NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT -18

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT (tiếp theo)

ghi và ngẫm Khi Nguyên

18. CẢM NHẬN QUẢNG BÌNH

1000Tôi “biết” Quảng Bình từ lúc còn bé tí, song mãi tới năm 1979, lần đầu tiên mới được đặt chân đến, trong một chuyến du xuyên Việt. Xe vượt địa đầu nam Hà Tĩnh, tâm trí tôi gọi về câu hát trong bài “Bình Trị Thiên khói lửa của Nguyễn Văn Thương: “Hướng về Nam! Ai đã qua đèo Ngang, đã sang Ba Rền, mến dòng sông Gianh, biết danh Lũy Thầy”. Vâng, đó là kí ức thời ba tỉnh Binh-Trị-Thiên chìm trong khói lửa lần thứ nhất (cuộc kháng chiến chống Pháp). Bài hát da diết nhắc nhở những địa danh của Quảng Bình, và của Quảng Trị, Thừa Thiên, những chốn tôi chưa từng được biết, nhưng nghe xao xuyến và bức bối như chính quê hương mình đang rên xiết.

Hai bên đèo Ngang là những xóm làng nghèo của hai tỉnh kề nhau, nhưng phía Quảng Bình đỡ xám hơn, song vẫn có vẻ quạnh hiu. Phía sau một làng thấp thoáng những mái tranh trong những cụm cây xanh lùm xùm, có một bãi đá trắng trên đỉnh một ngọn núi thấp trông như một nghĩa địa trong tranh ấn tượng. Ngày xưa, nơi đây còn là chốn hổ báo lai vãng. Hơn hai chục năm sau, đi qua tôi nghe nói đến khu kinh tế mới. Nhà ngói rải rác trong những vườn cây ăn quả: mít, xoài, … bên những mảng rừng bạch đàn. Bóng xe máy lượn trên các ngõ làng.

Xe qua Ròn, Ba Đồn, … những tên đất khá gợi. Trong những phần thưởng tôi được nhận hồi học tiểu học có cuốn “Quảng Bình thắng tích lục”. Tôi đã “chu du” trong cuốn sách mỏng đó. Nhiều địa danh lạ đã ám ảnh tuổi thơ tôi. Ròn cho đến lúc này còn giữ được cây cầu nhỏ xây từ hồi còn mồ ma thực dân Pháp, trước 1945. Người dân vẫn gọi là “cầu Xuphanuvông” theo tên tác giả, một chàng kĩ sư cầu-đường người Lào. (Chàng du học bên Pháp về và lấy một cô hoa khôi trường Đồng Khánh -Huế. Về sau, “chàng” là chủ tịch đầu tiên của nước Lào độc lập). Khách qua phà Ròn được chào mua nón lá Ba Đồn, thứ “đặc sản” góp phần làm nên duyên dáng Quảng Bình mà bức ảnh “cô gái cười trong nón” một dạo được dùng làm một hình ảnh quảng bá du lịch (chẳng hiểu vì sao sau đó lại thay bằng ảnh cô gái đội nón khác có cái cười “rộng mở” hơn nhưng không hồn nhiên bằng!). Cái cười này làm nhớ tới câu thơ xưa của Quỳnh Giao “Một hàng tôn nữ cười trong nón / Sông mở lòng ra đón bóng yêu”; nón ở đây là nón Huế và cái cười xưa ấy hẳn là e lệ hay tinh nghịch chứ không phải rạng rỡ như trong ảnh nói trên.

Xa xa mé biển, làng Cảnh Dương có vẻ bình lặng và yên phận như chưa từng nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến, nhất là thời chống Pháp.  

Xe dừng lại trước sông Gianh. Con sông mang vết thương lịch sử suốt hơn hai trăm năm, vẫn hằn dấu trong tâm tưởng người Việt cho đên giữa thế kỉ 20, một con sông khác của tỉnh gần kề cũng mang vết thương lịch sử còn nhức nhối hơn, con sông Bến Hải. Đứng ở bến đợi phà, nhìn mặt sông trải rộng trước mặt một vẻ man mác bình yên, tôi lắng nghe người dân sở tại kể chuyện những người cảm tử phá thủy lôi do máy bay Mĩ thả xuống, có người đã không trở về, thân thể tan biến trong dòng chảy. Lần đầu được tận mắt nhìn thấy dòng sông “chứng nhân lịch sử” nhưng 31 năm trước cậu bé choai choai trong không khí “Hướng về Nam” của vùng tự do bắc Liên khu Bốn đã tưởng tượng :

Sát khí che mờ cây núi Ngự

Máu hồng nhuộm tối nước sông Gianh

Cửa Tùng réo sóng hờn cô quạnh

Dấu cũ về đâu bóng cựu thành!

trong bài thơ đăng báo địa phương (báo viết tay), một bài thơ có mùi “yêng hùng” lãng mạn cuối mùa, song dù sao cũng chân thành.

Đến lần thứ ba tôi qua đây, chốn này đã có cầu. Bến đò, bến phà thường ghi dấu trong kí ức của khách lữ hành, nhất là những nơi từng diễn ra cảnh gặp gỡ hay tiễn biệt; nhiều bến đã đi vào văn thơ. Cái cầu, xe vút qua là thôi, ít ai còn nhớ đến. Song, với những chiếc cầu như cầu sông Gianh, những ai không thờ ơ với lịch sử mỗi khi vượt sông hẳn không khỏi vương ít nhiều hoài niệm.

Quá phà Gianh, đường quốc lộ Một lại đi gần sát biển. Đèo Lí Hoà, một cái đèo thấp từng là nơi trút bom của máy bay Mĩ, kể cả những bom “ế” chưa kịp thả xuống mục tiêu đã định, nay có thể nghĩ đến qui hoạch một khu du lịch. Dưới chân đèo là bãi Đá Nhảy, nơi kề bãi cát trắng những tảng đá nhiều hình thù kì thú như đang nhảy đùa theo sóng nước từng đợt kéo đến nô giỡn. Phía nam là làng cá Lí Hoà “cực kì” bám biển cả trong thời chống Mĩ. Xuôi chút nữa, đồng ruộng đột ngột trải ra bát ngát.

Thị xã Đồng Hới phơi ra dưới nắng nồng những phố xá đang xây dựng lại. Ít cây xanh, nhiều bụi. Đâu rồi cái thị xã gọn xinh, bình yên kề sông và gần biển mà một anh bạn “khoe” đã từng ghé qua hồi trước chiến tranh phá hoại của Mĩ khiến tôi phải ao ưóc? Hiện tại bộn bề và có phần lúi xùi, song thị xã này đang có qui hoạch tái thiết khá nhất trong số các thị tứ cùng cảnh ngộ, theo như dư luận đánh giá. Ngồi trên xe tôi thoáng thấy một doạn Lũy Thầy, tự hẹn sẽ có dịp đến chiêm ngưỡng tại chỗ. Đồng Hới có địa thế đẹp nhất trong số các thành phố tại sáu tỉnh bắc Trung bộ, sau Huế.

“Nếm cháo hàu ở Quán Hàu, hàu (hầu) rời đi chẳng đặng”, ngồi trên xe bàn định với nhau sẽ thưởng thức đặc sản, có người đã ứng khẩu ra một vế đối. Nhưng rồi bị nhỡ. Quán Hàu hồi đó nhà cửa còn lèo tèo. Thời “tỉnh dài, huyện rộng, hợp (hợp tác xã) to”, -thời tỉnh hợp nhất Bình-Trị-Thiên mà tỉnh lị đóng ở Huế-, đến thị xã Đồng Hới còn có cơ chịu phận sa xuống hàng thị trấn, nói chi một thị tứ nhỏ. Lần sau chúng tôi qua, cầu đã thay cho bến phà, xe du lịch xuyên Việt ít dừng. Đại tá H. cùng đi kể lại cái trận lụt khủng khiếp năm 1992. Đoàn của ông ta đã phải nằm lại Quán Hàu ba ngày. Nước trên đường cái ngập bánh xe, chỉ một xe quân sự đi được, vào Huế, có hai xe bọc thép lội nước đi kèm.

Vượt phà Gianh là đã đi dần vào miền cát. Đến một lúc, những động cát triền miên, dằng dặc, nhấp nhô uốn lượn, có những đoạn dựng lên tựa bờ luỹ. Chợt nhớ câu Kiều: “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”, hẳn là thi sĩ Tố Như đã lấy cảm hứng từ những dặm cát như thế này, dẫu không chỉ có cát vàng mà còn nhiều cồn cát trắng. Dải đất hẹp miền Trung vậy mà không hiếm những cánh đồng mắt nhìn thoải mái. Tuy nhiên, vẫn là nỗi ám ảnh cát. Quá nhiều cát. Có cái cầu trên quốc lộ Một bắc qua một lạch … cát. Một làng nom từ xa thấy khá trù mật, trước mặt là sông Nhật Lệ, mà sau lưng động cát áp sát nhà. Cánh đồng Lệ Thuỷ phía nam tỉnh trải ra ngút ngát nhưng có vẻ như không được cày bừa; người ta bảo hầu hết là ruộng “mội”, cách canh tác có những khó khăn riêng. Gần quốc lộ là Bàu Sen, hồ nước ngọt khá rộng, chỉ phía nam là kề xóm làng còn ba bề là cát ; liệu rồi đây gió có sẽ dồn cát xóa sổ nó không? Vùng này, kéo dài đến tận Hồ Xá của tỉnh Quảng Trị, nghe nói xưa từng có “truông nhà Hồ” nổi tiếng trong câu ca dao “Thương em anh cũng muốn vô / Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”. Tôi căng mắt và moi óc mà không thể hình dung được vùng đất bình thản và “dễ thương” như vầy lại có thể có một chướng ngại làm nhụt được thứ tình cảm mà thông thường là dám “ba bốn núi cũng trèo, năm sáu sông cũng lội, chín mười đèo cũng qua”!

* Ngày nay, đến Quảng Bình, không thể bỏ qua Phong Nha-Kẻ Bàng. Ngay chuyến đi năm 1979 ấy, tôi muốn ghé Phong Nha quá chừng, song trong đoàn chẳng một ai cùng nghĩ thế dù chỉ thoáng qua. Không chỉ vì đường đến đó không thuận tiện, mà vì ít người mơ tới cái động đã từng có tiếng từ hồi Pháp thuộc, kể cả những người làm du lịch.

Vào thế kỉ 21, tôi mới được đến Phong Nha lần đầu, trong chuyến du xuyên Việt thứ ba. Rời quốc lộ Một, từ ngã ba Hoàn Lão rẽ về phía tây chừng ba chục kilômét. Cảnh trí ven đường làm dịu lòng khách du.

Những cảm nhận trong chuyến thăm Phong Nha lần ấy vẫn đeo đẳng khi tôi ghé Phong Nha lần sau, năm 2006. Lần này đi theo đường Hồ Chí Minh vượt cầu Xuân Sơn, chứ không từ quốc lộ Một rẽ vào. Nơi đón khách xuống thuyền đi động Phong Nha nay đã thành một thị tứ. Du khách đã có chỗ ăn, nghỉ đàng hoàng, và có thể để ra nhiều thời gian để “du”; không như trước đây chỉ “ghé thăm” rồi trở ra Đồng Hới, thậm chí vô tuốt tận Huế. Lần này nữa, tôi vẫn bị hẫng, do đoàn. Với những điểm du lịch như PN-KB thì chỉ nên du “ta balô” thôi. Với một, hai người bạn cùng sở thích hoặc hiểu sở thích của nhau; thích đâu thì đến, mến đâu thì lưu lại vừa đủ; khi cần thì nhờ dịch vụ du lịch địa phương hoặc nữa, dựa vào dân địa phương.

Gần đây, tôi được biết đã có thêm nhiều phát hiện mới nơi di sản thiên nhiên thế giới này, trong đó hang Sơn Đoòng cao rộng nhất thế giới. Và, một hang còn lớn và đẹp hơn cả Phong Nha được chào đón khách du từ năm 2010, hang Thiên Đường, cái tên nghe như mời gọi lên … tiên cảnh (chứ mời gọi “lên thiên đường” thì hơi ngại!).

Ngày nay, con đường chiến lược Hồ Chí Minh xuyên suốt bắc-nam, cho đến nay dường như dành chủ yếu cho bọn lâm tặc và bọn buôn lậu. Đường qua Quảng Bình, có hai nhánh đông tây, mở ra bao triển vọng lớn nhiều mặt. Liệu ngành du lịch có biết tận dụng, nhất là cho sự thưởng lãm và khám phá Phong Nha-Kẻ Bàng?

* Tôi ít có dịp tiếp xúc với người Quảng Bình, chỉ có mấy bạn học xưa, nay tán lạc đi đâu cả. Trong số họ, có một người lưu trong kí ức tôi nhiều hơn. Đó là một cô gái. Chắc sẽ có người cười tủm: tưởng gì! Chẳng có chuyện chi riêng tư đâu. Tôi lúc bấy giờ là trai mới lớn ngờ nghệch, còn cô bạn thì nghiêm chỉnh. Cô tên Bảo, một cái tên con trai, tướng cũng hơi “con trai” một chút, nhưng hồn nhiên và khá hiền dễ bị bọn con trai sai vặt (kiểu nhờ vả). Điều làm tôi nhớ lâu là bài thơ cô đem khoe với tôi, còn “tranh luận” nữa. Bài thơ của một nhà thơ Quảng Bình khóc vợ. “Em chết rồi ư, em của anh? / Em đi sao được, nỡ sao đành! / Em còn trẻ thế, hai mươi tuổi / Con chửa hay đi, ở một mình”. Bấy giờ đang giữa cuộc kháng chiến chống Pháp. Ở vùng tự do Tuyên Hoá có một “Cô giáo trẻ nghèo nơi xóm núi / Quanh năm rau cháo dưỡng niềm tin …”. Người chồng công tác nơi xa … Cô bạn cho rằng bài thơ này hay, xúc động hơn bài thơ khóc vợ khác ra đời trước đó chưa lâu lắm, bài “Màu tím hoa sim” mà cô chê: vương mùi tiểu tư sản. Tôi chia sẻ sự đồng cảm của Bảo với nỗi đau buồn của nhà thơ xứ Quảng: “Ngày xưa anh chế tình Huy Cận / Nay thấm từng câu chuyện nát tan” và “Núi xa còn hẹn ngày mai sáng / Sao ở lòng anh mộng hết lành!” Cả khi nói lời “lập trường”, Bảo cũng không có vẻ lên giọng. Tôi nghĩ cô mang tính cách Quảng Bình trong những nét tính cách chung của các vùng đất “tẩm” gió Lào, gió mùa đông-bắc và bão lụt. Thật ra, tôi chẳng mấy hiểu về con người Quảng Bình; nhưng tôi cũng biết được: Quảng Bình là nơi đã sản sinh ra nhiều nhân vật lịch sử: Nguyễn Hữu Cảnh, Võ Nguyên Giáp, … , kể cả (trớ trêu của lịch sử!) Ngô Đình Diệm; và, thời hiện đại, Quảng Bình không chỉ có những mẹ Suốt chịu đựng, gan góc trong làm ăn và đánh giặc, mà còn có Lưu Trọng Lư chẳng hạn, từng là một tên tuổi trên thi đàn hồi “Thơ Mới”, và sau Cách mạng cũng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực văn nghệ.

 Hồi thực dân Pháp muốn trở lại đô hộ nước ta, chúng chiếm đóng và càn quét man rợ ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Hồi đế quốc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta, nơi chúng đánh phá ác liệt nhất là vùng “cán soong” thuộc liên khu Bốn cũ từ bắc sông Bến Hải. Chúng hòng chặn sự lưu thông “máu thịt” của hai phần “cơ thể” bắc nam nước Việt ở đoạn bề ngang thắt lại mà chỗ hẹp nhất nằm ở Quảng Bình.

 Lịch sử cũng “ưu ái” Quảng Bình. Đây là nơi địa đầu thời người Việt và người Chăm còn chia ranh giới ở dải Hoành Sơn, thời phân tranh Trịnh-Nguyễn. Đây là nơi xẩy ra trận chiến lớn cuối cùng kết thúc triều đại Tây Sơn. Đây cũng là nơi ẩn náu cuối cùng của vị vua nhỏ tuổi nhưng lớn khí phách: Hàm Nghi, trước khi ngài bị giặc Pháp bắt và đưa đi đày biệt xứ.

Quảng Bình nhiều cồn cát, nhiều núi non, khí hậu khắc nghiệt, hạn và lụt triền miên; song bình thường thì những con sông Gianh, Nhật Lệ,… duyên dáng, thơ mộng, thân thương; dải Trường Sơn hiểm trở mà che chở, nuôi dưỡng. Đất trời ấy, non nưóc ấy, lịch sử ấy chắc tạo nên cốt cách Quảng Bình. Cốt cách này, tất nhiên có hay có dở, có biến chuyển, góp vào sự đa dạng của bản sắc Việt Nam.

 

Hải Phòng, 11 – 2011

 

 (còn tiếp)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s