Khái Hưng-Nhất Linh

Chân dung Khái Hưng-Nhất Linh

Hoàng Yên Lưu

KhaiHungKhái Hưng sinh 1896, Nhất Linh ra đời muộn hơn gần 10 năm (1906) nhưng họ là đôi bạn thân thiết nổi tiếng trong Văn học Việt Nam hiện đại. Cả hai trong thời kỳ xây dựng nền văn học mới của ta, đã sáng lập Tự lực văn đoàn, điều khiển hai tờ Phong hóa và Ngày nay cũng như nhà xuất bản Đời nay tới thành công mỹ mãn. Đặc biệt hơn nữa, họ đã sáng chung nhiều truyện dài và truyện ngắn như Anh phải sống, Gánh hàng hoa và Đời mưa gió, những tiểu thuyết được khuyên son và được nhiều thế hệ trân trọng đốt lò hương cũ.
Trong các tác phẩm viết chung thường ghi rõ dấu ấn của từng tác giả. Trong các tiểu thuyết võ hiệp hiện đại, Kim Dung được coi là cây viết tài ba, kế đến là Lương Vũ Sinh. Hai nhà văn này đã từng có cơ hội hợp tác viết Thiên long bát bộ đăng từng kỳ trên Minh báo (Hồng Kông) vì có lúc Kim Dung bận việc để Lương Vũ Sinh viết thế vài chương. Người đọc có thể thấy ngay bút pháp của họ Lương ở những chương nói về Thiên sơn đồng mỗ, Nam viện đại vương vì cây bút này ưa những chi tiết ly kỳ và trọng việc mô tả võ nghệ, trong khi Kim Dung lại thích chữ “hiệp” và chữ “tình”.

Qua Gánh hàng hoa và Đời mưa gió khó tìm ra đâu là phần đóng góp của Khái Hưng và nơi nào là bút pháp của Nhất Linh. Hai cây bút của ta có quá nhiều điểm tương đồng và phần nổi bật nhất là cá tính hai nhà văn có nhiều điểm chung và sự cảm thông giữa họ vô cùng khắng khít.
Buffon (1707-1788) của Tây phương có nói “văn tức là người”. Còn Bồ Tùng Linh (1640-1715) của Đông phương trong Liêu trai chí dị có truyện Tư văn lang cũng cùng ý đó (nhân vật nhà sư mù trong truyện chỉ cần bảo người ta đốt bài văn và ngửi mùi khói là biết văn của ai, thấp hay cao hay hoặc dở, và cốt cách của người viết ra sao là quân tử hay tiểu nhân).
Ta thử đọc lại những tác phẩm của hai cây bút chủ lực trong Tự lực văn đoàn xem sao. Rõ ràng qua tác phẩm của họ, người đọc tưởng tượng tác giả phải là người phóng khoáng về tư tưởng, có lý tưởng cải tạo xã hội, đa cảm trước việc đời, trước con người xấu số và cảnh sắc quê hương muôn vẻ. Họ phải là kẻ sĩ tâm huyết, nghệ sĩ tài hoa và trí thức dấn thân. Văn thì vậy, còn con người thực thì sao? Tống Chi Vấn đời Đường nổi tiếng học giỏi và thơ hay nhưng con người lại rất tồi bại, dù gần trọn cuộc đời vì danh vọng nên bất chấp thủ đoạn kể cả hại bạn bè và thân thích, và cúc cung tận tụy với Võ Tắc Thiên nhưng cuối cùng cũng bị Võ hậu giết và ô danh ngàn đời.

Muốn biết chân dung bề trong Khái Hưng và Nhất Linh phải để người trong cuộc, nhưng từng chống đối họ, nhận xét mới khách quan. Nhân vật này là nhà thơ Huy Cận. Huy Cận (1919-2005) ở tuổi hai mươi được Nhất Linh thưởng thức tài năng và nâng đỡ trên đường sự nghiệp thơ văn. Sau này Huy Cận rẽ sang lãnh vực chính trị và cũng như Xuân Diệu, Thế Lữ vì “gặp thời thế, thế thời phải thế” có lúc chỉ trích Nhất Linh, Khái Hưng một cách tệ hại. Nhưng về già, khi đã mòn chân mỏi gối vì danh lợi, tác giả Lửa thiêng mới nhớ lại ân tình của những kẻ từng đỡ đầu mình, đã giúp mình tạo được thành tựu về văn chương, thứ sự nghiệp chân chính và vĩnh cửu, nên đã có những nhận xét sau đây khởi từ đáy lòng chứ không bắt nguồn từ ngụy tín:
“Lần đầu tiên tôi gặp Nhất Linh là vào dịp Tết Mậu Dần (1938), lúc bài thơ Chiều xưa của tôi được đăng trên báo Ngày nay số Tết; và Tết đó tôi từ Huế ra chơi Hà Nội cùng anh Xuân Diệu. Anh Xuân Diệu giới thiệu tôi với Nhất Linh. Nhất Linh đọc ngay câu thơ đầu của bài Chiều xưa “Buồn gieo theo gió veo hồ – Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa”. Thì ra Nhất Linh đã chú ý bài thơ của tôi đăng số Tết vừa phát hành. Rồi anh nói: “Hồn xưa trong một câu thơ lục bát rất mới! Chắc anh đã làm nhiều thơ? Về Huế anh nhớ gởi đều thơ ra báo chúng tôi”. Xong rồi Nhất Linh nói sang chuyện khác, chuyện chợ Tết, chuyện đi mua hoa, chuyện làng quê còn giữ được không khí Tết ngày xưa như hồi anh ấy còn đi học. Anh có mời tôi trở lại nhà báo chơi trước khi tôi trở về Huế tiếp tục học ban tú tài. Tôi đã trở lại tờNhat_Linh báo Ngày nay ở số 80 đường Quan Thánh Hà Nội, thăm Nhất Linh và Khái Hưng trước khi đáp tàu hỏa về Huế. Câu chuyện thân mật, thân tình không có gì là khách sáo, không có gì là “hàn lâm”. Tôi có nhắc qua những truyện tôi đã được đọc của các anh, tôi có nói qua phong trào Thơ mới, nói sự hâm mộ của thanh niên học sinh ở Huế, ở trường Quốc học đối với báo Ngày nay và sách của nhà xuất bản Đời nay. Nhất Linh và Khái Hưng không nhấn mạnh vào sự hâm mộ và hoan nghênh ấy của công chúng độc giả. Hai người nói nhiều với tôi về truyền thống nghìn năm văn vật của đất Thăng Long, của thành Hà Nội. Qua câu chuyện tôi cảm thấy những tình cảm của quê hương đất nước mà các anh đã diễn tả một cách kín đáo trong các truyện, các bài văn là một tình cảm sâu sắc, nung nấu trong lòng qua nhiều năm tháng. Trong câu chuyện cả Nhất Linh và Khái Hưng đều xen những câu hóm hỉnh, một thứ hu-mua rất Việt Nam, nhưng ở Nhất Linh thì kín đáo và đượm chút trữ tình, còn ở Khái Hưng thì bộc lộ thoải mái và điểm những tiếng cười, y như các cụ ta ngày xưa khi bàn chuyện tâm đắc với nhau.
Nhất Linh vẽ rất khéo, đặc biệt là vẽ những côn trùng, những con vật để minh họa những câu chuyện nửa văn chương, nửa khoa học của anh đăng trên báo Phong hóa. Anh cũng đã minh họa tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng bằng những nét vẽ rất gợi cảm; những tháng anh đã học trường mỹ thuật trước kia không phải là vô ích. Học khoa học nhưng về nước thì anh cùng Khái Hưng lo xây dựng sự nghiệp văn chương, hơn là đi dạy học như đa số những bạn du học như anh. Nhất Linh lại có một hồi mê học nhạc, đặc biệt là mê thổi kèn Clarinét; thường tôi đến tòa soạn báo Ngày nay hay gặp anh thổi những bài nhạc theo những điệu hát trong các phim nổi tiếng hồi bấy giờ là bài Horsay, Nàng Bạch Tuyết và bảy chàng lùn… Thỉnh thoảng anh cũng thổi một vài bản nhạc cổ điển Âu Tây ngắn như bài Sêrênát của Sube, bài Ánh trăng của Bitôven… Lúc Nhất Linh chúm môi thổi Clarinét thì vẻ mặt anh trầm lắng, hai mắt say sưa, thật dễ gây cảm tình.
Về Khái Hưng tôi cũng ghi sau đây một vài kỷ niệm. Lần đầu tiên tôi gặp Khái Hưng cũng là những ngày Tết Mậu Dần (đầu năm 1938). Khái Hưng hơn Nhất Linh mười tuổi, người mảnh khảnh, nước da mai mái, mắt hơi mài mại. Dáng dấp của Khái Hưng rất nhẹ nhõm, chân đi không nghe tiếng, người ta bảo đó là tướng mèo, có thể là biểu hiện một sự thư thái, thoải mái trong tâm hồn, mà cũng có thể là biểu hiện một sự rụt rè, thiếu tự tin. Đó là cách nói của các thầy tướng, còn tôi thì tôi thấy Khái Hưng rất hoạt bát, rất cởi mở, gần như có lúc bộp chộp nữa. Khái Hưng cũng có cái cười hồn nhiên, chào đón, môi cười mà hình như mắt cũng cười theo. Khái Hưng ngồi làm việc, nghĩa là ngồi viết suốt ngày ở cái bàn to của phòng họp tòa báo giữa một đống báo ngổn ngang, bên cạnh luôn luôn có một cái kính lúp để thỉnh thoảng anh lại dùng để đọc những chữ quá nhỏ hoặc quá khó đọc trên một trang báo hay trong một quyển tự vị. Khái Hưng viết truyện dài đăng trên báo Ngày nay, thường là viết hằng tuần một, theo nhịp độ in tờ báo. Đó cũng là cách làm anh phải viết nhanh, viết kịp thời, những điều đó cũng ảnh hưởng đến sự trau chuốt câu văn, và ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sự bố cục tình huống. Nói vậy thôi, chứ Khái Hưng viết truyện đã có dàn bài trước, tính cách nhân vật đã được nghiên cứu tương đối kỹ khi đặt bút viết, tất nhiên nhiều tình tiết sẽ được sáng tạo trong quá trình viết, trong quá trình văn đưa lên in trang báo. Còn văn của Khái Hưng thường thì trong sáng, trong trẻo nữa, và có những đoạn mang tính chất thơ như trong Hồn bướm mơ tiên, trong một số tập truyện ngắn của tập Dọc đường gió bụi. Văn của Khái Hưng còn một ưu điểm nữa là rất Việt Nam, một thứ văn Việt Nam mới, hiện đại nhưng tính dân tộc trong câu văn rất rõ. Khái Hưng đọc nhiều tiểu thuyết của phương Tây, và theo tôi biết anh đặc biệt thích đọc các tiểu thuyết của Somerset Maugham và của Dickens. Anh cũng đọc Stendhal, Flaubert và Balzac. Điều mà tôi quí nơi anh là anh còn ham đọc những sách chữ Hán, chữ Nôm của ông cha để lại (Khái Hưng hồi nhỏ đã học chữ Hán đến 12 tuổi rồi mới học chữ quốc ngữ và chữ Pháp). Khái Hưng trong lúc làm việc thích uống cà phê và nhờ bà vợ hoặc người nhà ra mua cà phê ở quán Joseph ở bên kia đường Quan Thánh, trước mặt tòa báo. Cũng có mấy lần anh mời tôi đi uống cà phê ở quán này, và tất nhiên là ăn bánh ngọt nữa. Ông chủ quán quen thân với nhà văn, biệt tính nhà văn uống cà phê đậm nên bao giờ cũng cho lượng bột cà phê gấp rưỡi hoặc gấp đôi vào cái phin. Đối với các bài thơ của tôi đăng đều trên báo Ngày nay anh đều xem kỹ và mau thuộc. Rất nhiều lần tôi đến tòa báo gặp anh thì anh đọc một loạt mấy câu thơ trong những bài đã đăng trước đây, tỏ ra thích thú và có khi bình luận lý thú. Anh cứ ngạc nhiên tại sao tôi là một người học mới, không biết chữ Nho, mà hồn nhiều bài thơ của tôi lại có phong cách dân tộc đậm đà như vậy và cũng có những bài phảng phất hồn thơ Đường mặc dù không phải là bắt chước thơ Đường, và cấu trúc bài thơ, và cũng như cấu tứ bài thơ lại hiện đại. Đến lúc tập thơ Lửa thiêng của tôi sắp in anh tha thiết muốn tôi đề tặng bài Buồn đêm mưa, sau đó lại tiếc bài Tràng giang và lại đề nghị tôi cho anh bài thơ đó. Thành thử một bài đề tặng Khái Hưng và một bài đề tặng Trần Khánh Giư là tên khai sanh của anh. Để đáp lại tình cảm, duyên văn tự ấy, anh đã tặng tôi bản thảo viết tay bằng mực màu đen nhánh một truyện vừa anh đã biết lúc mới vào đời văn. Bản thảo này tôi để trong một cái rương đã bị cháy ở Hương Khê lúc đầu kháng chiến chống Pháp, cháy cùng một số bản thảo và mấy bản Lửa thiêng giấy đẹp của tôi. Khái Hưng những ngày chủ nhật và những dịp lễ dài ngày thường rủ bạn bè đi thăm danh lam thắng cảnh, đặc biệt anh thích đi vãn cảnh chùa vùng Bắc Ninh Bắc Giang, là nơi nhiều chùa chiền đẹp xây dựng từ đời Lý đời Trần. Cũng trong một chuyến đi thăm chùa Tiêu Sơn ở Bắc Ninh mà anh đã nảy ra cái ý viết quyển tiểu thuyết Tiêu sơn tráng sĩ. Cảnh chùa Tiêu Sơn gợi cảm, đã thúc giục anh viết nhanh, viết hào hứng quyển truyện gọi là lịch sử, nhưng có tính chất kiếm hiệp này. Anh cũng thường giao du với một số vị sư mà anh quen biết trong cuộc đời nay đây mai đó trước đây của anh, lúc anh còn là một nhà buôn tài tử, trước khi về sống ổn định ở Hà Nội đi dạy học ở trường Thăng Long. Chính anh và Nhất Ling đã mời tôi đi xem chùa Thầy và cảnh núi Sài Sơn ở huyện Quốc Oai, Sơn Tây vào một ngày hè năm 1940. Anh rất thạo về đạo Phật và thuyết minh cặn kẽ cho tôi hiểu về ngôi chùa, về Từ Đạo Hạnh, về các vị La hán thờ trong hậu tự, về kiến trúc cổ kính của ngôi chùa. Lên thăm cảnh chợ trời trên núi Sài Sơn, chúng tôi lại cùng nhau ngâm lại những câu thơ phóng khoáng, đầy gợi cảm của Hồ Xuân Hương:
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi…
Khái Hưng mang cốt cách một người tài tử, thích ngao du nay đây mai đó, du sơn du thủy như một cụ nhà Nho ngày xưa. Những cảnh cật vùng trung du mà anh thường hay tả trong các truyện của anh (vùng Phú Thọ, vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, vùng Sơn Tây, Hòa Bình…) chính là những cảnh anh đã sống, đã thân thuộc, đã yêu mến với tấm lòng “lãng tử” của anh. Chính vì vậy mà thứ tình quê hương nhẹ nhàng nhưng thấm thía mà anh đã gợi lên trong văn của anh có sức hấp dẫn, có sức thuyết phục. Lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, cảnh đồng quê, cả ở vùng trung du và vùng đồng bằng được gợi lên một cách đẹp đẽ và dễ cảm tình như vậy, khác hẳn với những cái cảnh “cổ điền” được ghép lại bằng những hình tượng vay mượn trong sách xưa của ta hay của Tàu. Nhưng thôi, lúc khác tôi sẽ bình luận về văn và truyện của Khái Hưng. Trong Tự lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của tờ báo Ngày nay và của nhà xuất bản Đời nay.” (Huy cận -Hồi ký song đôi)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s