểu thuyết phiêu lưu hơn là Quả dưa đỏ như Nguyễn Trọng Thuật xếp loại tiểu thuyết của mình.

Nhận định về giá trị của tác phẩm, bà Phạm thị Ngoạn trong một luận án về Nam phong đã có nhận xét chính xác: “Bố cục theo kỹ thuật tây phương, cuốn tiểu thuyết phiêu lưu này giới thiệu các nhân vật thật điển hình, do đó người ta đã coi như một luận đề tiểu thuyết.

Mặc dù có những đoạn dài như độc diễn khiến cuộc đàm thoại nặng nề, nhưng không ai phủ nhận giá trị văn chương của cuốn Quả dưa đỏ. Tuy thời đó không gây được nhiều tiếng vang và không được coi như khuôn mẫu, cuốn tiểu thuyết này cũng đã vượt xa những tác phẩm khác, vì điển hình cho một loại tư tưởng và một thể văn dung hòa cả tân lẫn cựu.”

Sau đây là một đoạn trích trong Quả dưa đỏ mô tả chuyến đi đày của An Tiêm và vợ con ra hoang đảo về tội ngạo mạn với quân vương (Vua Hùng thứ 17), để thấy văn tài của Nguyễn Trọng Thuật trong thời kỳ chữ quốc ngữ còn xây dựng và óc sáng tạo cùng việc vận dụng nghệ thuật “tiểu thuyết mới” mới hình thành do ảnh hưởng của văn học Pháp.

AnTiem1

Giữa bể khơi

(An Tiêm vốn làm quan về đời vua Hùng Vương đời XVII; sau vì một câu nói làm cho vua giận, phải bị đày ra một nơi hoang đảo giữa bể. Đây là lúc An Tiêm đi thuyền ra đảo ấy).

Trời hâng hẩng rạng đông, ba chiếc mành, đánh cánh ra cửa bể mênh mông, đêm sương lạnh lẽo, thủy thủ ai nấy đều ngồi khuất để tránh rét, lúc đó ở cái mành đi giữa, lờ mờ có một người ra đứng trước gió, dựa lưng vào cột buồm trông xem cảnh bể, tự nghĩ một mình rằng: “Mình vốn sinh ở vùng đường bể, nhưng còn bé chưa từng ra bể mà biết cảnh bể thế nào; sau lưu lạc được vào vương cung, lúc việc chực chầu, khi đi chinh thảo, lúc đi khẩn hoang, nào cái cảnh vương triều đế khuyết, nguy nga hùng tráng, nào cái cảnh hậu cung thượng uyển mỹ lệ huy hoàng, nào cái cảnh rừng núi, cây cao suối mát, vượn hót chim kêu, lại như cái cảnh điền gian thì lúa mạ xanh om, tiếng nông ca theo tiếng gió véo von quãng đồng vắng, cảnh nào mình cũng đã lịch duyệt qua, mình chỉ ước được xem cảnh bể buổi sáng nữa, thì cái trí tang bồng kia mới phỉ, thế thì lần này mình không may mà lại hóa ra may, nếu không bị thoán ra qua đây, thì bao giờ được biết cái cảnh thiên nhiên nọ, phương chi lại được cái cửa bể Đại Nha này là một cửa bể có danh tiếng nhất trong vùng Nam Hải, cửa bể này lại thông với cửa bể Thần phù.

Lênh đênh qua cửa Thần phù,
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm;

nổi chìm nhờ đức cao xanh, ta đã đến đây, ta cứ xem ta ngắm cho sướng mắt thích tình”.

Thuyền chạy vùn vụt, gió thổi ù ù, sóng vỗ chòng chành, người ấy cứ đứng sừng sững, không hề nhúc nhích chút nào, chợt đâu vầng thái dương ở dưới gầm thương hải kéo lên đỏ lừng lững, trong hàm cái sắc kim quang lóng lánh, không lấy vật đỏ nào của thế gian mà tỉ nghĩ được, bấy giờ ánh triêu dương chiếu ra, mây khói sông nước đều đới có vẻ hồng hồng cả, rồi càng lên thế gian càng rạng dần ra, mà nhỡn quang của người càng chiếu rộng xa mãi ra được; sóng mênh mông bát ngát, tít tắp mù khơi không biết đâu là bờ, cơn mây bốn chân trời kéo lên tới tấp, khoảnh khắc biến thiên, vô số hình sắc, mà ngảnh lại phía tây chốn non sông tổ quốc thì mây ám sương sa không rõ gì cả, người ấy lại thêm ngậm ngùi vô hạn. Người ấy không phải là An Tiêm ở ba cái mành áp giải ra phối sở thì còn là ai? An Tiêm ngảnh lại trời tây tựa hồ có ý buồn, mà trông ra bể lại càng thích ý được thưởng một cuộc hào du hiếm có trong thân thế, lòng thơ phơi phới, bèn ngâm lên một bài rằng:

Vầng trăng lừng lững bể đông,
hần châu mù mịt mây phong non Đoài.
Sóng kềnh dào dạt doành khơi,
Lưng ngao ngùn ngụt chân trời mênh mang.
Sa chân xuống cõi trần hoàn,
Đã xem xem khắp kỳ quan của trời.”

– Hoàng Yên Lưu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s