Đông Hồ và quê hương Hà Tiên

Đông Hồ và quê hương Hà Tiên

hatien0121813

Hoàng Yên Lưu

Hà Tiên là một vùng đất phía tây đất nước, được một người Minh hương là Mạc Cửu (1655-1735) khai phá và được Chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu thuận cho thần phục vào năm 1708 và đất này chính thức ghi trong bản đồ Đại việt từ 1714. Nhờ công lớn, Mạc Cửu được chúa Nguyễn ban cho chức Tổng binh trấn Hà Tiên và phong tước là Cửu Ngọc hầu. Theo Đông Hồ, dưới thời Pháp thuộc, “từ Sài Gòn tới hà tiên không quá 350 cây số. Xe hơi chạy 10 giờ, tàu thủy chạy hai ngày”. Ngày ấy, Hà Tiên được coi là một tỉnh lỵ xa xôi ít nhiễm văn minh Âu Tây và chưa theo kịp đà tiến bộ của các thành thị lớn ở Nam Kỳ. Tỉnh lỵ này giáp biển cả và có núi non nên phong cảnh rất ngoạn mục, sản vật phong phú và nhân dân có nếp sống thuần lương, với nhiều sắc dân hòa hợp duy trì được nhiều phong tục cổ kính. Khi phong trào chữ quốc ngữ khởi lên ở Lục Tỉnh với những học giả nổi danh như Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của và các tờ báo như Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Nam kỳ địa phận, Công luận báo… thì Hà Tiên chưa mấy người biết chữ quốc ngữ. Sau khi Nam phong ra đời, phong trào truyền bá văn tự mới lên tới đỉnh cao thì một nhà giáo trẻ, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, là một trong những người đầu tiên xây dựng phong trào học chữ quốc ngữ tại quê hương Hà Tiên của mình qua việc thành lập Trí đức học xá. Trí đức học xá trong gần chục năm (1926-1934) đã đào tạo được một số học sinh xuất sắc, tập luyện văn tự mới để sáng tác và gửi bài đăng trên Nam Phong. Thành tựu của nhóm này là sự xuất hiện của hai nhà thơ được văn học sử Việt Nam tiền bán thế kỷ XX ghi nhận, ngoài Đông Hồ (1906-1969) ra là Mộng Tuyết (1914-2007)(phu nhân của Đông Hồ). Về văn xuôi, nhóm Đông Hồ đã dùng văn tự mới giới thiệu quê hương mình qua bài du ký có tên là Cảnh vật Hà Tiên đăng trên Nam phong nhiều kỳ từ số 150 tới số 154 (tháng 5 đến tháng 9, 1930). Cảnh vật Hà Tiên là một tác phẩm có giá trị không những về văn học mà còn về lịch sử, phong tục và địa dư về một phần đất nước mà trước đó chỉ có sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi chép sơ lược. Người yêu thơ văn thường nghe tới phong cảnh Hà Tiên và Hà Tiên thập vịnh. Nhờ Đông Hồ, chúng ta mới được thưởng thức những trang gấm vóc của văn chương và vẻ ngoạn mục của quê hương. Sau đây là phần trích trong thiên du ký Cảnh vật Hà Tiên của Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm:

“Đông Hồ ở gần thành phố Hà Tiên. Ai đi đến Đông Hồ cũng đều cho cảnh ấy là đẹp. Đông Hồ là một cảnh thiên nhiên của tạo hóa nung đúc điểm tô “rõ mồn một như một bức tranh tuyệt đẹp, mà màu sơn nét bút tươi sáng biết dường nào”. Đông Hồ không phải bể nước con con, bên này trông rõ bên kia được. Đông Hồ không phải bể nước ở giữa đồng bằng vườn dâu ruộng lúa bao quanh, không vẻ chi hùng dũng. Đông Hồ cũng không phải vũng nước hôi tanh, cả mấy nghìn năm không thông thương nơi nào được. Đông Hồ không phải thế. Ba bề có bốn năm trái núi xanh rờn, lại có mấy đường nước nhỏ hẹp mà sâu xa tản đi các nơi, và có hai ngã sông, ngã đi ra biển, ngã đi Giang Thành. Ghe buôn, tàu thủy qua lại dập dìu, có thuyền con ngư ông đánh lưới. Bắt trên con sông Giang Thành đi xuống vàm, thì trước nhất trông thấy mấy đống đất đổ theo mé cừ hai bên lạch, cây bần mọc xanh như rừng, và hai bên cừ đã thành như mấy cái cù lao nho nhỏ; chiều lại chim cò về ngủ tại đây. Khỏi mấy cù lao là đến giữa hồ. Bề dài chạy theo hướng nam bắc, đầu dưới chếch lên về mé tây một chút, mặt nước thoáng cả mấy nghìn mẫu. Bờ bên này dòm bên kia mù mù, giăng cây thâm thấp. Mấy khi mưa lớn, sa mù, hay là ngày đốt cỏ năng ngoài đồng lối tháng Ba tháng Tư, thì không thấy chi cả. Vào giữa hồ, mấy khi nước lớn, gió lớn, có sóng ầm ầm; nhưng có khi không có sóng gió, mặt nước tự nhiên êm lặng, có hơi gợn tí nước reo gành. Tứ bề lồng lộng chỉ có cây xanh nước biếc màu mè xinh xắn biết bao. Mé tay hữu, có núi Thạch Động, xóm Thị Vạng, núi Ngũ Hồ nhành dương phơ phất. Mé trước mặt là khúc sông Hà Tiên ra biển, rồi lần về tay trái, là núi Tiểu Tô Châu, Đại Tô Châu, xóm Cai Mến, rừng tràm xóm củi Rạch Vượt, rừng tràm Trà Tiên. Vàm Rạch Vượt đi vô xóm củi, có nhiều ghe lớn đang đậu chờ xuồng con lòi chở củi ra cho chín, mười ngày. Vàm Thị Vạng có ghe chở vôi đợi nước lớn mới vô xóm Cầu Giữa cho khỏi cạn. Giữa hồ có chỗ đóng cây từng khóm như chiếc đệm, gọi là cắm chà. Cá vô trong đó, thì bao lưới bắt. Lại có sáu, bảy cái rớ, cái bắt cá nước lớn, cái chờ cá nước ròng, khiến cho không mất màu tranh sơn thủy của nước nhà. Xóm Tô Châu là xóm nhà sàn, phân nửa cái nhà, phân nửa trên mặt nước. Xóm chạy quanh chân núi rất xa. Dài theo xóm, có nhiều ghe lưới, rượng lưới, có nhiều nhà lúp xúp tận trong chân núi hay nửa triền núi, lại có mấy hàng dừa tha thướt theo ngọn gió chiều. Rượng đáy có chim nhạn, cò, diệc hay là chàng nghịch, chăng bè đang đứng chờ mồi. Tiểu Tô Châu nằm ngang theo bậc sông; ở sau là Đại Tô Châu chạy theo hướng nam bắc, núi dài, triền gần đứng sững như bờ tường. Tiểu Tô Châu trông như hai con rùa nằm đâu mỏ. Trời chiều, mưa mới tạnh, núi đọa bóng dưới nước tối đen. Tháng Một, tháng Chạp, nước ròng, cảnh hồ đẹp lắm. Mỗi khi trời động, trong hồ sóng gió càng thêm dữ dội, xuồng con không dám đi ra. Có lắm khi giọt nước dòng chảy quá mạnh, ghe vôi ghe củi gần chìm, còn chiếc đò ngang thì trôi gần ra biển. “Đẹp nhất là trời về mặt tây, bóng dương đã xế, mây vàng vẩn vơ”. Trông ra mặt hồ, thấy quang cảnh đã đẹp lại vui, đã vui lại cảm, xa xa có chiếc tàu thủy từ từ vô bến, thỉnh thoảng lại rúc còi làm rộn cho hành khách dưới tàu. Màu sắc càng xem càng đẹp, càng ngắm càng hay. Cảnh hoàng hôn ở đây chưa kém cảnh nào: tiều phu về nhà, ngư ông gác mái, trống chùa ai đánh thì thùng. Tháng Hai, tháng Ba, miền Trà Tiên, Phú Mỹ đốt đồng cho chết cỏ năng đặng làm ruộng. xa xa có khóm lửa đỏ hồng hồng, khói lên trắng trắng. Mấy khi đốt đồng bắt được qui rùa thật nhiều. Lửa cháy cả đêm ngày. Nhằm lúc trăng mới lên, ta đã thấy vàng gieo ngấn nước. trăng đã lên cao soi sáng tỏ rạng, khắp cả hồ cũng như một mảnh gương của tạo hóa đem để đó vậy. Có khi mây đen che cả mặt trăng, mặt nước cũng đen, thình lình hé một, hai chỗ, trăng rọi xuống như đèn rọi của chiến thuyền giữa đêm tăm tối. Tiết Trung thu, nào xuồng nào ghe ngổn ngang trên mặt nước. Trên rớ nào thi nhân mặc khách du thưởng thanh nhàn. Biết đâu chẳng có kẻ trông trăng mà nhớ cái khổ cảnh vong quốc, có kẻ nhìn nước mà sợ cái thảm trạng tiêu hồn, lòng mình chỉ có cổ nhân chứng biết. Văng vẳng lại nghe câu ngâm câu hát đưa vào bờ, có lẽ cũng vui thú như tiếng “chuông chùa Hàn Sơn” vậy. – Một hồ rờ rỡ tiết thu quang, Giữa có vầng trăng nổi rõ ràng. – Đưa em cho tới Đông Hồ, Anh mua trái mít, em bồ trái xiêm. Thế mới hay cái cảnh hồ Đông Hồ thú trăng thanh gió mát khiến cho người khách phải sinh mến sinh yêu biết dường nào. Từ Đông Hồ ra gần bờ biển đặt nhiều rớ nữa. Mấy thứ bắt được thường là cá mai, cá cơm, tôm, cua. Hai bờ sông đều có nhà. Mé sông bên tả có bến đò, có xóm bên sông, lại có cây mọc nhiều vì là rừng sát. Bên hữu toàn là nhà ngói, có cái khít, có cái lại rời, tùy theo ranh đất. Có chợ buôn bán tấp nập, có bến xe hơi, có đường quan lộ. Bên hữu, chỉ huốt chợ một chút thì mấy đường Hàng Dương đi thẳng đến Tòa Bố. Gần đường có cái cầu sở thương chánh. Ở chợ muốn qua bên sông, tất phải đi đò. Đò chèo một người tốn hai xu; đò xe hơi năm sáu người kéo, vừa xe vừa người đều khỏi tốn tiền. Tháng nước đổ, tháng 8, tháng 9, có lục bình trôi xuống nhồi theo lượng sóng. Qua mùa bấc, bọt nước trôi mấy đường dài, không khác ở Cửu Long Giang. Qua khỏi chợ, gặp nhiều cồn xấp theo mặt nước. Cồn Pháo Đài, người trong làng thường đến bắt cá xiểu, đập hào, cào nghêu, lặn vòm, bắt sò cùng là lượm chem chép. Ở bến chợ, có ghe đậu nhiều, ghe khoai, ghe bắp, ghe mía, ghe gạo. Mà ghe vôi, ghe cải là nhiều hơn hết. Gần Tết, thì ghe các tỉnh vô chở dưa hấu và rau câu. Ở cầu thương chánh, có ghe bầu chở nước mắm hòn, ghe bầu chở cây váng Phú Quốc. Có cả ghe Xiêm, tàu Hải Nam chở heo, cà thuê, dầu lửa, cùng các thứ ngoại hóa. Tàu Hải Nam thì hạ buồm xuống dưới, chỉ có cột trơ trọi như ghe chài, còn ghe bầu thì buồm cuốn lại và treo vòng xiên đòng đưa theo cột. Tàu Hải Nam khác hơn ghe chài mà lại lớn hơn thập bội. Cách chèo tam bản lại khác hơn nữa. Ghe tam bản có mấy cây chèo rất lớn để ngay tấm bổ ngực lớn mà cả sáu, bảy người chèo, tam bản chạy ùa sóng. Chiều chiều, họ đi đi lại lại quanh tàu, cho ướt mấy đường trét chai. Mỗi chiếc tàu chở chín, mười ngàn tạ. Về buổi trưa, các xuồng nhỏ ra bến chợ hay lên Đông Hồ chài tôm. Có ghe hai người ngồi, một người chèo, một người vãi chài. Có người lại chài bộ, đi bộ dọc theo mé sông chớ không đi ghe, họ vãi mồi cho cá ăn trước rồi mới chài sau. Tối lại ghe nào ghe nấy phải thắp đèn treo trên cột buồm, xa xa thấy ngọn đèn cũng hiểu được là ghe đậu. Nhằm mùa có sam, về tháng Bảy, tháng Tám, nhiều người thắp đèn chài đi từ Pháo Đài dẫn đến Đông Hồ để đem đi bán hay là trộn gỏi uống rượu. Đông Hồ nối liền với Vàm Hàng vàm sông Giang Thành; nơi ấy có dinh Cậu, tàu ghe qua lại rất cung kính. Từ đó trở lên và tại bãi Bùn, cá sấu rất nhiều. Chỗ vàm sông, có bỏ đá hàng lại, thuở có giặc Xiêm, nên chỗ ấy gọi là trên Hàng. Cảnh Đông Hổ tốt đẹp; nhằm lúc trăng trong gió mát, tôi cùng các ông bạn ra bến Đông Hồ xem trăng hay là bơi chiếc thuyền con đủng đỉnh giữa dòng cũng đủ vui thú mà tiêu sầu thoát khổ được”.

Hoàng Yên Lưu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s