TÁC PHẨM CỦA VUA TỰ ĐỨC

TÁC PHẨM CỦA VUA TỰ ĐỨC MỘT DI SẢN VĂN HÓA
Bùi Đẹp Biên Soạn

vua_tu_ducVua Tự Đức (1847-1883) sinh ngày 22-9-1829, mất ngày 19-7-1883. Tên thật của ông là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm; còn có tên là Nguyễn Phúc Thì, miếu hiệu là Dực Tông. Sinh trưởng trong chốn Hoàng cung nên Tự Đức có những điều kiện thuận lợi để trau dồi học vấn và có thể xem đó là một trong những tiền đề để nuôi dưỡng tài năng cũng như lòng say mê sáng tác văn chương sau này của ông.

Là một hoàng đế, đồng thời là một tác gia có khối lượng sáng tác khá đồ sộ và phong phú cả nội dung lẫn hình thức, hẳn nhiên tên tuổi của Tự Đức đã đi vào lịch sử văn học.

Trên vũ đài chính trị, với những thất bại nặng nề của mình, Tự Đức đã bị lịch sử lên án (trong những chừng mực và thời đoạn lịch sử nhất định). Nhưng qua những sáng tác còn lưu lại của ông, phần nào giúp chúng ta hình dung được chân dung của một hoàng đế đầy những mâu thuẫn và bế tắc trước thời cuộc. Bằng những tác phẩm này, tác giả đã gửi gắm niềm mong mỏi trở thành một ông vua giỏi ra tay chấn chỉnh sơn hà, song trong thực tế điều ấy không thành.

Nhìn lại cuộc đời hoạt động văn học nghệ thuật của Tự Đức, phải thừa nhận một thực tế rằng, ông là “một cây bút” rất sung sức trên nhiều lĩnh vực: chính trị, văn học, sử học và ngôn ngữ… Những sáng tác cùng nhiều công trình biên soạn khảo cứu của ông là cả một hoạt động khoa học nghệ thuật đồ sộ, bề thế và đa dạng. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được một số lượng phong phú về tác phẩm của Tự Đức. Hiện nay, tại kho tư liệu văn bản cổ Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu được nhiều tác phẩm của ông, không kể những bài viết rải rác, đã có 19 tác phẩm (xin được xếp theo thứ tự Alphabet):

1. Đạo Biện A.2110 (*), tập sách bàn về chữ “Đạo” của Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca, Gia Tô, Hồi Giáo… của tác giả để xác minh đạo thánh hiền là tích cực và khuyên mọi người noi theo.

2. Luận Ngữ Thích Nghĩa Ca là tác phẩm dịch sách Luận Ngữ (từ chữ Hán sang chữ Nôm).

3. Khâm Định Đối Sách Chuẩn Thằng là bộ sách bàn về phương pháp soạn sách như đối chiếu, hiệu đính cho chính xác.

4. Ngự Chế Thi Ngũ Tập A.2344. Là một tập thơ gồm có 92 bài vịnh cảnh như: Cao Kiều Bộ Nguyệt, Hạnh Thư Quang Viên, Mộ Vũ…

5. Ngự Chế Thi Phú A.1098, là một tập thơ phú… tổng hợp. Gồm có các bài thơ vịnh nhân vật lịch sử như Nhạc Phi, vịnh thắng cảnh như cửa Thuận An, núi Thúy Vân; các bài phú về cảm tưởng đối với núi sông, thổ sản quý của miền Nam (chiếu hoa, mật ong, tôm cá…); các bài biểu về việc soạn xong bộ Tấu Khố toàn Thư. Phần phụ lục gồm có 62 bài thơ vua chọn trong Bạch Cư Dị như mừng mưa, xem gặt, cảnh nghèo khổ của nông dân…

6. Ngự Chế Thi A.1101 (gồm có 2 bộ), chủ yếu là những bài thơ của Tự Đức, Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Văn Giai… xướng họa. Những bài thơ vịnh cảnh thần tiên, người ở ẩn, hiền phụ, tài nữ… như Ngũ Lão, Sào Phủ, Trang Tử, mẹ Mạnh Tử, Y Doãn, Hán Cao Tổ, Nhạc Phi… và các bài mừng thọ. Phần phụ chép gồm các bài thơ vịnh lá rụng của vua Thanh Càn Long và thơ của triều thần Tự Đức họa lại (một số bài có chú thích).

7. Ngự Chế Thi Phụ Tạp Văn A.1793, sách có hai phần gồm những bài thơ ban bố cho sứ bộ Phan Huy Vịnh đi sứ triều Thanh, những bài thơ được viết khi đi thăm nhà Thái Học; các bài chiếu như chiếu lên ngôi, xét thăng thưởng cho quan lại, chỉnh đốn việc thi Hương, hoãn việc tuyển binh; các bài dụ về trị an, đê điều; các bài châm khuyên gián quan lại phải thanh liêm. Phần phụ chép có các bài tấu về điều lệ thi Hương, cấp tiền cho nhân dân các tỉnh Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên bị lũ lụt.

8. Ngự Chế Thi Tập A.2142, là một tập thơ về nhiều đề tài. Thơ vịnh nhân vật lịch sử Trung Quốc, như Hán Cao Tổ, Trương Tuấn, Nhạc Phi. Thơ vịnh cảnh mưa tạnh, nắng hạn, mùa lá rụng, tết Nguyên đán… Phần phụ chép có các bài dụ đời Thiệu Trị, tôn húy về việc học,… bài biểu tạ ơn của Nguyễn Khắc Tuần, Vũ Duy Thanh, Phan Nhật Tỉnh.

9. Ngự Chế Việt Sử Tổng Vịnh Tập A.148/1-2 (Nguyễn Mai biên tập, Miên Thẩm kiểm duyệt) gồm 14 bộ. Đây là một tập thơ gồm 212 bài thơ vịnh các sự việc, nhân vật lịch sử Việt Nam, vịnh những đế vương, hoàng hậu, hiền thần, gian thần… Mỗi bài đều có phần sơ lược tiểu sử của nhân vật, sự kiện được đề vịnh như: Hùng Vương, Lý Nam Đế, Trần Khắc Chung, Đỗ Thích, Nỏ thần, An Dương Vương…

10. Từ Huấn Lục là một tác phẩm ghi chép lời dạy của những người xưa, mang đậm tư tưởng phục cổ.

11. Tự Đức Cơ Dư Tự Tỉnh Thi Tập A.1541, gồm 560 bài thơ của Tự Đức, “Thị học thi” nhà vua kiểm tra, luận bàn về việc học, có bài thơ tự trách, thơ vịnh sử, vịnh cảnh vật.

12. Tự Đức Ngự Chế Thi A.136, gồm 12 bộ. Là một tác phẩm mà phần lớn những bài thơ cảm tác, ngâm vịnh, vịnh sử, hoài cổ, tạp vịnh, mừng tặng, khuyến quan lại…

13. Tự Đức Ngự Chế Văn A.120/a. Tác phẩm có ba phần: Tự Đức Ngự Chế Văn sơ tập, 2 bộ; Tự Đức Ngự Chế Văn nhị tập, 3 bộ, và Tự Đức Ngự Chế Văn tam tập, 4 bộ. Là những bài văn thể dụ, luận, châm, vịnh, tán, biểu, ký, phú, từ, câu đối, đầu đề văn sách… như dụ vạch tội Phan Thanh Giản; tựa quyển Việt Sử Tổng Vịnh; luận về việc chính không thắng tà, bài châm về “thất tình”.

14. Tự Đức Thánh Chế Tự học Giải nghĩa Ca AB.5/1-2. Đây là sách dạy chữ Hán (cho thể lục bát) giải nghĩa chữ Hán bằng chữ Nôm, mỗi đoạn có chú nghĩa bằng chữ Hán. Hầu hết các chữ đều được sắp xếp theo từng loại.

15. Tự Đức Thánh Chế Văn Tam Tập VHv.2237 (một bộ, chữ in), gồm các bài dụ khuyên các quan chăm làm việc, việc khánh thọ, ngũ tuần tấn phong các hoàng thân, khôi phục các quan bị cách chức, việc dùng người hiền tài, chuẩn bị cứu các tỉnh Bắc kỳ bị hạn, các bài sức chuẩn cứu bảy tỉnh Bắc Kỳ như Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên… bị bão, bài tự mừng Huân vương thọ 70 tuổi; biểu mừng thánh mẫu thọ 70 tuổi…

16. Tự Học Giải Nghĩa Ca VHv 626/1-4 (tác phẩm có 7 bộ), mỗi bộ 610 trang chữ in, có chữ Nôm và mục lục. Đây là bộ sách nghiên cứu và chủ yếu là giải nghĩa các chữ Hán bằng chữ Nôm (theo thể lục bát) về các môn địa lý, nhân sự, tín dụng, thảo mộc, cầm thú…

17. Thiệu Trị, Tự Đức chiếu dụ VHv.1131. Trong tập này, có một bài di chiếu của Thiệu Trị; 46 bài chiếu dụ của Tự Đức về việc truyền ngôi, nối ngôi, mừng thọ, khuyên thần dân, đặt khoa thi, canh nông, cầu hiền, đặt quân đội…

18. Việt Sử Tổng Vịnh VHv.2237, là một tập thơ vịnh các nhân vật, sự kiện lịch sử của Việt Nam, cụ thể về vua chúa, liệt nữ, hiền thần, trung thần, gia thần, truyện hay… như vịnh Hùng Vương, Đinh Tiên Hoàng, Phan Thị Thuần, Nguyễn Trãi, Trần Thủ Độ, Lý Thường Kiệt; về truyện Nỏ thần, ngựa đá Chiêu Lăng… Ông mượn đề tài để phát biểu ý kiến hay quan niệm của mình về những nhân vật, sự kiện lịch sử…

19. Vịnh Sử Diễn Âm.

Ngoài ra, còn một số bài ký rải rác chưa in thành tập như các bài “Thuận An tấn ký”; “Kiêm Cung ký” đều là những tác phẩm có giá trị. Mặt khác, tác phẩm của ông còn lưu ở nhiều văn bản khác như: Anh Miếu Dự Lục, Bác Học Hoành Từ Khoa Sách Văn, Báo Văn sao tập, Bỗng Châu Vũ Tiên sinh Thi Văn, Dưỡng Trai Tập, Đối Liên Ca Chương tạp lục, Giá Viên Toàn tập, Nam Âm Thảo, Quốc Triều Đối Sách, Quốc Triều Khoa Hương Lục, Quốc Triều Văn Uyển, Sử Luận Lược Biên, Tam Khổn Vận Sự, Tập Sao Văn Tập, Tây Phù Thi Thảo, Việt Sử Tiệp Kính… Cùng các tập Sắc Soạn Vịnh Sử Phú – một công trình nghiên cứu phê bình của ông là Huấn Địch Thập Điều (Thánh dụ của vua Thánh Tổ do Tự Đức diễn nghĩa).

Nhìn một cách tổng quát, Tự Đức không chỉ đơn thuần là một vị vua, mà ông còn là một nhà thơ, nhà văn và nói một cách không ngoa ông còn là một nhà ngôn ngữ. Nhưng sự nghiệp văn chương chính yếu của ông vẫn là thơ văn. Thơ của Tự Đức được đánh giá rất cao, đặc biệt là về mặt chữ nghĩa. Ông là người rất giỏi chữ nghĩa cho nên thơ của ông dùng chữ rất cao siêu, người đời sau khó lòng dịch một cách chính xác. Thơ của Tự Đức rất có tình, bởi vậy, từ cương vị một nhà vua, ông được xem là một nhà thơ Việt Nam ở thế kỷ XIX, đó là điều đáng trân trọng. Về văn chương, Tự Đức lại tỏ ra am tường về văn hóa Đông phương. Văn của ông có nhiều điển cố, điển tích nên rất sinh động, giàu tính thuyết phục. Chủ yếu các sáng tác này là những văn bản gửi cho quan lại như chiếu, dụ, sắc… những văn bản ban bố trước thần dân…

Không thể không thừa nhận những đóng góp lớn lao của Tự Đức đối với dòng văn học Việt Nam thế kỷ XIX nói riêng cũng như toàn bộ nền Văn học Việt Nam nói chung. Mười chín tác phẩm đồ sộ là một minh chứng xác đáng cho điều đấy. Dù tư tưởng của ông còn biểu hiện những hạn chế nhất định, nhưng cũng phải ghi nhận ở Tự Đức những nét đáng quý trong suy nghĩ, trong ước muốn, trong đạo đức của chính ông ta. Tiếc rằng, mọi ước muốn đó chỉ là những hoài bão khó lòng thực hiện được bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan của lịch sử.

Thông qua quá trình hoạt động chính trị và hoạt động văn học của Tự Đức, chúng ta có thể hình dung được tâm trạng của một nhà thơ, một nhà Nho, một Hoàng đế trước trách nhiệm đối với lịch sử. Dưới những góc độ nhìn nhận mới, vượt lên tất cả những định kiến, mặc cảm, những tác phẩm của Tự Đức là một di sản văn hóa mà không một ai có thể phủ nhận được. Đó là những tư liệu vô cùng quý báu đối với thể hệ mai sau.

Huế, tháng 2 năm 1994 ______________________________________________

(*) Đây là những ký hiệu văn bản của Viện Hán Nôm Hà Nội Bài viết có sử dụng một số tư liệu của Viện Hán Nôm Hà Nội, Từ Điển Văn Học – NXB KHXH – Hà Nội 1984 – trang 67. giới

Theo Vietart

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s