Du ký trong Nam phong

Du ký trong Nam phong

bia-nam-phong
Hoàng Yên Lưu

Theo Đào Duy Anh thì du ký là “sách ghi chép những điều trải qua trong cuộc du lịch”.
Du ký là một loại hình văn học vốn có sẵn trong văn học cổ của ta vì nho gia nếu có cơ hội thăm viếng nơi xa hay du sơn ngoạn thủy thường ghi lại nét đẹp của tạo hóa, nơi mình có cơ hội chiêm ngưỡng cùng tâm trạng trước “thắng cảnh, lương thời, thưởng tâm và lạc sự”.
Loại du ký khi xưa có thể xuất hiện dưới hình thức văn vần, văn biền ngẫu như thơ phú. Đó là trường hợp Trương Hán Siêu viết Bạch đằng giang phú khi thăm sông Bạch đằng và Chu Mạnh Trinh viết Hương sơn phong cảnh ca khi thăm Hương tích.
Tuy nhiên, dưới dạng ký hay du ký, viết bằng văn xuôi, phải kể những tác phẩm sau đây mở đầu cho thể du ký của chúng ta: Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác – 1720-1791), Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Ghi về vương quốc Khơ me, Chuyến đi thăm Bắc kỳ năm Ất dậu (1876) (Trương Vĩnh Ký –1837-1898); Như Tây nhật trình (Trương Minh Ký –1855-1900).
Không thể quên, du ký trong văn học Việt Nam trước thế kỷ XX thường được những quan lại hoặc viên chức, nhà truyền giáo công du ngoại quốc ghi chép và thường chỉ góp nhặt sự kiện một cách lẻ tẻ trong các cơ hội ngoại giao hay thăm viếng, với quan điểm hoặc quá tự cao (với giá trị truyền thống văn hóa của mình) hoặc quá tự ti vì sự lạc hậu về khoa học kỹ thuật so với ngoại quốc. Do đó, chúng chỉ là những bản tường trình hời hợt, thiếu mạch lạc, chứ chưa được kể là tác phẩm văn học.
Cho tới Nam phong tạp chí ra đời, thể du ký mới phát triển phong phú và có nhiều tác phẩm có giá trị xuất hiện.
Học giả Nguyễn Khắc Xuyên, trước 1975 ở Sài gòn, từng liệt kê các bài du ký trên tờ Nam Phong từ 1917 tới 1934, đã tìm thấy có tới 69 tác phẩm du ký. Trong số này có chuyên đề là phong cảnh và văn vật nước nhà có trên 50 tác phẩm với khá nhiều bài đến nay còn có giá trị, không những là tài liệu về câu văn quốc ngữ trong buổi xây dựng nền tảng mà còn về xã hội, lịch sử, phong tục cũng như địa lý… của nước ta những năm đầu của tiền bán thế kỷ XX. Có thấu đáo hoàn cảnh văn hóa này mới có thể giải thích được trào lưu canh tân tư tưởng và sáng tác trong những thế hệ kế tiếp như Thơ mới, Tiểu thuyết mới, Sân khấu mới…
Hơn nữa, qua những thiên du ký trên Nam Phong, hậu thế mới nhận rõ thêm công lao của nhóm Nam Phong trong việc dùng du ký để khêu gợi, cổ súy lòng gắn bó với quê cha đất tổ và tài bồi kiến thức cho những độc giả vốn trước đây bị giam hãm sau lũy tre xanh, ven bờ đê nhỏ, hay trong khuôn khổ “cửa Khổng sân Trình” hoặc trong nền giáo dục thuộc địa phổ biến chính sách ngu dân.
Đọc lại du ký trên 210 số báo Nam Phong, chúng ta tìm thấy những đặc điểm chung của những tác phẩm này như sau. Về nội dung có thể chia ra làm nhiều nhóm:
1- Loại du ký thuần tả cảnh, tả tình của người có cơ hội thăm một thắng tích hay trải qua một biến cố khác thường và lý thú, như: Cuộc đi chơi Sài sơn (Tùng vân); Một buổi đi xem đền Lý Bát Đế (Phạm Văn Thư); Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khê); Hương sơn du ký (Minh Phượng)…và Đi tàu bay (Phan Tất Tạo).
2- Loại kết hợp sự thăm viếng với việc tìm hiểu đất nước như: Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh), Chơi Lạng sơn, Cao bằng (Phạm Quỳnh); Du lịch đất Hải ninh (Trần Trọng Kim); Cảnh vật Hà Tiên (Đông Hồ và Nguyễn văn Kiểm)…
3- Loại xuất ngoại và tìm hiểu xứ người như: Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác), Pháp du hành trình nhật ký, Thuật chuyện du lịch ở Paris, Du lịch xứ Lào (Phạm Quỳnh); Trên đường Nam Pháp (Tùng Hương)…

Qua những thiên du ký kể trên, độc giả nhận rõ giá trị và tâm huyết của người viết cho dù chỉ kể lại cuộc phiếm du ở non nước quê nhà, khác hẳn với xu hướng vọng ngoại chỉ ca tụng các cuộc rong chơi của Tô Đông Pha trong Tiền, Hậu Xích Bích.
1- Người viết giữ được các phẩm tính cần thiết của thể du ký là thận trọng, trung thực với mục đích là giới thiệu cái đẹp của non sông đất nước, những nét thuần phong mỹ tục của giống nòi và tính cần cù, thiện lương và can đảm của người Việt. Khi giới thiệu văn minh, phong cảnh ngoại quốc, các tác giả giữ được công tâm khi ca tụng tiến bộ xứ người và thẳng thắn phê bình những gì gọi là hủ tục và chậm tiến ở đất nước.
2- Các tác giả du ký có tiếng như Phạm Quỳnh, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Trọng Thuật… có nghệ thuật viết du ký điêu luyện, khiến những tác phẩm tưởng rằng khô khan lại có sức hấp dẫn, kích thích sự tìm hiểu và dấn thân của người đọc như những câu chuyện phiêu liêu, mạo hiểm và sáng tạo.
3- Chữ quốc ngữ và văn quốc ngữ, ngay do các Nho gia như Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, Đặng Xuân Viện… sử dụng, dù còn nặng về từ ngữ cổ, câu văn dài, nhưng đã tỏ ra có phần gãy gọn và sáng sủa, nên sau gần một thế kỷ mà còn có khả năng truyền thông cho những thế hệ hậu bối.
Học giả họ Nguyễn khi biên khảo Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí, 1917-1934 (Trung tâm học liệu xb, Sài gòn 1968) đã có nhận xét về thể loại du ký trên Nam Phong như sau: “Nhiều khi chúng ta tự cảm thấy, sống trong đất nước với giang sơn gấm vóc mà không được biết tới những cảnh gấm vóc giang sơn. Thì đây theo tờ Nam Phong, chúng ta có thể một phần nào làm lại cuộc hành trình qua tất cả những phong cảnh hùng vĩ nhất, đẹp đẽ nhất của đất nước chúng ta từ Bắc chí Nam, từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến đảo Phú Quốc, từ núi Tiên Du đến cảnh Hà Tiên và Ngũ Hành sơn, từ Cổ Loa, Hạ Long đến Huế thơ mộng… Với thời gian, hẳn những tài liệu này càng ngày càng trở nên quý hóa đối với chúng ta…”
Nguyễn Khắc Xuyên nhấn mạnh những tác phẩm du ký giá trị trên Nam Phong: “Trong mục du ký này phải kể bài Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, Lại tới Thần kinh của Nguyễn tiến Lãng, Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ và nhất là Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh”.
Trong thực tế, du ký của Nam Phong trong những năm đầu thế kỷ XX có ảnh hưởng gì tới độc giả ba Kỳ hay không? Hiển nhiên là có.
Chủ bút Nam Phong, Thượng chi Phạm Quỳnh, kể lại, trong bài Cùng các phái viên Nam Kỳ đăng trên Nam Phong số 32, tháng 2, 1920, lời tâm sự của một ký giả Miền Nam nhờ du ký của Nam Phong mà mở rộng tri thức và cảm thông:
“Trong một chuyến tới thăm Hà nội, ông Nguyễn Tử Thức là chủ bút Nam trung nhật báo ở Sài gòn, đã tuyên bố: ‘Thiệt chúng tôi không ngờ giang sơn nước Nam lại cẩm tú như vậy. Là bởi xưa nay chưa đi khắp nên chưa biết, chưa biết bờ cõi nước ta to rộng, nhân dân nước ta đông đảo là dường nào. Tới nay mới biết, càng biết mà cái cảm tình đối với tổ quốc càng chan chứa biết bao!… Khi tới Tourane, khi tới Hải phòng, quanh mình toàn những người bổn quốc, cùng ăn bận như mình, cùng nói năng như mình, nhận ra mới biết người với mình, mình với người, tuy ăn ở xa nhau, mà cũng là người một nòi một giống, chớ đâu”.
Như thế, một trong những mục tiêu mà Nam Phong đề ra là chấn hưng tinh thần dân tộc đã thực hiện được như lời giới thiệu du ký Cảnh vật Hà tiên của Đông Hồ trên Nam Phong 1930:
“Muốn cho con trẻ yêu mến nước nhà thì phải cho con trẻ thông thuộc nước nhà, hiểu biết cả lịch sử địa lý, lễ giáo, phong tục, nhỏ từ cách sinh hoạt trong dân gian, lớn đến các kỷ cương về đạo lý, ngõ hầu mới có lòng thiết tha đến nơi quê hương tổ quốc của mình. Lại trước khi biết đến cái tổ quốc lớn là toàn thể quốc gia, phải biết cái tổ quốc nhỏ là nơi mình sinh trưởng đã. Bởi thế nên các nhà giáo dục trường Trí Đức bấy lâu vẫn ân cần dạy cho học trò biết cái tổ quốc nhỏ của mình là đất Hà Tiên. Mấy năm nay thầy trò cùng biên tập được mấy trăm trương giấy đầy, khảo về phong cảnh nhân vật đất Phương Thành, đề là Cảnh vật Hà tiên”.
Thể du ký “sau Nam phong” thường được “tiểu thuyết hóa”, nên tính chủ quan nặng hơn khách quan. Chẳng hạn cuốn Đi Tây của Nhất Linh được nhà xuất bản Đời nay xuất bản 1940 đã khẳng định nó là “Tập tiểu thuyết phóng sự trào phúng” kể chuyện anh chàng Lãng Du sang Tây học nghề chụp hình. Tác giả, tức Lãng Du, kể lại chuyện thực nhưng bằng ngòi bút trào lộng nên thực hư lẫn lộn.
Cuốn Một chuyến đi (Tân dân xb 1941) của Nguyễn Tuân tự thuật lần sang Hương Cảng đóng phim Cánh đồng ma vào khoảng 1939. Qua đó chúng ta thấy tâm trạng của một nghệ sĩ tài hoa nơi Cảng thơm cổ kính đầy màu sắc phấn son và lửa túy hương chứ không hy vọng thấy đất Cảng những ngày xảy ra chiến tranh Trung Nhật và khởi đầu Đệ nhị thế chiến (1939-1945).
Hoàng Yên Lưu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s