Cây Quạt trong Thơ ca Tây và Đông

Cây Quạt trong Thơ ca Tây và Đông
Khổng Đức

Cây Quạt trong Thơ Pháp

bv000015Dưới mắt của Mallarmé, chữ viết và đọc tạo thành một trò chơi bác học, chứng tỏ cái mà ông gọi là “dáng điệu của ý niệm” (les gestes de l’idée) và là “ hành vi thi tính (l’acte poétique), gồm có sự bắt gặp một ý niệm tương tợ phân chia thành một số những mô-típ có giá trị để tập họp nó lại, lằn xếp của cây quạt phù hợp với thi pháp lặp lại (reflets réciproques). Người ta có thể nói rằng đó là nhịp của ý nghĩa. Nó tạo thành những câu thơ và những đoạn tập hợp lại, những ý tưởng chia nhỏ ra như hình lăng trụ (subdivisions prismatiques). Cái thi tính lấp lánh, gấp xếp và những láy lại thành cặp với tư tưởng vừa tập hợp vừa phân chia ra. Nếu cây quạt là phương trượng đặc trưng của nữ giới, giá trị của nó là bộ phận đột khởi một quá trình của bài thơ không có gì là nam tính, kết nối với sự mất mát năng lượng. Baudelaire nhấn mạnh về sự lưỡng tính của thi nhân, trong khi Mallarmé lại nhấn mạnh về nữ tính. Người ta biết rằng những phục trang tủn mủn theo sở thích mang danh hiệu nữ giới.
Mallarmé viết nhiều vế cây quạt dưới dạng bốn câu, chỉ có ba bài dài là phác họa ba khuôn mặt tượng trưng cho ba mối tình : tình vợ chồng, con cái và tình riêng tư. Đó là ba nhân vật : Bà Marie là vợ, con gái là Geneviève, và người tình là Mery.
Cây quạt cho Méry Laurent, là một sonnet viết năm 1890, mang màu sắc của tính ái; ở đó Mallarmé trước hết là dừng lại ở sự tô điểm đối tượng, vẽ nên những hoa hồng trắng, mà hơi thở của người yêu đánh thức sự hiển hiện của tính lạnh lùng, tuy nhiên cử chỉ của nó lại giải thoát cái quán tính của sự tô điểm, vẽ ra những đài hoa trắng. Chúng ta hãy đọc vài đoạn nguyên văn bài thơ Cây quạt (tạm dịch lấy ý):

Ajeter le ciel en détail                    Thiên thần tung ra chi tiết
Voilà comme bon éventail             Đúng như cây quạt mỹ miều
Tu conviens mieux qu’une friole Em trở thành một bình pha lê quí
Nul n’enfermant à l’émeri             Như viên ngọc thạch vở tung
Sans qu’il y perdre ou le viole       Nó không mất mát hay cưỡng hiếp
L’arôme émané de Mery.               Hương vương bốc từ Mery

Bài thơ viết về cây quạt của bà Mallarmé ghi ngày 1-1-1891; chắc đó là quà tặng trong năm mới theo các nhà chú thích, rất khó diễn giảng. Theo Bertrand Marchal, dường như là ca tụng bà Marie về nội trợ, quét dọn bụi bặm trong nhà như đó là cây quạt. Ông đề cao sự hoạt động rất là bình dị và kết nối nó như một bài thơ.

Aile tout bas la courrìère                     Cánh thấp nhỏ của sứ giả
Cet éventail si c’est lui                          Chính bà là cây quạt
Le même par qui derrìere                     Nó ở cả phía sau
Toi quelque miroir a lui                        Như một cái gương cho em

Cây quạt của Mallarmé là cây quạt của nghệ thuật, vẫn mang hình ảnh chân thực của nữ giới, nhưng là nữ giới được che kín bằng trang phục, hóa trang bằng phấn son, rằng đẹp thì có đẹp như một họa phẩm, một giai nhân làm thỏa mãn thị giác và xúc giác thế thôi. Nó không giống như cây quạt của Hồ Xuân Hương, có thể nói là cây quạt bằng xương bằng thịt, nó có thể làm cho tế bào xúc động…

Hồ Xuân Hương (ước chừng 1765-1822) ra đời trước Mallarmé(1842-1898) gần một thế kỷ, kẻ ở phương đông , người ở phương tây; hoàn toàn xa lạ. Cùng một chủ đề “cây quạt”, nhưng hai cách diễn tả hoàn toàn khác nhau. Hồ Xuân Hương như nhà thơ tả chân, tả đúng hình ảnh của cây quạt, mà cũng chính là hình ảnh quí báu của nữ giới, không rụt rè, không che đậy như phơi trần trước mặt mọi người, còn rêu rao cả cái tác dụng như một công cụ cần thiết :

Chành ra ba góc da còn thiếu / Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi tắt gió / Che đầu quân tử lúc sa mưa

Cái tài tình của thơ Đông phương là ít chữ mà ý nhiều. Mallarmé là thủy tổ của trường phái tương trưng thơ Pháp, chữ dùng đầy ẩn dụ và cô đọng, được suy tôn như thi hào. Đề tài cây quạt làm đến ba bài cho ba đối tượng, dài lê thê vẫn không sao lột tả được hai mặt tĩnh và động tức cây quạt thực bằng giấy hay bằng vải và cây quạt sống chính thân, vũ khí chủ yếu của nữ giới như Hồ Xuân Hương. Càng đọc hai câu :

Chành ra ba góc da còn thiếu / Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.

Càng phục tài quan sát và diễn tả của Hồ Xuân Hương vượt cả cổ kim đông tây. Nhưng thơ mà chỉ nhắm vào việc quan sát với diễn tả không thôi thì tầm thường quá, nó phải vươn lên cao, hay lặn ngụp vào hố thẳm, nó là chân cảnh, là tiếng nói của tâm linh, nó là kết tinh phản ứng của thời đại…Nhưng do đâu mà nó đạt được những yếu tố kỳ đặc như thế?.

Cái rủi ro của HXHương là sinh ra trong một thời đại, trong một đất nước đầy nhiễu nhương. Thời đại vua Lê chúa Trịnh, một thời đại đầy thối nát, đầy kinh dị; vua hư vị, chúa hoang dâm, quan lại xôi thịt. sĩ phu hèn mạt. binh lính kiêu căng… Nhân dân lúc nào cũng lo sợ, sống giữa trần gian mà chẳng khác nào tự giam mình trong địa ngục. Mỗi một công trình, một tác phẩm văn học nghệ thuật kỳ vĩ ra đời đều phải có một nguyên nhân một lý do xác đáng chứ đâu có phải như các loài thực vật động vật bậy bạ. Một bài thơ bốn câu hay tám câu, dù gọi là ứng khẩu đi nữa cũng phải có sự thai nghén uẩn nhưỡng lâu dài, chứ có` phải đụng đâu nói đó mà được sao. Bài “cây quạt” của Hồ Xuân Hương cũng vậy, có phải tự nhiên mà có đâu, nó chính là con đẻ của hiện tượng Đặng Thị Huệ, từ một cô gái hái chè, một nữ tỳ bổng dưng trở thành đối tượng mê hoặc một ông chúa vốn cũng không phải tầm thường như Trịnh Sâm, làm đảo điên sụp đổ cả một triều đình. Một ông tướng từng khuấy động ở biên cương như Hoàng Đình Bảo, cuối cùng cũng phải chết thảm vì cái váy của vương phi. Đã hết đâu, lại còn thêm một đứa em tàn bạo là Đặng Mậu Lân, dựa vào hơi hướm của chị mà quậy nát cả kinh thành, chỉ mấy chục đứa tay chân đầu trâu mặt ngựa cầm gươm giáo nghênh ngang khắp kinh ấp, gặp đàn bà con gái giữa đường vừa mắt, tức thi Lân sai bộ hạ quay màn trướng ngay tai chỗ rồi lôi vào hảm hiếp; ai phản đối thi cho cắt ngay đầu vú, chồng hay cha nào kêu ca thi cho bẻ răng, hoặc đánh đập đến chết. Đứng trước những cảnh áp bức và uy hiếp như vậy, đã là người ai mà không cảm xúc, không đau khổ, không phản ứng, nhất là đối với những người giàu lương tri có học thức; nhưng trước bạo lực hung tàn ai mà dám mở miệng, hay phải né tránh quay mặt đi nơi khác. Với người thường, thì vì cuộc sống vì hoàn cảnh có thể lơ đi. Nhưng với nhà thơ thì hình ảnh uy hiếp đó lắng sâu vào tiềm thức, nó biền thành xung động bản năng đề kháng chống đối. Nhưng với kẻ yếu đuối lép vế thì lấy phương tiện gì mà chống đối, ôm trong lòng nhẫn nhục chịu đựng theo các nhà tâm lý hiện đại thì đó là hiện tượng ức chế lâu ngày thành bệnh. Do đó mà bản năng chống đối đề kháng của phái yếu là nguyền rủa chưởi bới ở sau lưng kẻ thù, thường là nói tục. Nên cây quạt của XHương cũng là một sự phản ứng hào hùng mà thôi. Cái thời đại mà nữ giới luôn luôn cam phần nô lệ “Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau “ Lễ nghi chúng ta thường cấm kị đề cập đến các bộ phận sinh dục của nam cũng như nữ, cho đó là tục là dơ nhớp. mà dơ thật vì đó cũng là nơi bài tiết tinh khí, nước tiểu, nữ còn có cả kinh kỳ…. Lại dùng nó làm đề tài cho thơ thì đó là sự chưởi bới cho hả hê, là phản ứng của kẻ yếu, sự phản ứng tồi tệ khi con người chịu nhẫn nhục hết nổi, tuy rằng vẫn tự biết là vũ khí qui giá nên phải che đậy. Cây quạt đúng là hình ảnh của âm hộ : Chành ra ba góc…, nhưng lại có khả năng mát mặt anh hùng ….hay Cho quân tử đội đầu…Ít ra phải sống dười thời đại của Trịnh Sâm – Đặng Thị Huệ mới có thể hạ bút viết được những câu như vừa nêu , hay Chúa dấu vua yêu một cái này. Thơ của Hồ Xuân Hương hay nói tục chính là vi bị ức hiếp quá đổi mà phải phản ứng đó thôi, có hiểu như vậy thí mới thấy Bà là một nữ anh kiệt. Tôi có thể nói thêm một chút là bài thơ “ Chàng cóc ơi, Chàng Cóc ơi … là thay mặt cho Đặng thị Huệ khóc Trịnh Sâm, chú chẳng phải Tổng Cóc , tổng kiết gì cả. Người ta thường coi trọng yếu tố tính cách cá nhân mà quên yếu tố tình cảnh (situation); đa số khi giải thích hành vi của người khác đều có khuynh hướng quy nguyên nhân là tính cách. Nhưng khi giải thích hành vi của chính mình lại có khuynh hướng quy nguyên nhân về tình cảnh.
Có thể nói Hồ Xuân Hương là một thiên tài hiếm có, bà là người đã vượt qua thời đại, là kẻ tiên phong đề cao giá trị của phụ nữ, coi thường giới sĩ phu, tư tưởng của bà vượt cả không gian và thời gian… Là con người của cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mà giống như con người của thế kỷ 21.

(ii) Đoàn Lê Giang: Bài Vịnh Cái Quạt của Hồ Xuân Hương cũng là sự giễu nhại bài Cái quạt (團扇 Đoàn phiến) của Ban Tiếp Dư.
Đây là bài thơ của nàng Ban:
新製齊紈素、/ 皎潔如霜雪 。
裁成合歡扇 、/ 團團似明月。
出入君懷袖、/ 動搖微風發。
常恐秋節至、/ 涼飆奪炎熱。
棄捐篋笥中 、/ 恩情中道絕。
(Tân chế Tề hoàn tố,/ Hạo khiết như sương tuyết.
Tài thành Hợp hoan phiến, / Đoàn đoàn tự minh nguyệt.
Xuất nhập quân hoài tụ, / Động dao vi phong phát.
Thường khủng thu tiết chí, / Lương tiêu đoạt viêm nhiệt.
Khí quyên giáp tư trung, / Ân tình trung đạo tuyệt.)
Dịch:

 Mới chế lụa Tề trắng, / Trong sạch như sương tuyết.
Đem làm quạt Hợp hoan, / Tròn trịa giống mặt nguyệt.
Ra vào trong tay vua, / Lay động sinh gió mát.
Thường sợ tiết thu đến, / Gió mát cướp nồng nhiệt.
Ném cất vào xó rương, / Nửa đường ân ái tuyệt.

Ban Tiếp Dư là cung nhân vua Hán Thành Đế. Nhà vua sợ Triệu Phi Yến ghen nên đã cho nàng đến hầu Thái hậu. Bị nhà vua lạnh nhạt, nàng Ban buồn khổ làm bài thơ này, chép trên cái quạt để trách nhà vua.
Nói theo ngôn ngữ nữ quyền luận thì bài thơ Cái quạt của Ban Tiếp Dư mang đậm màu sắc giới tính, thể hiện một cách nghĩ bất bình đẳng nghiêm trọng: người phụ nữ là vật sở hữu của người đàn ông, sống phụ thuộc vào thái độ của người đàn ông, vì thế lúc nào cũng nơm nớp sợ bị bỏ rơi, bạc đãi.
Hồ Xuân Hương cũng làm bài thơ Cái quạt 2. Bằng cái nhìn liên văn bản, người ta thấy dường như Xuân Hương đang đối thoại với Tiếp Dư:
Mười bảy hay là mười tám đây,
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay.
Mỏng dày chừng ấy chành ba cạnh,
Rộng hẹp dường nào cắm một cây.
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát,
Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,
Chúa dấu vua yêu một cái này.

Bài thơ vẫn đậm hơi thở của giới, nhưng không còn tình trạng bất bình đẳng như bài thơ của nàng Ban. Người nữ được biểu trưng bằng cái giống của họ, một cái giống tự tin về tuổi trẻ, về hấp lực giới tính của mình, một cái giống có tư thế chủ động và có một tầm cao ngang bằng, thậm chí còn hơn hẳn đối phương (Mát mặt anh hùng khi tắt gió/ Che đầu quân tử sa mưa – Cái quạt1). Hai bài thơ được viết ra như một cuộc đối thoại liên văn bản, mà bài sau làm ra như một sự giễu nhại về cái yếu ớt và cũ kỹ của bài thơ trước.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s