Khải Nguyên : VUI BUỒN MỘT LẦN THĂM QUÊ

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT

ghi và ngẫm-Khải Nguyên

(tiếp theo)

12. VUI BUỒN MỘT LẦN THĂM QUÊ

Đường đất Hà Tĩnh quanh quanh.

hatinh “Đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh” một tỉnh nghèo, có đường bộ, đường sắt xuyên Việt ngang qua mà như là khuất nẻo, ít được nói đến, không kể thời chiến tranh. Cùng là xứ Nghệ, vốn thuộc châu Hoan, châu Bố Chính xưa, đến đời Minh Mạng tách ra song vẫn chung một tổng đốc cai trị, nhưng nói đến xứ Nghệ thường người ta chỉ nghĩ đến Nghệ An. Người dân hai tỉnh xưa nay không hề biết địa giới hành chính, vậy mà hồi sát nhập thành tỉnh lớn Nghệ Tĩnh lại có tình trạng khó dung nhau ở cấp lãnh đạo. Rõ ràng là chẳng phải tại dân. Ngày nay, vẫn có hội đồng hương Nghệ Tĩnh tại nhiều tỉnh bạn.

Câu ca nguyên là: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh” bây giờ không thật đúng nữa. Đường nội xứ cũng vậy. Tôi được đi trên con đường vào loại sang nhất trong các tuyến dài ở nước ta. Quốc lộ số Tám từ thị xã Hồng Lĩnh, một thị xã mới chào đời nơi bãi Vọt cũ dưới chân núi Hồng trên đường quốc lộ số Một, chạy ngang phía bắc tỉnh, vượt Trường Sơn sang nước bạn Lào, mới được nắn lại, mở rộng và rải bê tông nhựa dăm năm nay. Còn nhớ năm xưa khi còn là một học sinh tiểu học, tôi phải cuốc bộ bảy mươi ki-lô-mét vào tỉnh lị để thi học sinh giỏi toàn quốc. Đường số Tám, đường số Một thời đó chỉ rải đá, chân trần tôi đã quen đạp đất vậy mà vẫn rát gan bàn chân. Cả tuyến đường chỉ có một chiếc xe khách lúc đó đã treo bánh. Bây giờ xe khá sẵn, chủ yếu là xe tư. Với các tuyến chính, chực bên đường để vẫy, chẳng phải đợi lâu. Song hành khách còn khuya mới là Thượng đế. Hành hạ hành khách thì đâu cũng vậy, tuy nhiên kiểu Hà Tĩnh có những nét riêng. Anh vẫy xe đi H.T chẳng hạn. Lên xe, anh trả tiền trước và yên trí. Đến H.L, họ mời anh xuống và bán anh cho một xe khác. Anh không phải trả tiền thêm nhưng phải ngồi chờ chán chê. Và đây là một dạng “hành” khách khác. Bữa nọ, một ông bạn tôi từ thị xã Hà Tĩnh đi Kì Anh. Lúc 9 giờ 15, ông ta lên một chiếc xe trong bến xe thị xã. Nửa giờ sau, trên xe khách đã ngồi gần kín ghế. Lái xe cho xe ra khỏi bến. Nhưng … xe đi một vòng thị xã lấy thêm khách, chất thêm hàng rồi lại quay về bến. Ba lần như thế. Đến 12 giờ 10, nghe tiếng kêu: “tủ đến rồi!” Thì ra họ còn chờ người chở tủ đã hẹn trước. Vậy mà chẳng một câu nói lại với hành khách. Hẳn lần này thì thoát. Bấy giờ xe đã chật cứng, nhiều người phải đứng. Xe rời bến chạy về cuối thị xã và… rẽ vào một cái chợ cách đường chính gần hai ki-lô-mét. Đến đây, lái xe được một người công an “hỏi thăm” về chuyện quá tải. Nhưng được thả rất nhanh (Về sau, một khách quen hỏi: “Phải cúng bao nhiêu?” Đáp: “Một trăm, hắn cho khất”). Xe đến đậu cạnh một đống bao tải ních chặt cây cải và củ cải nguyên lá. Chuyển và xếp hai chục bao tải này mất gần ba mươi phút. Có hành khách bất bình toan hô hào mọi người xuống xe tìm đến xe khác cho chủ xe “trắng mắt ra” nhưng không thành. Xem ra hành khách ta, trong đó có ông bạn tôi bền gan chịu đựng thật.

Một hành khách vào loại “một thời vang bóng” ngồi cạnh ông bạn tôi nói vui: “Người ta nói rằng bị bóc lột có khi người ta chịu được còn bị áp bức thì không. Chúng mình bữa nay vừa bị áp bức, vừa bị bóc lột mà vẫn chịu tốt”. Dọc đường xe còn dừng lại nhiều lần để “ăn” thêm khách, thêm hàng. Có hai thanh niên mang theo xe đạp; họ chỉ cần đi một đoạn ngắn, một người 13km, người kia 10km mà họ thích cho xe đạp nghỉ trên nóc ôtô. Thật là “phú quí sinh lễ nghĩa”. Trước kia, chừng ấy đường đất, người ta không ngần ngại đi bộ. Bây giờ, họ thà bị nhồi đứng trên xe khách chật như nêm thay vì đạp xe mươi cây số nơi đồng quê khoáng đạt.

Hà Tĩnh còn có một phương tiện đi lại đường trường mà nhiều địa phương khác không có. Từ trung tâm lâm trường Hương Sơn đến thị trấn Phố Châu và đi xa hơn nữa, có đến mười lăm chiếc xe lam. Lạ mà không lạ là chẳng chiếc nào được đăng kí, vì xe nhập lậu hay sao đó, mà vẫn hành nghề, công khai vì giấu sao được. Mỗi khi có vị chức trách nào sờ đến thì vị chủ xe khó thoát món “mãi lộ”. Những chiếc xe lam với tiếng nổ đanh như tiếng sét cho đến lúc này vẫn giúp ích cho những người cần đi. Nhưng liệu có nên thả nổi?

Miền quê trăn trở

Lâu ngày trở lại quê, tôi gặp những dấu hiệu đáng vui. Trong bữa cơm tại nhà ông anh ruột, tôi đòi món “nhút ngọn đỗ” một thứ dưa làm bằng ngọn đỗ xanh muối thật mặn, dành để ăn quanh năm. Bà chị dâu cười bảo: “Bạc triệu cũng chẳng kiếm được cho chú đâu. Ở ta, bỏ làm món đó lâu rồi”. Cả món cà, muối mặn đến mức một quả con ăn vừa một bát cơm. Cả món trám muối ăn dè. Những thứ ấy, lớp trẻ quê tôi khó biết, những thứ thức ăn của thời quá nghèo khổ và quá lạc hậu. Còn nữa, bây giờ khoai sắn chủ yếu dành cho chăn nuôi. Xưa kia, ngay nhà cha mẹ tôi, từng bị qui thành phần lớp trên, cơm chỉ không độn khoai vào ngày mùa và ngày Tết. Khoai lang tươi rửa sạch thái mỏng phơi khô cho vào chum ăn dần. Thức ăn nghèo nàn, hồi đó cơm trộn khoai tôi lại thấy dễ ăn hơn. Bây giờ muốn ăn “ôn cố” mà không được.

Nhà cửa quê tôi còn kém xa nhiều làng mạc ở đồng bằng Bắc Bộ có lắm nhà xây kiểu mới khoe dáng, khoe màu, nhưng đã rải rác mái ngói, tường gạch thay cho mái tranh, phên thưng. Điều đập vào mắt ở những làng tôi đi qua là những ngôi trường khá khang trang. Xã tôi, xã Sơn Phúc, xưa là thôn Phúc Đậu, nơi có động Tiên Hoa mà Lê Lợi từng đặt đại bản doanh, có “cây thị ăn thề” từng chứng kiến cuộc thề giữa thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn với Nguyễn Tuấn Thiện, thủ lĩnh nghĩa quân bản địa. Sơn Phúc thuộc loại xã nghèo nhất huyện Hương Sơn, mãi sau Cách mạng tháng Tám mới có một ngôi trường cấp một chung cho ba xã, lợp tranh, các lớp học hẹp như chuồng bò, tối và nóng như lò bánh. Nay xã đã có hai ngôi trường tiểu học và trung học cơ sở kề nhau trên một ngọn đồi thấp sáng màu mái ngói tường vôi mới, có sân rộng, có những hàng cây thoáng mát. Tuy nhiên bên trong còn những bộ bàn ghế xộc xệch chắc là lưu lại từ thời mái tranh lụp xụp.

Có lẽ trong bốn mục tiêu công ích nông thôn “điện, đường, trường, trạm (xá)”, thì  ở Hà Tĩnh trường là khả quan hơn cả. Về trạm xá, cơ sở vật chất nói chung vẫn nghèo nàn, “thầy” và “thuốc” còn lắm nỗi. Điện đã về hầu hết các làng, nhưng người ta chỉ xài khi thật cần thiết, có nhà cả tháng chỉ hết vài số (kwh), giá điện còn quá cao, -cao hơn ở thành thị nhiều!, so với túi người dân. Điện cũng mất luôn. Hôm tôi về, mất năm ngày liền, cả tỉnh. Còn đường thì hầu hết là đường đất, không kể những đường quốc lộ, tỉnh lộ chạy qua. Người ta nhìn thấy dấu hiệu đổi mới ở nông thôn một số địa phương khác không chỉ qua những nhà xây “hiện đại” mà còn qua những con đường làng, đường liên xã rải nhựa hoặc đúc bê tông. Vùng quê tôi chưa dứt được bóng dáng xơ xác của một thời xưa cũ.

Cảm tưởng ấy càng đậm nét hơn khi nhìn đến vườn tược. Những khu vườn pha tạp đủ loại cây: cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây lấy củi, rồi chè, rồi bầu bí, rồi mây tre nơi bờ rào. Lối canh tác kiểu này ít tốn công sức chăm bón, phù hợp với kiểu kinh tế tự cấp, tự túc còm cõi. Buồn thay, đã thành nếp quen! Người ta càng có cớ để không đổi mới cách làm ăn khi một số người, không nhiều lắm, phá bỏ vườn tạp để chuyên trồng cam không thành công. Cam bù Hương Sơn ai đã ăn một lần thì nhớ đời. Nó khác xa cam sành Bố Hạ, cam chanh Xã Đoài. Có quả ngày Tết lên đến hai mươi ngàn đồng. Những quả cam dày vỏ, chín vàng, múi mọng nước vừa ngọt, vừa chua thanh. Chẳng hiểu do đâu cây cam bù những người này trồng chỉ được hai năm là thoái hoá. Quả cam trở nên mỏng vỏ, chua lè. Chưa có ai nghiên cứu xem tại sao. Chẳng có ai hướng dẫn cách làm vườn. Các loại cây ăn quả khác cũng vào dạng trồng manh mún. Phong trào làm kinh tế vườn quê tôi xem ra còn èo uột. Mô hình V.A.C nơi quê tôi có chiều thiếu vắng. Cũng phải thôi, nơi có rất ít ao chuôm.

Ai cũng biết chỉ trông vào cây lúa từng hộ giỏi lắm là đủ ăn. Kinh tế tiểu nông cũng đã biết đến giá trị của cái vườn, của nghề phụ.

Xưa kia đi trên đường cái quan ven sông Phố, đi trên đê sông La, sông Lam,… sáng chiều bóng các cô gái hái dâu, giặt sợi sáng cả khúc sông. Xưa kia, chợ Phố, chợ Thượng, chợ Vinh,… ngày phiên dưới bến thuyền ken chật, trên bờ người chen hàng, tiếng ồn chợ vang xa hàng cây số (chắc hẳn đã gợi tứ thơ Huy Cận: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều“). Sắp đến phiên chợ thuyền xuôi ngược rải ra trên dòng sông xanh chở nông thổ sản, hải sản, người ta gọi là “đò dọc”. Giá bạn được một lần đi đò dọc trên sông Phố, sông Sâu, sông La, sông Lam,…, nhất là vào đêm trăng lại có các bạn thuyền nổi hứng vừa chèo chống, vừa cất giọng hò. Cảnh nên thơ của một thời làm ăn lụn vụn, với những vườn cây trồng đủ thứ cau, trầu, chè, chuối, mít, cam, bưởi, dứa,… với các nghề thủ công tự sản tự tiêu: trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, trồng mía, ép mật, đẽo guốc, chằm nón, làm mắm,… Ngày nay, những thứ đó đã thành lạc hậu hoặc đã phôi pha. Người ta hay nói hiện đại hoá trên cơ sở phát huy truyền thống. Nhưng nói chỉ để mà nói. Hình như chưa có ai, chưa có cơ quan nào nghĩ đến việc vực dậy những gì còn khả dĩ, tổ chức lại, thổi vào đấy luồng sinh khí mới của khoa học – kĩ thuật, của cung cách làm ăn tân tiến và của nền kinh tế thị trường. Chưa nói chi tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế qui mô và toàn diện. Những người tinh nhạy và có gan bươn chải thường hướng về buôn bán, buôn Bắc – Nam, buôn biên giới, buôn trên biển (không từ buôn lậu, tất nhiên). Hướng sản xuất chưa thu hút họ vì điều kiện, vì môi trường kinh tế, vì lợi nhuận.

Mức sống của người Hà Tĩnh khá lên rõ nhất ở các thị tứ. Cách biệt hẳn với nông thôn – ngay vùng kế cận, không như nhiều nơi khác. Thị trấn Phố Châu tại một miền bán sơn địa nay đã có khách sạn, nhà tư nhân nhiều tầng, có ôtô tư, nhiều xe máy, có nhiều nhà mắc điện thoại. Một ông từng dạy cấp Một, khốn khó vì hơi nhiều con, nay bà vợ dược sĩ kinh doanh thuốc tây, một hôm đàm thoại qua luồng điện với một người cháu họ vốn cũng từng long đong, nay khấm khá ở một tỉnh kề thủ đô, hai bên cả cười khà khà: “Ai ngờ chú cháu ta có ngày ngồi ngay tại nhà mình gọi nhau qua nửa nghìn ki-lô-mét, hè!”. Mốt khao sinh nhật kiểu mới cho người lớn tuổi giờ không chỉ đóng khung nơi các thành phố. Mức sống phải “thong thả” mới nghĩ tới chuyện ấy được, không nói các cháu học sinh. Chỉ là dấu hiệu đáng mừng thôi. Tuy nhiên… Người ta kháo nhau lễ “ăn sinh nhật” ông nọ, một công chức về hưu bản tính điềm đạm có con cái, dâu rể thành đạt – có người từng du học. Trong buổi họp mặt long trọng có đông đảo bà con, bạn bè, các con ông đã mừng cha nhiều… “phong bì”! Mức sống khác nhau nhìn nhận cuộc sống không giống nhau. Một người cháu tôi đang sống khó khăn nói chuyện không được lạc quan cho lắm, nhất là khi đề cập đến họa tham nhũng. Cô em họ anh ta đang ăn nên làm ra thì nghĩ khác: “Nói gì thì nói, nước ta vẫn phát triển hàng năm tám, chín phần trăm đấy thôi. Chúng nó vơ vét ở đâu chẳng đụng đến mình, nghĩ chi cho mệt”. Người anh cười khẩy: “Cô chỉ căn cứ vào cái nồi của cô để đánh giá chuyện đời. Chỉ nói đơn giản thôi, nếu không có bọn tham nhũng, buôn lậu đục khoét thì các con cô được học trong những điều kiện tốt hơn, sống trong môi trường xã hội khá hơn hiện nay”. E rằng những lời đó khó lọt tai không ít người.

Ở nông thôn quê tôi, vài nghìn đồng là to. Một con bò giá một hai bạc triệu là gia sản không nhỏ. Nhiều nhà có vài con bò để cày bừa, không kéo được thì bán giết thịt. Khó nói đến chuyện bò sữa. Nhiều người rất nghèo, ngân hàng cho vay vốn không dám nhận. Tôi hỏi có phải vì thủ tục lôi thôi và phải lót tay không. Họ nói những chuyện ấy đã bớt nhiều rồi, cái chính là vay chẳng biết để làm gì, chẳng lẽ để ăn tiêu, mua sắm, rồi lấy gì mà trả. Vậy là Nhà nước giúp vốn là cần, song cái cần hơn là bày cách làm ăn. Đang sống bùng nhùng trong nếp kinh tế tiểu nông, mấy ai đã nhanh nhạy xoay xở trong kinh tế thị trường! Vả chăng, hướng tới dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng thì không thể thả lỏng mặc qui luật “khôn được dại thua”. Chẳng biết bộ “Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” nghĩ sao?

Vùng quê nào không vào mùa thu hoạch cũng trầm lặng, trừ những nơi rộn rã nghề phụ. Quê tôi thực sự buồn. Tôi đạp xe lòng vòng mấy làng chỉ gặp một người đàn bà đi xe đạp vai… vác cày (!) và vài ông về hưu, cán bộ có, bộ đội có, chăn mấy con bò ven đường. Một ông đại tá chưa già mấy hí húi trong một mảnh vườn tạp, đúng cảnh “về vườn”. Lương hưu đại tá thừa sống ung dung ở nông thôn (dân làng tấm tắc: Tiêu gì cho hết (!)). Nhưng chẳng bì được với một đại tá khác, người cùng xóm nhưng nghỉ hưu tại một thành phố phía Nam, riêng món tiền cho người nước ngoài thuê nhà đã thu ròng mười lăm triệu đồng hàng tháng. Ông ta về làng, ngoài các khoản khác, bảo trẻ con chơi bóng, thưởng tại trận mười nghìn đồng cho ai ghi bàn. Trong tâm tưởng, tôi vẫn giữ hình ảnh một làng quê đầm ấm thời kì đầu kháng chiến chống Pháp. Nay cảm thấy hiu hắt. Đang những ngày vào đông. Đường thôn ấm lên lúc tan trường. Tôi muốn hoà vào những bước chân thơ trẻ ngày nay những dấu chân của đứa bé thò lò mũi xanh ngày xưa, nhưng các cháu nhìn tôi bỡ ngỡ.

Làng quê chẳng còn như xưa, nhưng tôi nhìn vào vẫn là màu xanh cây vườn ôm ấp, thấp thoáng những mái nhà tranh xen ngói. Đột khởi lên đó đây những tháp chuông nhà thờ màu vàng. Các nhà thờ được xây mới lại hoặc tu sửa, mở mang và tô điểm khuôn viên, tôn cao tháp chuông. Nhà thờ T.N. cũ bị dập đi làm lại cao rộng có thể đặt lọt thỏm ngôi nhà thờ lớn nhất vùng trước đây vào trong. Và tháp chuông vút lên chót vót như một thứ vọng lâu ngóng xa hàng mươi  ki-lô-mét. Nghe nói đó là công quả của Việt kiều gốc xứ đạo. Những người công giáo lưu vong đã “tốt đời” nơi xứ người có nhã ý lo cho bà con nơi nước cũ được “đẹp đạo”. Âu cũng là lòng thành. Có khác với Hoa kiều, Do Thái kiều và nhiều “kiều” khác đối với nước gốc của họ. Họ nghĩ đến đầu tư kinh tế hơn.

Kì vọng

Hôm ngủ lại nhà chú em, tôi đang ngon giấc thì reng, reng, reng… chuông đồng hồ báo thức đổ hồi. Mới bốn giờ sáng. Tôi vốn không dễ ngủ nên toan bực mình, sực nhớ ra thấy yên dạ. Đứa cháu học lớp mười một thường dậy học bài vào giờ này. Người ta hay phàn nàn học sinh bây giờ ít chăm học cá nhân. Học sinh nông thôn, học sinh con nhà nghèo nói chung không có điều kiện. Phải làm việc giúp gia đình, thì giờ riêng chẳng còn mấy, lại mệt bã người, khó mà chăm được. Việc lên lớp, việc thi các cấp dễ dãi cũng thêm vào một cái cớ. Tôi gặp trên cầu Thọ Tường (Đức Thọ) ba cháu bé gái xách ba cái ấm nhôm. “Các cháu đi mô đó?”, “Đi bán nước”. “Được nhiều không?” “Bữa được một ngàn, bữa được ngàn mốt, có bữa được hai ngàn”. “Các cháu không đi học à?”. “Có, học một buổi, bán một buổi” “Tự học vào lúc mô?” “Buổi tối, học đầu hôm. Mà bác hỏi mần chi?”. Thằng cháu tôi trước đây, ngoài buổi tới trường, suốt ngày chăn bò, cắt cỏ; tối đến mới mó đến sách vở một tí đã lăn ra ngủ. Đến khi cháu lên cấp ba, chú em tôi thấy “mỗi năm cứ lên một lớp” kiểu này chẳng ổn. Chú mới bán mấy con bò lấy tiền gửi tiết kiệm làm “vốn” cho con ăn học. Với lãi suất bây giờ chắc chẳng được bao lăm, cái chính là để “giải phóng” cho con. Thằng bé cũng biết phận, ngày ngày đạp xe gần mười cây số tới trường; về nhà cặm cụi học tập, thức khuya dậy sớm.

Dân Nghệ Tĩnh vẫn có tiếng là chịu học và học giỏi. Thời xưa và mãi tới gần đây, nhiều nhà văn hoá, nhà khoa học nổi tiếng xuất thân từ xứ Nghệ. Nhưng mấy lâu nay, trong bảng vàng học sinh giỏi, Nghệ An còn vớt vát được chút ít, chứ Hà Tĩnh thì quá khiêm tốn. Có phải vì Hà Tĩnh không có một trung tâm văn hoá, khoa học? Có phải vì gánh nặng phí tổn học đường đối với đa số người dân của một tỉnh nghèo? Có phải vì chưa có một chính sách chiêu hiền đãi sĩ thích hợp để có thầy giỏi, trò giỏi? Và những “nghịch lí”… Trong thời gian thăm quê, tôi nghe nhiều người nói trường Cao đẳng Sư phạm H “nổi tiếng” tiêu cực trong tuyển sinh”. Dư luận này đúng, sai ra sao trông vào các nhà chức trách phân định. Một lần tôi nghe được mẩu đối thoại sau đây: “Thằng nớ, bạn thân của mi, học kém mi nhiều mà vào được CĐSP, còn mi trượt vỏ chuối”. “Tau mần chi có bảy triệu đồng như hắn. Mà có thì tau cũng nỏ chơi”. Tôi muốn hỏi rõ nhưng hai cậu lảng: “Chúng con không muốn hắn bị đuổi”. Nhân tiện nói thêm, cùng dạng tiêu cực trong việc tuyển vào đại học, đứa cháu gọi tôi bằng ông chú họ cho biết vừa qua cháu thi vào đại học Sư phạm Vinh và đại học Bách khoa Hà Nội “tha hồ giở tài liệu chép, giám thị mặc kệ”. Tôi hỏi vì sao cháu trượt, cháu bảo cháu chỉ chép được phần lí thuyết, bài toán quá khó nhiều người bí, cháu chép của bạn nhưng sai. Tôi bảo cháu cần dựa vào sức học của mình, thi vào được còn phải học được. Tuyển sinh hiện nay có nhiều chuyện đáng buồn và đáng lo, ở mọi cấp học và không chỉ ở một nơi.

Những người Nghệ Tĩnh xa quê thường chạnh lòng nhớ tới tỉnh nhà khi theo dõi các cuộc thi đấu thể thao, văn hoá. Một cái tên chợt loé lên trong một cuộc thi chạy đường dài rồi chìm mất cũng đủ gây hẫng. Mới đây, đội vật Hà Tĩnh được xếp thứ tư, trong số huy chương có một Vàng và đội “Bảy sắc cầu vồng” được nhất trong vùng bắc Trung Bộ là niềm an ủi, dẫu còn nhỏ nhoi. Ở Hà Tĩnh, hầu như xã nào cũng có sân vận động, – không phải ở tỉnh thành nào cũng được như thế -, là một trong những tiền đề để phong trào thể dục thể thao tỉnh nhà vươn tới.

Những người được hưởng “ưu đãi kháng chiến”

Ông anh họ tôi năm nay tám mươi tuổi ngoài, hoạt động Việt Minh thời kì tiền khởi nghĩa đến cải-cách-ruộng-đất bị đấu tó và phải nghỉ. Ông đã rời xã cũ đến ở với con cháu tại một xã xa. Vừa qua, ông được hưởng “ưu ẫi kháng chiến” hai triệu một trăm nghìn đồng. Cán bộ xã cũ đưa đến tận nhà; ông biếu phần lẻ, họ nhất định không lấy: “Nếu thế thì bọn con đã giàu to!”. Anh con cả của ông, một cán bộ lâm trường về hưu nói: “Cán bộ xã bây giờ dễ lắm. Xin chứng nhận để kết nạp Đảng cho chú út nhà cháu chỉ mất có mấy hộp bia. Họ lại tự lo chạy xin dấu huyện cho nữa”. Có phải vì “cán bộ dễ tính” mà nhiều người nói, không chỉ ở một xã, rằng: muốn được hưởng “ưu đãi kháng chiến” chỉ cần chịu khó và biết cách. Ở xã nọ, một ông xưa nay chỉ quanh quẩn ở nhà “xua gà và trông con cho vợ” mà đã được hưởng “ưu đãi kháng chiến chống Pháp” chờ nhận nốt “ưu đãi kháng chiến chống Mĩ”. Một thương binh loại một trên bốn “về mắt” mà tự lái xe con của mình đàng hoàng. Một người khác cũng là thương binh mắt lại là do mắt lác bẩm sinh, ai cũng biết. Tôi nhớ cách đây đã lâu, bên hồ Gươm, nghe mấy người kháo chuyện quê họ có người vốn là ngụy binh bỗng nhiên thành thương binh kháng chiến. Gạt mọi lí do “tiêu cực” sang một bên thì cán bộ xã có thể là “dễ tính”, “nể nang”. Họ lại chẳng biết mấy về thời cha anh. Dễ tính “chả mất gì”. Hồi trước, về quê, biết tin bà thím họ vừa được nhận lụa chủ tịch nước tặng những người thọ trăm tuổi trở lên, tôi hỏi chủ tịch xã: “Sao có chuyện lạ vậy? Bà ấy chưa đến chín mươi”. Ông ta cười: “Xã khác khai thì xã mình cũng khai lấy một người. Mất gì đâu (!)”. Còn nể nang? Một phần là do người chứng. Ông L. hồi kháng chiến chống Pháp có làm phó chủ tịch huyện mấy năm. Có người đến nhờ ông chứng nhận cho ông ta là có hoạt động ở xã nọ. Ông L có biết người này, hồi đó anh ta chỉ đi buôn, ông không thể vì quen mà làm ẩu. Nhưng rồi người kia cũng nhờ được người chứng. Ông L nói với tôi: “Nếu huyện và xã bảo quản giấy tờ tốt thì chỉ cần giở sổ sách ra là biết thật, giả. Tiếc rằng…”. Trong dân, người thuộc lớp trước biết các sự việc ngày một ít đi, mà có biết họ cũng chẳng nói sợ mang tiếng kèn cựa hoặc “mất gì của mình”. Đền công kháng chiến là một chủ trương hợp tình; nhưng khí muộn nên gặp nhiều khó khăn. Dù vậy, không nên vì thế mà “trao nhầm”, phí phạm, trong khi những người đáng hưởng thì không được hưởng hoặc hưởng chưa tương xứng với công lao, làm giảm ý nghĩa một nghĩa cử quốc gia. Ý nghĩ trên đeo đẳng tôi, nặng nề thêm khi tôi đến ngã ba Đồng Lộc.

Ngã ba Đồng Lộc

Một nơi từng được báo chí trong, ngoài nước nói tới nhiều vậy mà mình là người Hà Tĩnh lại chưa một lần đặt chân tới! Mấy năm trước, trong chuyến du xuyên Việt, khi đi ngang qua Hà Tĩnh, nhiều người đề nghị rẽ thăm ngã ba Đồng Lộc, chỉ cách thị trấn Nghèn trên đường số Một chừng mười ki lô mét, nhưng ông trưởng đoàn, một đại tá về hưu, nhất định không nghe. Chẳng phải ông ngại khó, bởi hàng năm ông vẫn cầm đầu trên dưới chục chuyến tham quan-du lịch, mươi cây số có chi mà ngại, ngại chăng là chuyện thâm thủng…, chẳng hạn, nấn ná phải ngủ thêm tối thì khoản chi thêm có ít đâu, khoán rồi! Đường tới ngã ba Đồng Lộc có nhiều lối, nhưng lối từ Nghèn vào là tiện nhất. Tôi vẫn mường tượng ngã ba này ở nơi heo hút lắm. Thật ra, cách vài ki-lô-mét phía ngoài là làng mạc, chỉ phía trong là đồi núi trập trùng. Mười ngôi mộ trong một khu xây vuông dưới chân một sườn núi dốc. Mười người, đều là dân Hà Tĩnh, nằm đây mãi mãi là “cô gái”, tuổi đời từ mười bảy đến hai mươi bốn, có lẽ chưa được biết vị nụ hôn đàn ông. Song, chắc hẳn hương hồn các cô thanh thản hơn những đồng đội thanh niên xung phong nay sống tàn tạ cô đơn, hoặc gánh hậu quả của chất độc Mĩ nơi con cái mình. Tôi lẩm cẩm nghĩ: Những chị em bám trụ ở Trường Sơn, bám trụ cầu, đường trong bom đạn dài ngày đều xứng đáng được phong “anh hùng”. Và “đền công đáp nghĩa” trước hết là sẻ chia những số phận không may trong số họ. Khu mộ các “cô gái Đồng Lộc” khiêm nhường, u tịch. Sườn núi bên này đầy thông lẫn ít bạch đàn, tiếng lá rì rào. Trời se se. Nằm đây các cô có đỡ lạnh? Trên mỗi mộ đầy chân nhang, ai đó cắm tặng một bông hồng nhựa đỏ, và đặc biệt, một đoá hồng bạch chỉ mới hơi héo. Phía trước đài thờ là hai vòng hoa nhựa. Một bình hương bằng đá cẩm thạch khắc tinh xảo với hàng chữ: Kính viếng hương hồn mười cô tiên Đồng Lộc – 1996. Cô tiên? Đúng! Vì các cô là bất tử.

Được biết địa phương đang có kế hoạch xây dựng nơi đây thành khu du lịch. Một toà nhà ngói đỏ au phía trước khu mộ cách dăm chục mét, nhà khách hay khách sạn gì đó. Một sân vận động đang được san lấp. Một con đập tạo hồ nước đang được hình thành. Để là khu du lịch thật thì còn nhiều việc để làm. Trước hết là ý đồ và qui hoạch. Vết tích chiến tranh hầu như chẳng còn gì ngoài mấy hố bom kéo thành vệt nay mai chắc sẽ bị lấp. Một hố bom liền kề trước khu mộ đã được kè đá trong lòng chống bồi lấp. Cái hố khí bé và nông khó gợi lên ấn tượng gì. Chắc hẳn sẽ có một nhà bảo tàng, nhưng giá như sự khốc liệt của chiến tranh được minh họa cả ở ngoài trời trên thực địa! Nhìn những sườn núi trọc phía sau chợt nghĩ nếu nơi đây biến thành một rừng cây ăn trái… “ăn quá nhớ kẻ trồng cây”, một liên tưởng. Muốn gì thì cũng cần một cái nhìn tổng thể, kín kẽ. Sát bên khu mộ là một toà nhà xây dở. Một trẻ chăn trâu nói sẽ bị đập bỏ vì không đúng chỗ. Quả thật, ngôi nhà ấy mọc lên sẽ “nhấn chìm” khu mộ. Và cần thực thi chu đáo. Nhà tưởng niệm hình lục giác phía ngoài làm chưa xong mà một góc bậc lên xuống lát đá hoa đã bị bong và bệ xi măng trước thềm đã nứt. Công trình đâu chỉ để cắt băng khánh thành quay phim, chụp ảnh xong là… xong!

Ghi ở “Trung tâm”

Chẳng biết có địa điểm thứ hai nào trên đất nước ta mà dân cư ở đó đến nay chẳng thuộc đơn vị hành chính cơ sở nào không? Nơi đây vốn đặt cơ quan đầu n•o của lâm tường thường được gọi là “Trung tâm lâm trường Hương Sơn”. Người ta quen nói tắt là “Trung Tâm”, lâu dần trở nên một địa danh có tên trong mạng giao thông cả vùng, cả trong một số công văn, giấy tờ. Cách đây mấy chục năm, nơi đây ngoài nhà làm việc, nhà ở, xưởng của lâm trường, chỉ lèo tèo những nếp nhà dân, thường là lợp tranh. Nay, đã là một dãy phố hầu hết là nhà xây, dài hàng ki-lô-mét, nhan nhản những cửa hàng ăn, uống, tạp hoá… Sự khá lên nhờ một phần vào rừng, một phần vào vị thế gần cửa khẩu Việt – Lào, với cái hay, cái dở của việc khai thác rừng, của việc buôn bán qua biên ải. Người dân ở đây muốn xin chứng nhận giấy tờ phải đến một xã nào quanh đó miễn người ta đồng ý cấp có khi phải đến xã gốc rất xa. Nghĩa vụ đóng góp thì sao? – Đầy đủ. Bằng cách nào? – Qua ban đại diện nộp lên huyện. Còn bầu cử đại biểu nhân dân các cấp? – Bầu cử cấp huyện trở lên thì huyện trực tiếp giao hòm phiếu về. Bầu cấp xã, phường thì được miễn (!).

Thành ra một thứ “xóm trực thuộc huyện”. Xóm, vì không triện nên không thể ngang xã. Nhưng lại giao dịch thẳng với huyện! Từ năm 1973, dân ở đây đã xin được công nhận là thị trấn, nhưng mãi chẳng ai duyệt. Nghe đồn rằng năm nay, 1997, may ra thì được.

Từ “thị trấn sắp sửa” này, đi sâu vào phía rừng không thấy được hoạt động lâm trường. Vì chỉ thị đóng cửa rừng của thủ tướng ư? Không. Tỉnh chủ trương không đóng cả, nghĩa là có cửa đóng, có cửa mở (“lệ làng-phép vua” chăng!). Ở một “cửa mở” thấy vắng ngắt, không đi sâu vào chẳng biết khai thác ra sao, chỉ thấy phía ngoài có một đống gỗ lớn thân khá to đã được đẽo vuông nằm vất vưởng bên suối. Người cháu dẫn tôi đi bảo đó là gỗ phế thải vì dãi dầu mưa nắng quá lâu. Ở một trạm gác “cửa đóng” thấy một toán người ngồi chơi bài. Hai thanh niên đang tắm suối. Suối này thuộc đầu nguồn sông Phố nước trong leo lẻo chảy xiết, lòng suối lổn nhổn đá cục. Hai cậu vừa tắm vừa mò tôm bằng tay không. Những con tôm cỡ ngón tay cái, trong rổ chừng hai kí tươi nguyên. “Chúng cháu có bảy ngày chủ nhật mỗi tuần”, một cậu nói, không tỏ ra vui, không tỏ ra chán. Những người ở trạm hầu hết còn rất trẻ. Chả lẽ chẳng có việc gì cho họ động tay, động não!

Lâm trường Hương Sơn một thời được nói tới nhiều trên báo, đài, thường là khen. Đến lúc những cơn lũ sông Phố, vốn đã dữ dằn, tác quái nhiều hơn, người ta mới nhận ra đã đốn hạ quá tay. Cũng có nghĩ tới việc trồng mới sau khi khai thác. Khoảng  1959, giám đốc D đã gây dựng rừng mỡ và cho trồng thử vài chục héc-ta cây tếch lấy giống từ In-đô-nê-xi-a. Qua hai đời giám đốc nữa đến đời N “trị vì” từ 1988. Những vạt rừng non đang lên mơn mởn bị triệt thẳng tay. Những cây gỗ non mới bằng bắp chân bị đốn xuống làm nhà tạm, làm củi, làm những gì nữa có trời biết và cũng chẳng hiểu vì sao! Tất nhiên là rừng vốn có, rừng đại ngàn đang lùi dần, chẳng được yên. Chưa hết, N còn cho “thanh lí” máy móc, xe cộ, các loại phụ tùng, nhà xưởng, cả các nhà của 6 dội xây cơ bản, 6 đội trồng cây, 12 dội khai thác, toàn nhà gỗ tốt. Chỉ còn giữ lại nhà giám đốc, hội trường, hai xưởng cưa,… Cơ ngơi lâm trường gần như sạch bách. Xong “chiến tích” ấy năm 1991, N “hạ cánh an toàn”. Trong cơn “vận hạn” của lâm trường, nhiều cán bộ, công nhân viên tự lo tháo thân vì nghĩ lâm trường sắp vỡ đến nơi, hoặc bị sa thải. Toàn lâm trường, trước đây có ba ngàn người, nay chỉ vài trăm. Giám đốc C lên thay cố xoay xở. Nhiều người cho rằng e còn lâu mới phục hồi được như xưa, chưa nói đến làm “giàu” lên.

Cho đến nay, người dân vùng lâm trường – nếu không buôn bán hoặc xâm hại vốn rừng thì chỉ ăn vào rừng và đất rừng theo kiểu cò con. Hai thanh niên tôi gặp bảo họ thường sang Lào bắt các vật quí hiếm: rùa, tê tê, trăn…, vì bên này đã kiệt, để chuyển bán sang Tàu.

Trong khu vực lâm trường có suối nước khoáng Nác Sốt (nước nóng). Nước từ lòng đất trào ra nóng đến tám mươi độ, có thể vặt lông gà, vịt. Trước, nước tự do tuôn, ai muốn xài thì cứ việc. Nay, người ta đổ đá sỏi lấp lên thành đống và đặt bơm hút nước để kinh doanh. Nếu làm ăn được thì cũng góp phần tăng của cải cho xã hội và tạo công ăn việc làm cho một số người. Hiện đã làm dịch vụ dăm bồn tắm, còn đóng chai nước giải khát thì vẫn còn ở dạng sắp sửa, có gì đó nhùng nhằng dính đến cái hỗn danh “Minh nhớp” (tiếng địa phương: nhớp = bẩn).

Cách Trung Tâm không xa là mỏ thiếc đang khai thác thủ công. Trạm lọc đã được xây ở huyện lị nhưng rồi lại dùng làm việc khác.

Một vùng ma thiêng nước độc ngày xưa, qua nhiều bươn chải, đang đợi để cất mình. Thị trấn Trung Tâm trở thành một đô thị phồn vinh chẳng là ảo tưởng, nếu…

Trên đường thiên lí

Cùng với cả nước, Hà Tĩnh đang đứng trước những vận hội mới. Không như thời dân Nghệ Tĩnh phải phá bỏ vườn tược nơi đất bằng dời nhà lên đồi núi để “sản xuất lớn”, cái thời khẩu hiệu: “mo cơm, quả cà với tấm lòng cộng sản dựng xây chủ nghĩa xã hội”(!). Một ông vốn “duy ý chí” bây giờ cũng nói: “Cái tỉnh ta thiếu là tiền vốn, kĩ thuật, cùng người biết làm ăn và dám làm”. Hà Tĩnh có tiềm năng về vườn, về rừng, về khoáng sản, về biển, cả về du lịch. Vịnh nước sâu Vũng Áng, mỏ sắt Thạch Khê, rừng cấm quốc gia Vụ Quang,… những tài nguyên đang ngủ yên. Những bãi biển đẹp, rải rác trên dải bờ biển dài hơn một trăm hai mươi ki-lô-mét từ Cửa Hội đến Hoành Sơn; những hồ nước Kẻ Gỗ, Sông Rác; những di tích, danh thắng núi Hồng, đèo Ngang,… đang chờ tận dụng. Hiện tại, Hà Tĩnh chưa có sản phẩm công nghiệp gì đáng kể. Con đường liên quốc gia – đường số Tám – chưa thấy phát huy tác dụng kinh tế đáng có. Liên doanh khai thác ti-tan ở Kì Anh còn đó. Người  Ô-xtra-li-a thì mang các triệu đô-la về nước; phía Việt Nam nhận số lỗ bạc tỉ. Những dự án đã hoặc đang hình thành. Người Hà Tĩnh cũng như người cả nước có thể hi vọng. Tuy nhiên… Nhớ năm xưa, trong dịp kỉ niệm ba mươi năm giải phóng thành phố Hải Phòng, thủ tướng đương nhiệm hồi đó về dự có nói: “Các đồng chí ạ, dân người ta ăn gạo, ăn cá, thịt chứ không ăn giấy đâu”. Câu nói đã gây phản ứng rất khác nhau giữa lãnh đạo và dân chúng địa phương. Câu nói ấy, ngày nay vẫn chưa lỗi thời.

Hà Tĩnh nằm dọc đường thiên lí Bắc – Nam có từ nghìn xưa. Đường thiên lí, cái tên gợi “xa lắc và nhọc nhằn”, đã thượng lộ thì phải đi và phải đến. Nhanh hay chậm tuỳ sức, tuỳ chí, song còn phải tuỳ tâm nữa.

Hải Phòng, 12-1997

——————–

Trên trang web của Hội Đồng Hương Hà Tĩnh tại TP HCM, ngày 17-5-2012, Minh Trí nhận xét bài viết này: “Đã 15 rồi mà bài viết còn ý nghĩa sâu sắc”.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s