Khuynh hướng quốc gia của Phạm Quỳnh

Khuynh hướng quốc gia của Phạm Quỳnh trong du ký

phamquynh013013-188x300
Hoàng Yên Lưu

Phạm Quỳnh ở tuổi chưa đầy ba mươi (sinh 1892) bộc lộ tinh thần quốc gia rõ rệt. Những hoạt động trong giai đoạn từ 1917 tới khi vào Huế làm quan (1932), từ viết báo, diễn thuyết, viết du ký đều chứng tỏ ông rất nhiệt tình thực hiện mộng tưởng của một trí thức ôm ấp hoài bão quốc gia rất cao. Đọc Một tháng ở Nam Kỳ, một thiên du ký ông viết vào năm 1919, có thể thấy rõ điều này.
Khi vào Nam, trong một tháng Phạm Quỳnh không những chú ý tới cảnh sắc Lục tỉnh và con người của sông Tiền, sông Hậu mà còn để tâm quan sát tinh vi tới sinh hoạt văn học chữ quốc ngữ thể hiện bằng báo chí và cả tình trạng kinh tế của mảnh đất phồn vinh này. Nhiều lần ông nhắc tới cái họa China và họa Chà và mong mỏi có biện pháp sớm chấm dứt hiểm họa cho đất nước ta vì bị các thế lực kinh tế này lũng đoạn. Ông từng viết:
“Cái ‘China họa’ (le péril chinois) ở xứ Bắc mình tuy đã thâm lắm mà tỉ với Nam Kỳ còn chưa thấm vào đâu: Hải Phòng tức là Chợ Lớn Bắc Kỳ có 8.991 người Khách, mà Chợ Lớn Nam Kỳ có những 75.000 Khách với 4.873 người Minh Hương! Hà Nội có 3.377 người Khách với 825 người Minh Hương, mà Sài Gòn có những 22.079 người Khách với 677 người Minh Hương! Coi đó thì biết cái nguy cho xứ Nam Kỳ to là dường nào… Nay nhân nói về Khách Hải Phòng, chỉ muốn so sánh qua cái số người Tàu trong Nam ngoài Bắc, cho biết cái vạ China ở hai xứ hơn kém nhau thế nào. Song dù hơn, dù kém, dù ít, dù nhiều, cũng vẫn là một cái vạ lớn cho nước Nam mình, quốc dân ta nên sớm tỉnh ngộ mà mưu trừ đi, mới mong có ngày thu phục được mối thương quyền mà ra tranh đua trên thị trường thế giới.”
Trong phần dưới ông nói tới mối họa thứ hai mà nhà nông Nam Việt phải gánh vác:
“Cái hiểm tượng ấy là cái hiểm tượng bọn Chà và (Tây đen) cho vay, trong Nam kỳ gọi là bọn “xả tri” (tức ngoài ta gọi là “xét ty” = chetty). Bọn Chà cho vay này cũng hại cho người dân bằng bọn “Chệt” buôn gạo kia, khiến cho có người đã nói rằng: “Dân Nam kỳ có hai cái họa lớn: là cái họa Chệt và cái họa Chà”. Dân làm ruộng thì ở đâu cũng vậy, suốt năm chỉ trông vào mùa gặt mà tiêu dùng cả năm. Ngộ gặp năm mất mùa, hay là giữa năm túng tiền tiêu thì biết hỏi vào đâu? Tất phải đến khất vay bọn “xả-tri”, bọn đó bắt lãi rất nặng, đã túng thì thế nào chẳng phải vay. Đến hạn trả được thì chớ, không trả được thì lãi phụ vào gốc thành món nợ mới, mỗi ngày lại một nặng lên. Nhiều người cùng không trả được bị tịch ký mất cả ruộng đất, lắm khi đến thất nghiệp, cùng vô sở xuất. Ấy cái “họa Chà” ghê như vậy, chẳng kém gì cái “họa Chệt” trên kia, một cái hại riêng từng người, một cái hại chung cả xứ, hai cái cùng độc bằng nhau.”
Hiển nhiên quan niệm trên xuất phát từ nhiệt tâm của một người trí thức phải chứng kiến đất nước đang trì trệ, người dân phải sống trong cảnh “một cổ đôi ba tròng”, và phản ánh đúng thực tế nhưng cách diễn tả không khỏi có người cho rằng đó là sản phẩm của một chủ trương bảo thủ, có phần hữu khuynh và cực đoan.
Để hiểu rõ hơn nhiệt tâm đối với vận mệnh quốc gia của Phạm Quỳnh trong tuổi thanh niên, xin đọc phần trích sau đây trong du ký Một tháng ở Nam kỳ khi ông bàn về cuộc Nam Tiến của dân tộc ta:

Cuộc “Nam tiến” của dân tộc ta
“Thử xét cả cuộc lịch sử dân An Nam ta là một cuộc “Nam tiến” vô hồi vô hạn. Giống Giao chỉ nguyên phát tích tự đất trung châu xứ Bắc Kỳ, rồi mỗi ngày một bành trướng mãi ra, mà bành trướng về phía Bắc không sao được, gặp những rừng núi ngăn trở, lại có giống mạnh hơn không thể tranh nổi, thì tất phải tràn về phía Nam, càng ngày càng lan rộng mãi ra gặp những dân thổ trước thì tiêu diệt cho tàn, hoặc dung hóa cho hết: Chiêm thành, Chân lạp khi xưa hiển hách biết bao mà nay còn gì? Người đã bị ta diệt, còn sót lại tấm thành cổ góc miếu xưa, để làm cái chứng cho đời sau rằng xưa kia đã có một giống người sinh trưởng trước ta ở chốn đó! Ôi! Khốc liệt thay cái lẽ sinh tồn cạnh tranh của trời đất.
Giống Chiêm thành không phải là giống hèn: tức là một giống thượng võ, văn minh cũng chẳng kém gì mình, cứ xem những đền đài lăng tháp còn lại thì đủ biết. Chỉ vì mình kiên nhẫn và mình nhiều người hơn nó, lại bị cái lẽ sinh tồn nó bắt buộc phải liều sống liều chết mà tràn vào phía nam cho được, không thì chật hết chỗ không biết sống vào đâu, nên mình đánh nó, mãi nó phải thua, nhưng trước sau biết bao nhiêu thắng phụ, kể đến ngót một nghìn năm mới tiêu diệt được hết, ước đến thế kỷ thứ 16 thì đã gồm được suốt dải đất Trung kỳ, bước tới nơi đồng bằng Lục tỉnh.
Lục tỉnh bấy giờ còn là Thủy chân lạp. Giống chân lạp tức là giống Cao miên ngày nay. Người Chân lạp còn ở rải rác mọi nơi, thành từng làng xóm nho nhỏ ở giữa đồng ruộng mênh mông: những tên đất tên tỉnh ở miền tây-nam xứ Nam Kỳ ngày nay phần nhiều là gốc tự tiếng Chân lạp cả như Sadec, Sóc trăng, Cần thơ, Bạc liêu, vân vân không phải là tên chữ mà cũng không phải là tiếng Nôm của mình.
Người mình tới nơi mỗi ngày một xua đuổi dân Cao miên lên chốn Cao Nguyên; còn những bình nguyên đất tốt mình chiếm cứ lấy. Đến đầu bản triều thì cả đất Thủy chân lạp (tức là Nam kỳ) đã về ngay giống mình rồi. Bấy giờ lại đi ngược lên mà tràn sang Lục chân lạp, là đất Cao miên ngày nay. Giống Cao miên yếu hèn, vả cũng ít người mình tới đâu nó chạy tới đó, nên sự cạnh tranh không kịch liệt lắm, nhưng cũng lắm phen người Cao miên sang cầu cứu ở Xiêm viện quân Xiêm sang giúp: Nên ta phải đánh nhau với Xiêm mấy trận, Xiêm bị thua. Vua Miên chạy trốn, triều đình ta bèn đặt bảo hộ ở đất Cao Miên, dựng thành trấn Nam Vang: về triều Thiệu trị-Tự Đức, nước ta thường có quan khâm sai tổng đốc ở Nam Vang (Phnom Penh). Thử coi cái sức bành trướng của dân mình có ghê không, khác nào cái vết dầu trên tờ giấy trắng vậy. Trước còn nhỏ mà sau cứ thấm dần ra mãi, không có gì ngăn lại được.
Coi đó thì biết sự ‘Nam tiến’ là cái phép lớn trong lịch sử giống Việt Nam ta. Trong hơn hai nghìn năm ta chỉ tiến về phía Nam mà ta mới sống được. Cái cuộc Nam tiến đó đến Nguyễn triều đã tạm gọi là xong. Nhưng nhà Nguyễn còn là mới khai thác được một nửa xứ Nam Kỳ mà thôi. Còn một nửa kia từ sông Hậu giang trở xuống phải đợi đến nhà nước Đại Pháp sang mới bắt đầu mở mang nốt. Nên trong địa dư xứ Nam Kỳ rõ biệt hẳn ra hai phần: cái phần tự sông Tiền giang (Fleuve Antérieur) trở lên là đất cũ của bản triều đã mở mang từ trước, nhân dân tụ họp đã lâu, ruộng đất thành thuộc gần khắp, cách cày cấy trồng trọt nhiều nơi làm mỗi năm hai mùa đã gần giống như ngoài Bắc, người dân cũng đã chịu cảm hóa của triều đình sâu, xưa kia đã từng sản được nhiều người tài giỏi có công với xã tắc; cái phần tự sống Tiền giang trở xuống là phần đất mới khai thác tự sau khi nhà nước Đại pháp sang chiếm lãnh, trước sau chưa có một chút lịch sử gì, có lắm nơi tỉnh thành chỉ mới thành lập được mười lăm năm nay, nhưng phần đất này đất phì nhiêu có một, hễ phát hoang tới đâu là thành ruộng tới đó, cày cấy tốt quá, thóc gạo không biết bao nhiêu mà kể. Hiện nay những tỉnh giàu nhất, lớn nhất ở Nam kỳ là thuộc về phần đó, còn phần trên tuy có văn vật hơn mà đã cho là đất kiệt đất cũ rồi.”

Đọc phần trích giảng trên và theo dõi toàn thiên hồi ký Một tháng ở Nam Kỳ, thấy rõ ông chủ bút Nam Phong lúc nào cũng muốn gắn liền báo chí với vai trò mở mang kiến thức cho độc giả và hô hào bảo vệ những tài sản quý báu của dân tộc, kể cả tài sản kinh tế.
Qua đó cũng có thể thấy rõ hơn:
– Lối văn của Phạm Quỳnh so với thời đại ông là lối văn chuẩn mực nhưng ngày nay người đọc dễ dàng cảm nhận sự dài dòng, sử dụng nhiều từ Hán Việt trong lối hành văn cách đây gần một thế kỷ (1919-2013).
– Quan niệm của Phạm Quỳnh về lịch trình diễn tiến cuộc Nam tiến của dân tộc ta cũng như động lực của tiến trình này nhìn chung là cổ điển (quan niệm của Quốc sử quán) và nhiều phần chính xác. Tuy nhiên, cách lý luận và niềm tự hào, cũng như tham vọng của ông đôi khi phản ánh chủ nghĩa quốc gia cực đoan, nhất là khi ông đề cập tới việc nước ta thôn tính và đồng hóa Chiêm thành và Chân lạp và trong phần chúng tôi không trích dẫn, ông còn dự đoán chúng ta sẽ bành trướng sang Xiêm!
Cũng đừng nên quên Phạm Quỳnh viết những dòng trên khi công trình khảo cứu về ngồn gốc dân tộc Việt Nam cũng như lịch trình của cuộc Nam Tiến của ta còn chưa có biên khảo quy mô và khách quan hơn như của Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim, H. Maspero, Léonard Aurousseau, Nguyễn văn Tố và Phan Khoang…
Hoàng Yên Lưu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s