Thi văn của Nguyễn Ứng Long, thân sinh Nguyễn Trãi

Thân thế, thi văn và thơ xuân của Nguyễn Ứng Long, thân sinh Nguyễn Trãi

nguyenung-changuyen traiLý Anh Biên Kho

Tưởng nhớ đến Nguyễn Trãi, nhà văn nổi tiếng, nhà chính trị, nhà tư tưởng kiệt xuất, anh hùng dân tộc… chúng ta không thể không nghĩ tới người cha, người thầy kính mến, từng nuôi nấng và dạy dỗ ông trở thành nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam Thế kỷ thứ 15. Người cha đó là Nguyễn Ứng Long, khi ra làm quan cho nhà Hồ đổi tên là Nguyễn Phi Khanh.

I – Thân thế và thi văn
Về gia thế của Nguyễn Ứng Long (1355?-1428), sử sách ít nói đến. Trong Khảo về thân thế và sự nghiệp Nguyễn Trãi của Dương Bá Cung biên chép và đề tựa năm Nhâm Ngọ (1822), chỉ ghi Nguyễn Ứng Long “người làng Nhị Khê”. Trở về trước, ghi tổ tiên quê quán ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn (tức Phượng Nhãn, nay là huyện Chí Linh, Hải Hưng), sau mới dời về làng Nhị Khê. Tuy nhiên Dương Bá Cung có chép một đoạn chú thích về gốc tích họ Nguyễn trong Lịch đại thế biên lưu truyền bao lâu nay như sau: “Bản chép cũ nói, theo các đời truyền lại, ông nội Nguyễn Ứng Long sinh được hai người con trai, nhà rất nghèo, mới đến làng Ngọc Ổi, sau đổi tên là Nhị Khê. Người anh là thân phụ Nguyễn Ứng Long ngụ ở Nhị Khê, làm công cho một nhà bán hương…”.
Nguyễn Ứng Long thông minh từ thuở thiếu thời, biết làm thơ từ năm 11 tuổi, có tài xuất khẩu thành văn. Thuở đó, nhiều người nghĩ cậu bé sau này sẽ thành đạt.
Cậu học trò nghèo Ứng Long nổi tiếng học giỏi, năm 19 tuổi, được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán (1) đón từ Nhị Khê về kinh đô Thăng Long làm gia sư kèm dạy cho con gái tên gọi Trần Thị Thái. Quan Tư Đồ còn mời một nho sinh khác là Nguyễn Hán Anh quê ở Hồng Châu lên Thăng Long thành dạy cho cô em tên Trần Thị Thai. Trần Nguyên Đán rất trọng hai vị gia sư trẻ, thường gọi Ứng Long là “Thầy kiểm Nhị Xuyên” (Nhị Xuyên kiểm chính), Hán Anh là “Thầy kiểm Hồng Châu” (Hồng Châu kiểm chính). Nguyễn Ứng Long làm thơ tỏ tình với Trần Thị Thái, Nguyễn Hán Anh cũng học theo Ứng Long, tỏ tình với cô em Trần Thị Thai. Không bao lâu mối tình giăng mắc giữa thầy kiểm Nhị Xuyên với tiểu thư Thái “đâm chồi nở hoa”. Cậu học trò nghèo Ứng Long sợ bị tội, bèn “tẩu vi thượng sách”. Không ngờ Trần Nguyên Đán là người độ lượng, thấy việc xảy ra rồi, đành thuận theo ý trời chứ không câu chấp, gả Trần Thị Thái cho Nguyễn Ứng Long, Trần Thị Thai cho Nguyễn Hán Anh.
Nguyễn Ứng Long không để lại một đoạn hồi ký hay bài thơ nào về mối tình này, chỉ có nhà sử học Ngô Sĩ Liên, đầu nhà Lê, Thế kỷ 15, từng viết trong Đại Việt sử ký toàn thư về mối tình của hai nho sinh dạy học cho hai cô con gái Trần Nguyên Đán: “Ứng Long (tức Nguyễn Phi Khanh) nhân đùa bỡn lả lơi, làm thơ ca bằng quốc âm trêu ghẹo Thái, rồi thông dâm, Hán Anh cũng làm thơ quốc âm bắt chước Ứng Long. Khi Thái có mang, Ứng Long bỏ trốn. Đến ngày Thái đẻ, Trần Nguyên Đán hỏi rằng: ‘Ứng Long đâu rồi?’ Người nhà trả lời: ‘Ứng Long sợ tội bỏ đi rồi’. Nguyên Đán nói: ‘Vận nước sắp hết rồi, biết đâu không phải là trời xui ra thế, vị tất không phải là phúc của nhà mình’. Bèn gọi hai nho sinh về bảo rằng: ‘Người xưa đã có việc này, không thấy chuyện Văn Quân và Tương Như hay sao? Nếu được như Tương Như để tiếng đời sau thì ta cũng bằng lòng’. Hai nho sinh rất cám ơn, cố sức học hành, thi đỗ thành tài”. Hài nhi bà Trần Thị Thái vừa sanh ra chính là Nguyễn Trãi, vị anh hùng dân tộc Việt Nam Thế kỷ 15.
Tài liệu không cho biết Trần Thị Thái người như thế nào và Nguyễn Phi Khanh cũng không hề nói tới vợ. Chúng ta chỉ biết bà Trần Thị Thái qua đời khi còn trẻ qua ghi chép của Nguyễn Trãi trong Băng Hồ di sự lục: “Dư mẫu, công đệ tam nữ dã, tiên công nhi một” (tạm dịch: Mẹ tôi là con gái thứ ba của ông ngoại Trần Nguyên Đán. Qua đời trước ông ngoại). Trần Nguyên Đán có 11 người con trai và gái, nhưng chỉ có 5 người được biết đến do sử sách nhắc đến: Trần Mộng Dữ, Trần Thúc Dao, Trần Thúc Quỳnh, Trần Thị Thái và Trần Thị Thai.
Mối tình giữa gia sư và con gái quan Tư Đồ không được Nguyễn Ứng Long ghi lại trong thơ văn, chỉ nói đến vợ con một lần trong bài thơ Ngẫu tác (2):

偶作
自詫平生履素絲,
文章無分敢論時。
展禽焉往非三黜,
章子誰云惰四肢。
老即田園真事業,
心無暮夜愧妻兒。
乾坤形著皆吾道,
飛躍高深可遂宜。

Phiên âm

Ngẫu tác
Tự sá bình sinh lý tố ti,
Văn chương vô phận cảm luân thì.
Triển Cầm yên vãng phi tam truất,
Chương Tử thùy vân nọa tứ chi.
Lão tức điền viên chân sự nghiệp,
Tâm vô mộ dạ quí thê nhi.
Càn khôn hình trước giai ngô đạo,
Phi dược cao thâm khả toại nghi.

Dịch thơ (Bùi Văn Nguyên)

Ngẫu nhiên làm thơ
Đời ta tơ trắng bước thênh thênh
Duyên phận văn chương thẹn nỗi mình
Ngay thẳng Triển Cầm bao lượt truất
Chây lười Chương Tử vốn oan tình
Già vui vườn ruộng nghề chân chính
Sống quý vợ con dạ trắng tinh
Hình thể đất trời khuôn đạo lớn
Cuộc đời chim cá nhẹ thênh thênh

Thơ văn của Nguyễn Ứng Long trong Nhị Khê Thi Tập còn lưu lại khoảng 77 bài được Lê Quý Đôn sưu tập vào Toàn Việt Thi Lục, Quyển III và Quyển IV. Dương Bá Cung chép 77 bài đó cùng hai bài văn khác thành cuốn Ức Trai Thi Tập II, đặt tên là Nguyễn Phi Khanh Thi Văn. Trong thi văn của mình, Nguyễn Ứng Long không để lại một vài đoạn hồi ký hay bài thơ gửi vợ, nhưng lại viết khá nhiều bài thơ ca ngợi hoặc gửi cho bạn bè: Hồ Tông Thốc, Nguyễn Viêm, Vũ Thích Chi, Đỗ Tử Trừng, Phạm Nhân Khanh, v.v… Riêng đối với người em đồng hao Nguyễn Hán Anh, ông tỏ ra rất thân mật, làm nhiều bài thơ xướng họa rất thắm thiết:

送太學生阮漢英歸洪州
燈前昨夜話匆匆,
馬首今朝跨曉風。
望眼但懸天闕北,
歸心寧住水溪東。
槐庭月白憐棲鵲,
蘆岸秋高惜別鴻。
稻雪橙香村釀熟,
塵埃嗟我絆孤蹤。

Phiên âm

Tống thái học sinh Nguyễn Hán Anh quy Hồng Châu
Đăng tiền tạc dạ thoại thông thông,
Mã thủ kim triêu khóa hiểu phong.
Vọng nhãn đãn huyền thiên khuyết bắc,
Qui tâm ninh trú thủy khê đông.
Hoè đình nguyệt bạch lân thê thước,
Lô ngạn thu cao tích biệt hồng.
Đạo tuyết tranh hương thôn nhưỡng thục,
Trần ai ta ngã bạn cô tung.

Dịch thơ (Đào Phương Bình)

Tiễn thái học sinh Nguyễn Hán Anh về Hồng Châu
Chuyện trò đêm trước dưới đèn chong,
Gió sớm hôm nay vó ngựa lồng.
Mắt ngóng luống treo trời cửa bắc,
Lòng về há bận suối miền đông.
Sân hoè trăng tỏ thương con thước,
Ngàn sậy thu cao tiếc cái hồng,
Nếp trắng, chanh thơm hoà rượu xóm,
Thương ta cát bụi vướng trong vòng.

Nguyễn Ứng Long cũng làm nhiều bài thơ bày tỏ lòng biết ơn và ca ngợi quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán.
Chúng tôi xin giới thiệu bài thơ ông viết bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán khi được nhạc phụ cho một chú ngựa hay hiếm có.

謝冰壼相公賜馬
早歲才名泛不羈,
驪黃偶幸駿圖披。
長途每恨加鞭策,
空谷何心受縶維。
伯樂廄邊頻賞識,
王良範內更驅馳。
東風快踏朝天路,
希冀深懷答所知。

Phiên âm

Tạ Băng Hồ tướng công (3) tứ mã
Tảo tuế tài danh phiếm bất ky,
Ly, hoàng ngẫu hạnh tuấn đồ phi.
Trường đồ mỗi hận gia tiên sách,
Không cốc hà tâm thụ trấp duy.
Bá Nhạc cứu biên tần thưởng thức,
Vương Lương phạm nội cánh khu trì.
Đông phong khoái đạp triều thiên lộ,
Hy ký thâm hoài đáp sở tri.

Dịch thơ (Dương Văn Hoàn)

Cảm ơn Băng Hồ tướng công cho ngựa
Thuở nhỏ ham ganh chẳng chịu kìm,
Đen, vàng, may gặp ngựa hay tìm.
Đường dài, luống giận gia roi quất,
Hang trống, đâu cam cảnh trói ghìm.
Trong phép Vương Lương càng gắng sức,
Bên Tàu Bá Nhạc, được lời khen.
Gió xuân tung vó xông trời thẳm,
Thấm gội ơn sâu muốn đáp đền.

Nói chung, thơ Nguyễn Ứng Long có tình có nghĩa, cho chúng ta hình ảnh một con người nặng tình nghĩa với người ban ơn, nặng lòng với đồng liêu bè bạn, xử sự êm thắm với anh em.

Sau khi sinh Nguyễn Trãi, kết tinh của mối tình vụng trộm gia sư và học trò, vợ chồng Nguyễn Ứng Long và Trần Thị Thái sinh thêm bốn con trai: Phi Báo, Phi Ly, Phi Bàng và Phi Hùng. Không bao lâu bà Trần Thị Thái từ giã cõi đời trước khi thân phụ là quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán từ trần. Mẹ từ trần, Nguyễn Trãi ở với quan Tư Đồ cho đến ngày ông ngoại quy tiên. Nguyễn Ứng Long tự mình chăn dắt đàn con thơ dại.
Trong kỳ thi khoa bảng Giáp Dần niên hiệu Long Khánh thứ II, đời vua Trần Duệ Tông (1374), Nguyễn Ứng Long thi đỗ Nhị giáp tiến sĩ, nhưng vì con nhà thường dân lại dám lấy con gái hoàng phái, Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông truất bỏ không cho làm quan với câu nói đầy khinh miệt: “Con nhà nghèo mà lấy vợ con nhà phú quý, như vậy là phạm thượng, phế bỏ không dùng”.
Thời đại lịch sử và xã hội hỗn loạn Nguyễn Ứng Long đang sống không thể nào cho ông một con đường đi chính đáng, đành phải sống giữa bao nhiêu trái ngang của cuộc đời. Cuối cùng Ứng Long lại phải quay về làng Nhị Khê dạy học để nuôi sống bản thân và gia đình. Cũng có thể nói ông về làng Nhị Khê ẩn dật, sáng tác thơ văn nói lên nỗi lòng của kẻ có tài không được trọng dụng. Đọc bài thơ Cửu nguyệt thôn cư độc chước dưới đây có thể thấy được tâm trạng đó của ông:

九月村居獨酌
村醪酌罷自談詩,
欲把幽懷更向誰?
荒徑人行秋色少,
故園雨勒菊花遲。
龍山後會知何日?
彭澤歸心最此時。
萬事悠悠拚一醉,
了知身到鳳凰池。

Phiên âm

Cửu nguyệt thôn cư độc chước
Thôn lao chước bãi tự đàm thi,
Dục bả u hoài cánh hướng thùy?
Hoang kính nhân hành thu sắc thiếu,
Cố viên vũ lặc cúc hoa trì.
Long sơn hậu hội tri hà nhật?
Bành Trạch quy tâm tối thử thì.
Vạn sự du du phiên nhất túy,
Liễu tri thân đáo phụng hoàng trì.

Dịch thơ (Hoàng Khôi)

Tháng chín, ngụ trong xóm uống rượu một mình
Rượu xong tiệc bãi đến ngâm thơ,
Thổ lộ cùng ai dạ thẫn thờ?
Đường hẻm thu sang người vắng bóng,
Vườn xưa mưa bụi cúc còn tơ.
Long sơn trở lại hằng mong mỏi,
Bành Trạch ngày về luống đợi chờ.
Muôn việc rượu vào là hết nhớ,
Phụng hoàng bơi lội chỉ hay mơ.

Qua 3 bài thơ Thôn cư (I), Thôn Cư (II) và Thú quê nhà dưới đây, chúng ta có thể thấy Nguyễn Ứng Long về Nhị Khê ẩn dật, tìm cho mình thú vui trong cảnh xóm làng đạm bạc với tiếng ếch kêu sau trận mưa rào, đàn én đậu trước sân, bên khóm hoa cây tùng, thỉnh thoảng ra ngõ trò chuyện với mọi người về mùa màng, mưa nắng…

村居(I)
數椽書室掩蓬筸,
池草園林夢入騷。
覆屋霜勻千瓦重,
侵門日上半籬高。
病中活計存靈藥,
身外浮名付濁醪。
萬事無營心自可,
春風滿砌太陶陶。

Phiên âm

Thôn cư (I)
Sổ duyên thư thất yểm bồng cao,
Trì thảo viên lâm mộng nhật tao.
Phú ốc sương quân thiên ngõa trọng,
Xâm môn nhật thượng bán ly cao.
Bệnh trung hoạt kế tồn linh dược,
Thân ngoại phù danh phó trọc giao.
Vạn sự vô doanh tâm tự khả,
Xuân phong mãn xế thái giao giao!

Dịch thơ (Đào Phương Bình)

Ở quê (I)
Vài gian nhà sách khuất chòm lau,
Hồn thả miền thơ, trước cỏ ao.
Phủ mái, sương gieo nghìn ngói nặng,
Lấn hiên, hồng dọi nửa phên cao.
Ốm đau kế sống dành tiên dược,
Danh hão ngoài thân phó rượu đào.
Vạn sự mưu chi, lòng tự nhủ,
Thêm xuân lộng gió, thú bao nhiêu!

村居(II)
松筠三徑在,
歲晚薄言歸。
把酒看秋色,
攜筇步夕暉。
雲空山月出,
天闊塞鴻飛。
忽聽昏鐘報,
呼童掩竹扉。

Phiên âm

Thôn cư (II)
Tùng quân tam kính tại,
Tuế vãn bạc ngôn quy.
Bả tửu khan thu sắc,
Huề cùng bộ tịch huy.
Vân không sơn nguyệt xuất,
Thiên khoát tái hồng phi.
Hốt thính hôn chung báo,
Hô đồng yểm trúc phi.

Dịch thơ (Hạt Cát)

Ở quê (II)
Bóng tùng xanh ba dãy,
Năm hết gửi ít lời.
Ngắm thu nâng chén rượu,
Chống gậy dạo chiều lơi.
Mây cao trăng lấp ló,
Trời rộng nhạn chơi vơi.
Bỗng nghe chuông chiều vọng,
Bảo trẻ gài phên thôi.

村家趣
抱籬竹樹萬條槍,
老屋弓餘古寺傍。
過雨池塘蛙語聒,
落花庭院燕泥香。
閒情湛湛春醪足,
世路茫茫午睡長。
醒後出門攜僕去,
逢人只向說農桑。

Phiên âm

Thôn Gia Thú
Bão ly trúc thụ vạn điều thương,
Lão ốc cung dư cổ tự bàng.
Quá vũ trì đường oa ngữ quát,
Lạc hoa đình viện yến nê hương.
Nhàn tình trạm trạm xuân giao túc,
Thế lộ mang mang ngọ thụy trường.
Tỉnh hậu xuất môn huề bộc khứ,
Phùng nhân chỉ hướng thuyết nông tang

Dịch thơ (Ngô Văn Phú)

Thú vui quê nhà
Bốn bề nhọn hoắt rào tre
Một gian lều nát gần kề nhà xưa
Ao bèo ếch gọi sau mưa
Sân ngoài hoa rụng, day dưa én chào
Thư nhàn, bầu rượu lao đao
Đường trời man mác, gối đầu ngủ say
Tỉnh ra ríu rít tớ thầy
Chuyện cầy chuyện cấy gặp ai cũng bàn

Hoặc qua bài Gia viên lạc, chúng ta cũng có thể thấy Nguyễn Ứng Long vui thích với hoàn cảnh gia đình hiện tại, với đứa con (Nguyễn Trãi) mới lên sáu đã ham học. Ông không còn ham mê công danh, chỉ muốn được sống nơi yên tĩnh để đọc sách ngâm thơ.

家園樂
故園亂後有先廬,
六歲兒童頗愛書。
啼鳥落花深巷永,
涼風殘夢午窗虛。
心從閒處千憂失,
學到充時四體舒。
逐物勞人休誤我,
安仁志已遂幽居

Phiên âm

Gia viên lạc
Cố viên loạn hậu hữu tiên lư,
Lục tuế nhi đồng phả ái thư.
Đề điểu lạc hoa thâm hạng vĩnh,
Lương phong tàn mộng ngọ song hư.
Tâm tòng nhàn xứ thiên ưu thất,
Học đáo sung thời tứ thể thư,
Trục vật lao nhân hưu ngộ ngã,
An nhân chí dĩ toại u cư.

Dịch thơ (Đào Phương Bình)

Thú vui gia đình
Loạn xong vườn cũ mái nhà xưa,
Ham học, mừng ta có trẻ thơ.
Hoa rụng chim kêu bên ngõ vắng,
Mộng tàn gió mát dưới song trưa.
Tâm hồn thanh thản ngàn lo hết,
Học vấn sâu xa, tứ thể thư.
Dục vọng, chớ nên lừa gạt mãi,
An nhân chí đã thuận u cư

Tư tưởng “Vui nhàn theo lẽ trời” của Nguyễn Ứng Long cũng là tư tưởng của nhạc phụ Trần Nguyên Đán. Tuy nhiên, tuổi tác khác nhau, thích hợp người này, người kia không thích hợp. Nhiều bài thơ Nguyễn Ứng Long tặng Trần Nguyên Đán đều ca tụng nhạc phụ “biết làm theo lẽ trời”, có khi ra giúp đời, có khi lại ở nhà, tuy làm rường cột cho xã tắc, tâm chí vẫn còn ở núi sông. Tháng Bảy Âm lịch thời Trần Phế Đế, quan Tư Đồ rời chốn quan trường về Côn Sơn an nghỉ tuổi già. Trước đó một năm ông đã cho người đến phát cây, san gò, đắp móng, xây tường, dựng nên nơi yên nghỉ hoặc vui chơi, gọi là Động Thanh Hư. Nguyễn Ứng Long liền viết bài văn xuôi Thanh Hư động ký, ca ngợi nhạc phụ là người “Quân tử”, bậc “Hiền đạt”… Có thể nói Thanh Hư động ký là áng văn dài nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam. Người viết xin trích một đoạn giới thiệu cùng quý vị:
… …
我冰壼相公以天鍾岳降之才,蓍蔡皇謨,棟梁宗社。頃遭大定之變,有清內難之功。靜倒懸於國脈線髮之際,任獨力於邦基臲卼之日。是乃乾坤締造之一初也,非動以天者能苦是乎?及其昏亂之蹟息,仁義之效白,王業金甌,國家盤石,然後留侯,晉公之志,始浩然而不可遏,是又明哲保身之一機也,非樂以天者又能若是乎?
… …

Phiên âm

……
Ngã Băng Hồ tướng công dĩ thiên chung nhạc giáng chi tài, thi thái hoàng mô, đống lương tông xã. Khoảnh tao Đại Định chi biến, hữu thanh nội nạn chi công. Tĩnh đảo huyền ư quốc mạch tuyến phát chi tế, nhậm độc lực ư bang cơ niết ngột chi nhật. Thị nãi càn khôn đế tạo nhất sơ dã, phi động dĩ thiên giả năng nhược thị hồ? Cập kỳ hôn loạn chi tích tức, nhân nghĩa chi hiệu bạch, vương nghiệp kim âu, quốc gia bàn thạch, nhiên hậu Lưu Hầu, tấn Công chi chí, thủy hạo nhiên nhi bất khả át, thị hựu minh triết bảo thân chi nhất cơ dã, phi lạc dĩ thiên giả hựu năng nhược thị hồ?
… …

Lời dịch (Trần Lê Sáng)

… …
Tướng công Băng Hồ của ta, lấy cái tài trời xây núi dựng để quyết định mưu lược cho nhà vua, làm rường cột cho tông xã. Khi xảy ra cuộc biến Đại Định. Người đã có công dẹp yên nội loạn. Trong lúc vận nước đương như treo trên sợi tóc, Người một mình gánh vác công việc của những ngày nước nhà điêu đứng. Đó chính là buổi đầu của sự xây dựng trời đất. Nếu không phải Người đã hành động theo lẽ trời thì có thể làm được như thế chăng? Khi tình hình hỗn loạn đã được dập tắt, hiệu quả của việc nhân, nghĩa đã tỏ rõ, vương nghiệp vững như âu vàng, nước nhà yên như bàn thạch, thì cái chí của Lưu Hầu, Tấn Công mới mạnh mẽ không có gì ngăn cản được Người nữa, đây lại là một việc để tỏ rõ sự sáng suốt của Người để giữ mình vậy. Nếu không phải Người biết tìm thú yên vui theo lẽ trời, lại có thể như thế được chăng?
… …

Qua những bài thơ và áng văn trên, chúng ta có thể đánh giá Nguyễn Ứng Long là nhà thơ xuất sắc đại diện cho dòng thơ trữ tình và nhân đạo. Ngoài tình nghĩa đối với người thân và bạn bè, ông còn nói nhiều đến bà con lối xóm với tấm lòng ưu ái. Thơ ông còn phản ánh xã hội đương thời đầy biến động, loạn lạc, dân tình khổ sở vì chạy giặc, thiên tai, mất mùa… Ngoài miêu tả những hình ảnh rất chân thực về cuộc sống tiêu điều, kiệt quệ của người dân, thơ Nguyễn Ứng Long còn là bản cáo trạng cực kỳ nghiêm khắc. Bài thơ đệ trình quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán dưới đây cho thấy ông đã dùng lời lẽ đanh thép lên án quan lại nhà Trần:

村居感事寄呈冰壼相公
稻畦千里赤如燒,
田野咻嗟意不聊?
后土山河方滌滌,
皇天雨露正迢迢。
吏胥網罟渾多竭,
民命膏脂半已消。
好把新詩當奏牘,
只今臥病未能朝。

Phiên âm

Thôn cư cảm sự ký trình Băng Hồ tướng công
Đạo huề thiên lý xích như thiêu,
Điền dã hưu ta ý bất liêu.
Hậu thổ sơn hà phương địch địch,
Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều.
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt,
Dân mạng cao chi bán dĩ tiêu.
Hảo bả tân thi đương tấu độc,
Chỉ kim ngọa bệnh vị năng triều.

Dịch thơ (Đào Phương Bình)

Xúc động chuyện xóm làng,
đệ trình Băng Hồ tướng công
Mênh mông đồng lúa đỏ như thiêu,
Ngoài nội kêu than xiết nỗi sầu.
Dải đất non sông khô đến thế.
Từng trời mưa móc vắng làm sao!
Lưới tham quan lại vơ hầu kiệt,
Mạch sống dân gian cạn mỡ dầu.
Thơ mới này xin thay biểu tấu,
Vì đang nằm bệnh chửa về chầu.

Có thể nói, Nguyễn Ứng Long là người thể hiện trong thơ cái tôi trữ tình sâu sắc và day dứt. Đó chính là nỗi đau của một trái tim bất lực giữa cuộc đời tao loạn, không ổn định, nhà thơ chỉ là một lữ khách phiêu bạt với bao nỗi buồn về thế đạo.

Nguyễn Ứng Long là người có tài mà không được triều đình sử dụng, Trần Nguyên Đán hết sức thông cảm với con rể của mình. Nhiều lần ông tìm lời an ủi, khuyến khích, dỗ dành. Qua bài Ký tặng Nhị Khê kiểm chính Nguyễn Ứng Long Trần Nguyên Đán gửi tặng, có thể thấy ông gửi gắm nhiều hy vọng vào hiền tế (con rể). Theo ông, tương lai của con rể rất xán lạn, mai kia sẽ có địa vị trong xã hội.

寄贈蕊溪檢正阮應龍
朔風細雨轉淒涼,
客舍蕭蕭客思長。
籬下幽姿好晚節,
溪邊素艷試新粧。
胡兒未款花門塞,
裴老思歸綠野堂。
釣月耕雲何太早,
千鍾萬宇紫微郎。

Phiên âm

Ký tặng Nhị Khê kiểm chính Nguyễn Ứng Long
Sóc phong tế vũ chuyển thê lương,
Khách xá tiêu tiêu khách tứ trường.
Ly hạ u tư tồn vãn tiết,
Hồ nhi vị khoản Hoa Môn tái,
Bùi lão tư qui Lục Dã đường.
Điếu nguyệt canh vân hà thái tảo?
Thiên chung vạn vũ tử vi lang.

Dịch thơ (Nguyễn Đức Văn)

Gửi tặng thầy Kiểm chính Nhị Khê Nguyễn Ứng Long
Mưa phùn gió bắc cảnh thê lương,
Quán trọ đìu hiu khách vấn vương.
Dưới giậu vẻ thanh, còn tiết muộn,
Bên khe hoa trắng, nức mùi hương.
Hồ nhi chưa đến Hoa Môn tái,
Bùi lão ưng về Lục Dã đường.
Câu nguyệt cày mây sao sớm thế?
Muôn chung nghìn tứ tử vi lang.

Hiếm có người nhạc phụ đánh giá cao chàng rể mình như Trần Nguyên Đán đánh giá Nguyễn Ứng Long. Chàng rể cũng biết thân biết phận mình, huống chi Trần Nghệ Tông, người định đoạt số phận Nguyễn Ứng Long, vẫn còn chưa băng hà!

II – Bước ngoặt cuộc đời
Cuối đời Kiến Tân (1400), Hồ Quý Ly cướp ngôi Trần Thiếu Đế, phế bỏ nhà Trần, lập nên nước Đại Ngu, sử dụng những người có tài, mời Nguyễn Ứng Long ra làm quan, ông đổi tên là Nguyễn Phi Khanh (từ đây chúng tôi xin gọi là Nguyễn Phi Khanh). Năm 1401, Hồ Quý Ly truyền ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương (kết hôn cùng công chúa Huy Ninh, con gái vua Trần Nghệ Tông), Nguyễn Phi Khanh được phong chức Hàn lâm Đại học sĩ. Ít lâu sau lại phong Đại Lý Tự khanh, Thông Chương Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp và Thượng Khinh Xa Đô Úy, một chức quan võ cao cấp. Cũng trong năm 1401, nhà Hồ mở khoa thi Nho học, Nguyễn Trãi tham dự và đỗ Thái học sinh, đứng thứ tư, được trao chức Ngự sử đài Chính chưởng. Các em Nguyễn Trãi cũng lĩnh các chức quan nhà Hồ.
Năm 1407, quân Minh sang xâm lược nước ta, quân Hồ chống cự hơn một năm, cuối cùng không chống nổi mười mấy vạn hùng binh của quân xâm lược Tàu, nước mất nhà tan. Sau khi quân Minh bắt được Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương cùng các đại thần khác, đem quân chiếm cứ Việt Nam, chúng giải vua tôi nhà Hồ về Kim Lăng (4). Nguyễn Phi Khanh cũng là một trong số những người bị giải sang Tàu. Lúc bấy giờ Nguyễn Phi Khanh tuổi đã già yếu, buồn vì nỗi nhà tan nước mất, thân mình là kẻ tù tội. Ông biết mình chẳng thể sống được bao lâu để đền nợ nước trong lòng chua xót vô cùng. Khi quân Minh giải Nguyễn Phi Khanh đến ải Nam Quan, ông nhìn thấy Nguyễn Trãi và Phi Hùng đi theo tiễn biệt. Hai anh em thương cha khóc đỏ ngầu hai mắt. Nguyễn Phi Khanh biết người con lớn của mình là Nguyễn Trãi chí độ khác thường, sau này có thể làm nên sự nghiệp, phục vụ cho đất nước ngày càng vẻ vang, bèn vẫy Nguyễn Trãi lại, thừa lúc vắng vẻ khẽ bảo rằng: “Ta già rồi, chết cũng không còn hối hận gì nữa. Duy bình sinh ta rất ưa thích sơn thủy núi Bái vọng ở chốn cố hương, vậy để một mình em con đi theo ta, khi ta chết thì nó nhặt lấy xương, đem về chôn ở núi ấy là đủ rồi. Còn con, ta khuyên con nên trở về. Con là người có học có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Đâu phải đi theo cha, khóc sướt mướt như đàn bà mới là có hiếu”.
Nguyễn Trãi nghe lời cha nói phải, từ tạ quay về, để một mình Phi Hùng đi theo cha. Nguyễn Phi Khanh sang đến đất Tàu, chưa được bao lâu thì qua đời (5). Phi Hùng theo lời cha dặn, mấy năm sau thu thập hài cốt cha đem về táng ở núi Bái Vọng để người thõa nguyện ước ao lúc sinh bình. Những lời Nguyễn Phi Khanh căn dặn Nguyễn Trãi cho chúng ta thấy đến phút cuối cùng ông vẫn gắn liền với vận mệnh của đất nước.
Qua Nguyễn Phi Khanh thi văn, ta còn có thể thấy một khía cạnh khác trong tư tưởng của Nguyễn Ứng Long và con trưởng Nguyễn Trãi. Hai cha con ông không một chút gắn bó với nhà Trần. Lẽ ra Ứng Long là con rể Trần Nguyên Đán, phải trở thành bầy tôi cúc cung tận tụy với nhà Trần. Nhà Trần mất, phải chống lại kẻ tiếm vị để giữ ngôi báu cho nhà Trần. Nhưng không, chính vì nhà Trần đã ngăn chặn con đường tiến lên của ông. Thái thượng hoàng Trần Nghệ Tông đẩy ông xuống địa vị “hèn kém”. Nhà Trần còn, suốt đời ông không thể thi thố tài năng, thực hiện hoài bão của mình. Cho nên, khi họ Hồ cướp ngôi nhà Trần, chẳng những ông thờ ơ, không chút luyến tiếc, lại tìm thấy con đường thoát thân cho mình. Từ đó vụ “án” thường dân lấy vợ con nhà quan Trần Nghệ Tông kết tội tự nhiên được xóa bỏ. Ông ra giúp nhà Hồ, con trai Nguyễn Trãi ra ứng thí đỗ thái học sinh (tiến sĩ), được bổ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Hai cha con cùng làm quan trong triều đình nhà Hồ. Nhưng… không vì vậy mà mối quan hệ giữa hai cha con ông với họ Hồ mật thiết, bởi vì, như trên đã thấy, chí nguyện của hai cha con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi hoàn toàn không bảo vệ dòng họ này hay dòng họ kia. Khi quân Minh sang chiếm nước ta, Nguyễn Phi Khanh bị bắt cùng vua quan nhà Hồ, Nguyễn Trãi không giúp nhà Hồ, cũng không đứng về phía nhà Trần, không theo Trần Ngỗi (Giản Định Đế), con thứ Nghệ Tông, cũng không theo Trần Quý Khoáng (Trùng Quang Đế), cháu nội Nghệ Tông.
Sau 10 năm vắng bóng ít người biết Nguyễn Trãi lưu lạc ở đâu, ông lên Lỗi Giang yết kiến Bình Định Vương Lê Lợi, tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cùng nhau chống quân xâm lược Tàu. Khi ra mắt Lê Lợi, Nguyễn Trãi trao cho vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn bản Bình Ngô sách, trong đó ông vạch ra ba kế sách đánh quân Minh, chủ yếu là “tâm công” (đánh vào lòng người), để giành chiến thắng.
Sau khi xem Bình Ngô sách, Nguyễn Trãi được Lê Lợi phong cho chức Tuyên phong đại phu Thừa chỉ Hàn Lâm viện, ngày đêm dự bàn việc quân.
Tuân theo lời dạy của cha là Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi trở thành con người chân chính, dũng cảm, phấn đấu cho độc lập và giàu mạnh của dân tộc Việt Nam nửa đầu thế kỷ thứ 15, cuối cùng được phong là Anh hùng dân tộc.

III – Thơ xuân của Nguyễn Phi Khanh
Qua 79 bài thơ và văn trong Nguyễn Phi Khanh thi văn do Dương Bá Cung sưu tập, in trong bộ Ức Trai di tập, Nguyễn Ứng Long có làm một số bài thơ về mùa xuân và mùa thu, tuy nhiên không nhiều lắm. Người viết xin chép lại đây một số bài thơ xuân của ông để quý vị thưởng thức:

陪冰壺相公遊春江(I)
鮮雲晴日雪花天,
煙景三春勝柳川.
紅蓼白蘋吟況味,
羅裙綺袖醉因緣.
且談湖海江南士,
休訪風流采石仙.
極浦斜陽歌緩棹,
幾人同載孝廉船.

Phiên âm

Bồi Băng Hồ tướng công du xuân giang (I)
Tiên vân tình nhật tuyết hoa thiên,
Yên cảnh tam xuân thắng liễu xuyên.
Hồng liễu bạch tần ngâm huống vị,
La quần ỷ tụ tuý nhân duyên.
Thả đàm hồ hải Giang Nam sĩ,
Hưu phỏng phong lưu Thái Thạch tiên.
Cực phố tà dương ca hoãn trạo,
Kỷ nhân đồng tải Hiếu liêm thuyền!

Dịch thơ (Đào Phương Bình)

Theo Băng Hồ tướng công du xuân giang (I)
Trời sáng mây quang hoa tuyết đẹp,
Sông xuân khói tỏa cảnh vô biên.
Lục hồng tần trắng, thơ nhuần vị,
Áo lượt xiêm là, rượu mến duyên.
Hồ hải Giang Nam, bàn tới sĩ,
Phong lưu Thái Thạch, hỏi chi tiên.
Bến xa mái đẩy đưa chiều xế,
Ai Hiếu liêm chung khách một thuyền!

陪冰壺相公遊春江 (II)
三春媚煙景,
一棹擊滄浪.
習氣俱湖海,
憂心只廟堂.
清詩魚鳥共,
佳句芷蘭香.
興盡中流返,
山間日己黃.

Phiên âm

Bồi Băng Hồ tướng công du xuân giang (II)
Tam xuân mị yên cảnh,
Nhất trạo kích thương lương.
Tập khí câu hồ hải,
Ưu tâm chỉ miếu đường.
Thanh thi ngư điểu cộng,
Giai cú chỉ lan hương.
Hứng tận trung lưu phản,
Sơn gian nhật dĩ hoàng.

Dich thơ (Hoàng Khôi)

Theo Băng Hồ tướng công đi trên sông mùa xuân (II)
Tháng ba trời mây khói
Chèo quế lướt trường giang
Chí khí theo hồ hải
Tâm can ở miếu đường
Ý thơ gồm cảnh vật
Lời chữ ngát trầm hương
Đủ hứng chèo quay lại
Sườn non ánh xế vàng

東岸春夢
瀘水東邊瀘岸村,
霏霏江雨暗前門.
耳邊斷送春歸去,
萬綠叢中杜宇魂.

Phiên âm

Đông Ngạn xuân mộng
Lô thủy đông biên Lô ngạn thôn,
Phiên phiên hồng vũ ám tiền môn.
Nhĩ biên đoạn tống xuân quy khứ,
Vạn lục tùng trung đỗ vũ hồn.

Dịch thơ (Hoàng Khôi)

Mộng ngày xuân tại Đông Ngạn
Phía đông Lô thủy có Lô thôn
Trước cửa mưa bay điểm nét xuân
Văng vẳng bên tai ngờ mộng mị
Quyên kêu rừng biếc dạ bồn chồn

江村春景
繞村春柳綠成堆,
一帶溪流抱徑迴.
岸協雨晴煙色薄,
杜鵑聲急楝花開.

Phiên âm

Giang thôn xuân cảnh
Nhiễu thôn xuân liễu lục thành đôi,
Nhất đới khê lưu bão kính hồi.
Ngạn hiệp vũ tình yên sắc bạc,
Đỗ quyên thanh cấp luyện hoa khai.

Dịch thơ (Hoàng Khôi)

Cảnh mùa xuân ở xóm bên sông
Khắp thôn rừng liễu lợp xanh lè,
Đường lối quanh co bọc suối khe.
Trời sáng cỏ tươi mây khói nhạt,
Luyện hoa chớm nở quốc vội kêu.

重遊春江有感
去年三月珥河濱,
麗服相隨五六人,
岸草無情春自綠,
江流在眼客還新.
清吟雨後邀紅葉,
緩棹風前過白蘋.
長恐寸心遙魏闕,
五湖偏載讀書身.

Phiên âm

Trùng du xuân giang hữu cảm
Khứ niên tam nguyệt Nhị Hà tân,
Lệ phục tương tùy ngũ lục nhân.
Ngạn thảo vô tình xuân tự lục,
Giang lưu tại nhãn khách hoàn tân.
Thanh ngâm vũ hậu yêu hồng diệp,
Hoãn trạo phong tiền quá bạch tần.
Trường khủng thốn tâm giao ngụy

Dịch thơ (Đào Phương Bình)

Cảm xúc khi đi chơi sông xuân lần thứ hai
Tháng ba năm ngoái trên sông Nhị,
Sáu bẩy người theo đẹp áo khăn.
Cỏ bãi hững hờ xuân tự biếc,
Dòng sông quen thuộc khách như tân.
Sau mưa ngâm nhẹ ca hồng diệp,
Trước gió chèo khoan lướt bạch

春寒
凝雲漠漠霧沈沈,
釀作餘寒十日陰.
帶雨有痕粘樹絮,
傷春無語隔花禽.
書齋寂寂惟高枕,
世事悠悠正抱衾.
安得此身如橐籥,
和風噓遍九州心.

Phiên âm

Xuân hàn
Ngưng vân mạc mạc vụ trầm trầm,
Nhưỡng tác dư hàn thập nhật âm.
Đái vũ hữu ngân niêm thụ nhứ,
Thương xuân vô ngữ cách hoa cầm.
Thư trai tịch tịch duy cao chẩm,
Thế sự du du chính bão khâm.
An đắc thử thân như thác lược,
Như phong khư biến cửu châu tâm.

Dịch thơ (Hoàng Khôi)

Rét mùa xuân
Trắng toát làn mây hạt móc xuân,
Nghiêng bình mươi bữa rét khôn ngăn.
Mưa đầm tơ liễu mầu chưa đổi,
Chim hót bên hoa tiếng hết ran.
Vắng vẻ thư trai đành tựa gối,
Dằng dai thế sự chỉ chùm chăn.
Thân này đổi được thành lò bễ,
Chín cõi khuyên người đổi trí dần.

酬道溪太學春寒韻
渺渺春城雪正漫,
東風牢鑽未全乾.
宦情細惹楊煙薄,
客緒偏隨杏雨殘.
流水高山琴下韻,
紅旗赤幟夢將闌.
鄰渠萬姓皆吾與,
此屋誰家面面寒.

Phiên âm

Thù Đạo Khê thái học “Xuân hàn” vận
Diểu diểu xuân thành tuyết chính man,
Đông phong lao toản vị toàn can.
Hoạn tình tế nhạ dương yên bạc,
Khách tự thiên tùy hạnh vũ tàn.
Lưu thủy cao sơn cầm bất vận,
Hồng kỳ xích xí mộng tương lan.
Lân cừ vạn tính giai ngô dữ,

Dịch thơ (Hoàng Khôi)

Đáp thái học Đạo Khê, họa vần bài “Xuân hàn”
Trong khắp thành xuân tuyết ngập tràn,
Gió đông thổi mạnh vẫn chưa tan.
Nghĩ tình viễn hoạn cành dương biếc,
Buồn nỗi tha hương cánh hạnh tàn.
Lưu thủy cao sơn thôi nhắc nhở,
Hồng kỳ xích xí nghĩ liên miên.
Dân gian quanh quẩn đều cùng biết

Thơ xuân của Nguyễn Ứng Long (Nguyễn Phi Khanh) cũng như những bài thơ khác phần lớn miêu tả cảnh vật thiên nhiên một cách nhẹ nhàng và tinh tế. Nó còn toát lên sự mặc cảm, chán ngán thói đời bạc bẽo. Thơ của Nguyễn Phi Khanh còn mượn cảnh vật thiên nhiên như bến sông, bờ cỏ, dòng nước, cơn mưa, làn gió, chiếc thuyền… thể hiện tình cảm của con người.
Lý Anh
—————-
Chú thích:
(1) Tháng Hai âm lịch năm 1371, sau khi lật đổ Dương Nhật Lễ, ông được hoàng đế Trần Nghệ Tông phong làm Tư Đồ
(2) Những bài thơ của Nguyễn Ứng Long trong bài báo này chúng tôi đều lựa chọn trong trang mạng Trang thơ Nguyễn Phi Khanh – 阮飛卿 – Thi Viện
(nguồn: http://www1.agu.edu.vn/gs…H0f746801e0b827727118c8.1)
(3) Băng Hồ tướng công tức quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán
(4) Nay là thành phố Nam Kinh
(5) Theo gia phả họ Nguyễn ở làng Nhị Khê, Nguyễn Phi Khanh chết tại Trung Quốc năm 73 tuổi (khoảng năm 1428)

Chú thích các hình:
1- Công viên Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê
2- Tượng Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê
3- Tượng thờ Nguyễn Trãi
4- Tranh minh họa Nguyễn Phi Hùng đi cạnh cha là Nguyễn Phi Khanh đang bị tù đày
5- Tranh minh họa Nguyễn Phi Khanh căn dặn Nguyễn Trãi phải trả thù cho nước và nhà
6- Chân dung Nguyễn Trãi
– Theo TB

1 thought on “Thi văn của Nguyễn Ứng Long, thân sinh Nguyễn Trãi

  1. câu: lục tuế nhi đồng phả ái thư dịch ra đáng nhẽ phải là: sáu tuổi con thơ rất thích sách chứ nhỉ?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s