Khải Nguyên ** NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT
(tiếp theo)
6. ĐẾN VỚI “VIÊN NGỌC XANH”
GIỮA NÚI RỪNG BẮC CẠN

Heo hút Bắc Cạn

    VN11  Tôi đã tới hầu khắp các tỉnh Bắc bộ nước ta, vậy mà với Bắc Cạn, một trong sáu tỉnh thuộc chiến khu xưa, thời tiền khởi nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám, lại chưa một lần được đặt chân tới. Không là một tỉnh biên giới mà Bắc Cạn nghe chừng heo hút, “khắc khổ”. Cái tên tỉnh, không hiểu sao, nhiều lúc người ta viết Kạn thay vì Cạn cả trong một số văn bản chính qui cũng gợi sự trắc trở, xa ngái. Vẫn biết ngày nay đường sá, phương tiện đi lại đã khá lên nhiều, dẫu còn xa mới vào hàng tiên tiến, tôi vẫn ngại ngần khi cùng một ông bạn làm một chuyến du kiểu “Tây ba lô” (thật tình thì đâu đã xông xáo, dầu dãi được như họ). Từ đồng bằng đi Thái Nguyên gặp được chuyến xe “chất lượng cao” cũng khá thoải mái. Từ Thái Nguyên đi Bắc Cạn mới nếm mùi “hành” khách. Vừa đặt chân xuống bến xe Thái Nguyên, một thanh niên đến đon đả: “Hai bác đi Bắc Cạn thì mời lên xe. Chúng cháu đi ngay không rềnh ràng như các xe khác đâu”. Vốn đã
định nấn ná ở lại ít ra vài giờ thăm thú cái thành phố từng quen mà nay lạ hoắc, nghe bùi tai bèn leo lên xe. Thế rồi y như bản sao chuyện gặp ở bến xe Hà Tĩnh năm nào, xe thò ra thụt vào, quành đi quẩn lại, rập rình hơn tiếng rưỡi đồng hồ mới chịu chính thức rời bến cho. Xe chạy tuyến Thái Nguyên – Bắc Cạn nhưng lúc lúc lại trưng biển Cao Bằng lên trước xe, tại bến cũng như dọc đường, để dụ khách lên. Tới Bắc Cạn số khách này sẽ bị bán lại cho xe khác lên Cao Bằng, và dĩ nhiên lại lệ thuộc vào xe sau.

        Tỉnh Bắc Cạn mới được lập lại chưa lâu, tách ra từ tỉnh Bắc Thái. Số phận tỉnh lị của nó, thị xã Bắc Cạn, cũng như của các tỉnh nhỏ khác tách ra từ cuộc “hôn phối” với một tỉnh có ưu thế hơn, hầu như bị bỏ lơ hoặc đối xử như với một thị trấn. Các tỉnh lị này lấy lại sức sống cũng tương đối nhanh. Thị xã Bắc Cạn đã kịp hình thành một khu trung tâm mới với những công sở khang trang và những con đường rộng rãi rải bê tông nhựa, trong đó có con đường đôi mà giải phân cách là những ô vườn hoa bề ngang chừng mươi mét, xinh xắn, được chăm sóc. Ngự một đầu vườn là tấm biển đề “Cấm người và thả súc vật” nom vừa tức cười, vừa cám cảnh. Tự nhiên nhớ đến chuyện tô giới của nước ngoài trên đất Tàu, thời các đế quốc còn làm mưa làm gió, đã trưng biển cấm bén mảng đối với “chó và người Trung Hoa”. Một liên hệ chẳng mấy đắt, méo mó nữa, bởi chuyện sau chẳng phải là chuyện tức cười! Hơn nữa, rất khác nhau, một bên vô tình (và vô “câu cú”), một bên cố tình.  Thị xã Bắc Cạn tọa lạc trên một thung lũng hẹp, núi đồi xen lấn. Có những khu nhà mới, như toà tỉnh uỷ, ngự trên cao. Khu trung tâm cũ có một cái chợ khá qui mô. Lâm thổ sản không nhiều như lí ra phải vậy. Không ê hề hàng Trung Quốc như ở chợ Lạng Sơn. Một phần lớn khu lồng chợ đầy hàng vải và hàng may mặc. Một cô bán hàng thanh minh: “Có nhiều thứ vải Việt Nam chứ không phải chỉ hàng Tàu đâu”. Thị xã đang trên đường kiến thiết. Song le, một cán bộ quan trọng của tỉnh trong câu chuyện thân tình hé lộ: nay đã sắp sang quí tư rồi mà chưa có cách sử dụng hết hơn trăm tỉ đồng trên cấp.

        So với nhiều thị xã, thị trấn, đây là một đô thị khá vắng, vắng xe cộ, vắng người lại qua. Gặp trên đường phố nhiều xe máy hơn xe đạp, chắc chẳng phải vì địa thế không thuận tiện cho xe đạp.

       Có một chuyện “thật mà khó tin”. Chúng tôi đang tìm “xe ôm”. Trời mưa lất phất. Một cán bộ ban quản lí thị trường ở gần đấy đến bảo: “Trời này, họ chẳng chở đâu. Để cháu đi tìm cho”. Nói rồi, anh phóng xe máy đi. Chừng mười lăm phút sau, anh mới quay lại cùng một người lái xe ôm. Anh này không tỏ ra sốt sắng cần khách lắm. Song cũng không bắt bí. Chả bù với ở dưới xuôi. Mời mọc, gạ gẫm, chèo kéo. Một người sở tại bảo: “Dân ở đây lười (?)”. Xem ra thì chẳng qua họ làm nghề tay trái, không là nghề mưu sinh chính như các đồng nghiệp của họ ở nhiều nơi khác.

        Bắc Cạn là một tỉnh thượng du, núi cao nhấp nhô bưng tầm mắt (ở lâu chắc là thèm chân trời), không hùng vĩ bằng ở Lai Châu, song đậm màu rừng hơn, có nghĩa rằng núi ít bị gọt trọc hơn. Những đồng lúa hẹp giữa các khe núi, ven sông, ven suối cũng rải rác nhiều hơn ở Lai Châu, nhưng không gặp dải đồng ruộng nào kế tiếp nhau, có chỗ khá rộng, như bên đường Lai Châu – Phong Thổ. Lúa đồng lên xanh, dầy, thấp cây, ông bạn tôi tưởng là mạ hoặc lúa gieo sạ như ở Nam Bộ. Không như ở Tây Bắc, không thấy mấy những nương ngô, nương sắn, ruộng bậc thang trên sườn núi. Được biết dân ở đây làm ruộng vụ mùa, còn vụ chiêm trồng ngô. Mấy năm nay, hạt ngô lai bán được giá.

        Ven đường, thỉnh thoảng gặp cụm dân cư thưa thớt, nhà sàn cạnh nhà trệt, nhiều nhà lợp ngói lòng máng, kiểu ngói truyền thống. Đỡ hoang sơ và đỡ “lạnh” hơn đường trường Lai Châu.

Một gia đình trí thức dân tộc thiểu số

Phường Sông Cầu thị xã Bắc Cạn, cách cầu Khuổi Rằm chừng hai mươi mét, có ba ngôi nhà xây kiểu hiện đại bên một con đường nhựa đang “ngập ngừng” giữ đường làng và đường phố. Đó là các nhà của ông Ma Văn Tiều, một người Tày bản địa, và các con trai. Vợ chồng ông đều dạy học. Bà là giáo viên cấp hai; ông từng làm hiệu trưởng trường cấp ba thị xã cho đến lúc về hưu. Bà, vẻ người chân chất, có nét phúc hậu của phụ nữ Việt Nam nói chung. Ông thì cởi mở, bộc trực, tính cách của người miền ngược, nhưng bặt thiệp. Tiếp xúc với ông có thể nghĩ ông là thị dân miền xuôi. Năm 1986, ông về hưu, cảnh nhà bần bách, còn phải nuôi con ăn học. Vốn dạy địa lí, từng được dự lớp bồi dưỡng kiến thức về mỏ khoáng của chuyên gia Liên Xô, ông bèn đi tìm vàng. Ông chỉ ra mấy nơi có vàng, song người ta đào thì được còn ông chẳng gặp may. Năm 1993, ông cùng mấy người bạn, góp chuyên môn mỗi người một vẻ, đến Cao Bằng nhận thiết kế con đường Bảo Lạc – Nguyên Bình. Cặm cụi làm sắp hoàn thành, một chủ tịch huyện bắt phải nắn đường cho qua bản quê hương ông ta, dôi ra đến 7km, cũng phải chiều ý. Xong xuôi, đưa trình duyệt, ngưòi ta bồi dưỡng một khoản tiền “không đủ ăn quà sáng” và bảo chờ, rồi ỉm luôn. Mãi năm 2000, họ mới thi công, nói là theo thiết kế mới, thực tế thì chẳng sai khác bản của các ông trước đây bao nhiêu. Chẳng biết tiền công thiết kế vào túi những ai. Các ông lại nhận làm các bể chứa nước cho dân vùng núi đá gần như khan nước quanh năm. Vị phụ trách định canh, định cư, người Tày, ngồi bắt tréo chân, hất hàm:

– Chúng mày đưa trước cho tao mười phần trăm, tao kí cho mà làm.

– Chúng tôi đang đói đây, đào đâu ra tiền mà đưa trước.

– Không có thì thôi, khỏi làm.

Cuối năm, anh ta trả tiền vào kho Nhà nước. Túi anh ta khát tiền, mặc đồng bào khát nước. Nếu là cán bộ người Kinh thì chắc là “tháo vát” hơn; tiền đã rời kho Nhà nước, khó mà quay lại.

Cuối cùng, ông quay về nghiên cứu cây thuốc và bài thuốc dân tộc. Có kết quả. Lại thêm nghề nuôi nhím. Cộng với sự tảo tần của bà vợ, ông bà nuôi con ăn học thành tài cả. Hai cậu con trai đầu tốt nghiệp đại học Sư phạm ra dạy học một thời gian, tỉnh điều đi, người thì sang công tác đo lường chất lượng, người thì làm địa chính. Vợ chồng người con trai út đậu cao đẳng Sư phạm ngoại ngữ, nay đang học tiếp đại học. Cả nhà trí thức. Người dâu đầu dạy văn cấp ba. Người dâu thứ hai là bác sĩ. Đại gia đình này cũng là một mẫu “đoàn kết dân tộc”: rể (duy nhất) là người Kinh, con dâu thứ hai là người Thái. Đến chơi, không phân biệt được ai là Tày, ai là Thái, ai là Kinh. Trong nhà cũng không thấy rõ các dấu hiệu dân tộc. Bà vợ nói: “Người Tày chúng tôi đông nhất sau người Kinh, song về màu sắc trang phục, về văn hoá dân gian không phong phú bằng các dân tộc thiểu số khác. Những thứ này cũng phôi pha, mai một dần đi, nhất là khi đã ra ở nơi phố xá”. E rằng những thứ bà nói sẽ chỉ có mặt trên sàn diễn và nơi lễ hội. Với các dân tộc thiểu số cũng vậy! Với người Kinh cũng vậy!

 

Như là huyền thoại

Ông Tiều nói thuốc gia truyền ẩn trong các dân tộc có những môn hiệu nghiệm kì lạ. Có một chuyện nghe như huyền thoại. Xin kể ra đây, có giá trị khoa học đến đâu xin nhờ các nhà chuyên môn.

Ngày ấy, một nhóm học viên trường Quản lí cán bộ giáo dục đến Nghĩa Lộ “đi thực tế”. Họ trọ trong nhà một thiếu tá quân đội vừa từ trong Nam ra nghỉ hưu sau 1975. Vợ người này đẻ xong bị sa ruột, một đống bèo nhèo đùn ra từ cửa mình, phải trải vải sạch để lót. Người ta định khiêng đến bệnh viện. Một học viên người Thái ở Phong Thổ nói: “Bệnh viện chẳng giải quyết được đâu”.

Một người hỏi: – Anh giải quyết được à?

Anh ta bình thản: – Tôi chữa được.

Các bạn trong nhóm ồn lên: – Chữa đi! Chữa đi!

Anh ta thủng thẳng: – Tiền chữa phải nặng bằng người, gia chủ có chịu không?

Anh chồng đưa cái nhìn nghi hoặc nhưng cũng gật đầu vội.

Ông lang “tự nhận” nói: – Thế thì được. Cho một người nhà đi với tôi và hai anh bạn nữa. Mang theo cuốc, thuổng, dao, sọt!

Vào rừng, anh ta dẫn tốp người đi lòng vòng, lên dốc, xuống lũng, đào rễ cây này, chặt cành cây kia, hái lá cây nọ nhét chặt một sọt.

Anh ta dẫn mọi người tới một dòng suối rồi bảo:

– Bây giờ các anh về đi, nấu cho tôi 5 lít nước sôi thật sạch!

Ở lại một mình, anh ta moi sọt quẳng đi một đống tướng, chỉ giữ lại những thứ anh ta đã chủ tâm trước, rửa sạch, dùng đá suối làm công cụ giã nát, cho vào sọt địu về.

Tới nhà, anh ta nói ngay: – Nước sôi chưa? Ra ngoài cả đi!

Anh ta vốc từng nắm lá đã giã cho vào nồi nước sôi khuấn đều. Một chốc, anh ta múc ra một bát, tự nếm thử trước, trao cho anh chồng “uống vừa chưa?”, rồi mới đưa cho chị vợ uống. Tiếp đó, anh ta dùng nước thuốc vẩy lên đống ruột. Cứ nửa giờ vẩy tiếp một lần. Sau chừng hai giờ đồng hồ, điều kì diệu xẩy ra: đoạn ruột sổ co dần vào khoang bụng. Thầy lang dùng vải sạch tẩm nước thuốc đắp lên bụng sản phụ từ cửa mình đến vùng rốn. Vài giờ sau, chị ngồi dậy được và có thể cho con bú.

Sáng hôm sau, anh người Thái tập hợp các học viên lại ngồi cùng chủ nhà. Anh nghiêm chỉnh nói:

– Lát nữa chúng tôi sẽ lên đường về lại trường. Có các anh đây làm chứng, gia chủ hãy thực hiện giao ước đi. Có gì “nặng” mang ra đây!

Thiếu tá về hưu, mặt không thảm như sáng hôm trước, cũng không rạng như buổi chiều, rót nước mời mọi người, tự mình làm một mồi thuốc lào, nhả khói qua lỗ mũi, rồi vào buồng lấy ra một vòng tay bằng đá quí, 10 lá vàng 9999, 2000 đô la Mĩ và hai vạn đồng tiền Việt Nam (bấy giờ số người được hưởng lương 100 đồng/tháng trong ngành giáo dục ở một tỉnh lớn không đếm đủ trên đầu ngón tay).

Các bạn học viên lác cả mắt, ngồi im phắc. Ngày ấy, ở miền Bắc chẳng mấy ai có nổi chừng nấy, đó là cả một gia tài không nhỏ.

Thầy lang vườn lắc đầu: – Chưa đủ. Còn gì nằng nặng nữa không?

Chủ nhà lẳng lặng đứng lên đi vào trong, lát sau xách ra một khẩu súng săn Mĩ mới cứng trao tận tay ân nhân và là “chủ nợ” (!) của mình. Anh ta cầm lấy xem xét, thử khoá nòng, rồi hỏi:

– Súng thì phải có đạn chứ?

Hai hộp đạn săn Mĩ mới toanh được đem ra đặt lên bàn.

Người “sách nhiễu” lẩn mẩn xếp riêng từng thứ của quí, nghiêng đầu ngắm nghía rồi… ngửa đầu cười ha hả. Dứt cơn cười, anh thong thả chỉ vào từng món:

– Tôi ở miền núi không biết tiêu tiền Mĩ. Chỗ tiền Việt này để bồi dưỡng cho chị nhà; chị còn yếu lắm, phải tẩm bổ nhiều, không được cất nhắc nặng. Vòng tay để chị khoẻ mạnh rồi thì trang điểm. Chỗ vàng này dành để nuôi cháu bé lớn lên và cho ăn học. Còn thứ này (anh giơ khẩu súng lên), chỗ tôi lắm thú rừng phá nương rẫy, có cả thú dữ, tôi cũng thích đi săn, tôi xin vậy.

Bị bất ngờ, chủ nhà thần mặt ra; còn anh em sau giây phút lặng đi cùng cất tiếng cười vui vẻ.

Ông Tiều cho biết về sau thầy giáo người Thái nọ cũng mách bài thuốc kia cho một đồng nghiệp ở Bắc Cạn. Tôi không tiện hỏi người đó có phải là ông không.

Đường vào “viên ngọc xanh”

Từ thị xã Bắc Cạn muốn tới hồ Ba Bể, -được mệnh danh là viờn ngọc xanh, phải đi ôtô đến huyện lị Chợ Rã, cái tên đã đi vào thơ kháng chiến chống Pháp (“chuyện chợ Đồn, chợ Rã / ta đánh giặc chạy re / Hai đứa cười ha hả”) nay được đổi là Ba Bể, theo tên cái hồ nổi tiếng.

Sáng sớm đã gọi điện cho xe ôm nhưng mãi chẳng thấy. Con chủ nhà bèn lấy xe của mình chở khách ra bến xe. Một cái bến gọn sạch, ít xe và cũng ít người. Xe đi Thái Nguyên, đi Cao Bằng, xe đi các huyện lị Chợ Đồn, Nà Rì, Ngân Sơn,… Một chiếc xe hai mươi chỗ ngồi treo biển đi chợ Rã, khí tã. Chủ xe là một chị trung niên. “Chuyến sáu rưỡi đã đi rồi, chuyến này là chuyến tám rưỡi. Chúng em không như bọn xe Thái Nguyên đâu (đâu chỉ Thái Nguyên, xe thường Hải Phòng cũng vậy thôi!), đến giờ là đi. Hôm nay, tám giờ em cũng cho chạy, đã báo với bến rồi”. Y như lời.

Đường Bắc Cạn – Chợ Rã hơn 60km. Đoạn đến Phủ Thông uốn lượn nhiều, song dốc “nhẹ”. Đường lát bê tông xi măng, bền hơn bê tông nhựa nhưng xe đi hơi xóc, giá phủ nhựa lên hẳn êm hơn và bền hơn. Từ Phủ Thông đến Chợ Rã xa 42km, ba đèo kế tiếp nhau, dốc tức nhất là đèo Thạch Ngoã. Vậy mà thấy ba cô gái, người Tày thì phải, đi xe đạp đang dổ dốc. Anh lái chiếc xe tôi đi, cũng là người Tày, nói: “Dân ở đây quen thế rồi”. Đội đua xe đạp vượt đèo sao không lựa các tay đua ở vùng này nhỉ?. Đường chỉ rộng đủ cho hai ôtô tránh nhau, rải nhựa; có mấy chỗ lở lẹm sát vào mặt nhựa, cọc tiêu phải cắm lùi vào đến một phần ba lòng đường. Thấy nói con đường này đang được “chuẩn bị đại tu”, còn bao giờ thì tuỳ… Năm xưa, dặm dài Tây Bắc suốt từ Hoà Bình cho tới Sa Pa dọc đường không gặp một cái chợ quê nào. Đường vào Chợ Rã lần này loáng thoáng vài ba cái chợ làng bản. To nhất có lẽ là chợ Pù Mắt. Chợ họp trên một ngọn đồi thấp, xe đi quanh dưới chân đồi không nhìn thấy được, song bãi đỗ xe có ít ra là dăm chục xe máy, xe đạp (xe máy có mòi nhiều hơn) đủ nói lên số lượng khách đi chợ, cả “chất lượng” nữa. Bởi, nói đến chợ quê người ta hay nghĩ đến hình ảnh vai gánh hoặc đầu đội nhịp theo chân bước.

Huyện Ba Bể (Chợ Rã), cùng với huyện Ngân Sơn, trước thuộc Cao Bằng, nhập vào Bắc Cạn sau khi tái lập tỉnh này. Thị trấn Ba Bể có địa bàn rộng hơn nhiều thị trấn dưới xuôi. Có cái lùi xùi của miền nửa quê. Ngay sau một ngôi nhà ba tầng đỏm dáng mặt phố là nương và ruộng. Có cái bề bộn của sự “vỡ da”. Đường phố khá dài không được thẳng, chưa chú ý đến hè đường. Có nhiều nhà mới xây dễ trông, không kệch cỡm hoặc khoe mẽ như ở nhiều nơi khác thuộc vùng “văn minh” hơn. Mướn các đội xây dựng dưới xuôi lên.

Trong số các nhà nói trên, có khách sạn tư nhân C.Q. Chủ mới 36 tuổi, là phó giám đốc một công ti trách nhiệm hữu hạn về xây dựng chuyên nhận thầu các công trình của Nhà nước nhiều tỉ đồng. Khách sạn cao ba tầng, các phòng trọ đều thuộc loại sang gắn máy điều hoà nhiệt độ. Có đầu bếp phục vụ khách tại chỗ. Một người Pháp đi cùng người hướng dẫn du lịch đang đặt bữa với chủ khách sạn. Anh hướng dẫn viên bảo: “Cứ tính cao vào! Bọn Tây thiếu gì tiền”. (Sực nhớ lại lời than phiền của một khách du Tây ba lô: “Người Việt Nam các ông cứ nghĩ chúng tôi lắm tiền đi du lịch để tiêu bớt đi. Thực ra đâu phải thế. Chúng tôi đi trước hết là để biết thêm những xứ sở, những nền văn hoá,…”). Thực đơn thoả thuận là nem rán, vịt quay, rau muống xào, bí xào tỏi, khoai tây rán, trứng chiên và cơm; mỗi suất 25.000đ, sáu người vị chi 150.000đ. Mười đô la! Ông Tây rậm râu cười thoả mãn. Giá cả như vậy là khá “mềm” so với ở hồ Núi Cốc, Thái Nguyên, chúng tôi ăn vào mấy hôm sau.

Chúng tôi thuê phòng loại không có máy điều hoà nhiệt độ, bởi hôm đó trời dịu mà cũng vì túi tiền. Chủ khách sạn gọi dây nói đi đâu đó. Chốc lát, hai xe máy tới đón chúng tôi đến một khách sạn mới xây cách chừng trăm mét, cùng phố. Cũng là một toà ba tầng, thêm tầng hầm để ôtô. Nguyên là chủ nhân làm để đón cha mẹ đến ở, song họ không chịu, không muốn rời bỏ nhà cửa, vườn tược đàng hoàng ở vùng quê cách đấy 8km. Anh ta bèn cho sửa thành khách sạn có năm phòng trọ, mỗi phòng chừng 22 mét vuông (khí rộng so với tiêu chuẩn chung) có hai giường lớn tinh tươm cho hai khách trọ, có máy thu hình 21 inchs, quạt, bình nước nóng, bồn tắm (chưa sẵn sàng cho khách sử dụng),… Giá một ngày đêm là 80.000đ. Hôm đó chật khách, cả ta lẫn Tây. Khách sạn “em” này dành cho người em trai, Việt kiều ở Đức. Một trong hai người đến đón chúng tôi chính là anh ta, về thăm quê đã mấy tháng. Một chàng trai 33 tuổi, sáng sủa, khoẻ mạnh, có vẻ chân thật. Anh ta kể chuyện mình một cách tự nhiên, chẳng khoe mẽ, chẳng mặc cảm. Anh ta đã trốn sang Đức bằng con đường du lịch. Cùng chuyến đi và cùng mục đích, có một cô gái người Giảng Võ, Hà Nội. Cùng cảnh ngộ, giúp nhau, dựa vào nhau rồi thành vợ chồng. Họ đã có hai con, đứa tám tuổi, đứa lên năm. Chúng có biết tiếng Việt nhưng không rành bằng tiếng Đức. Đại loại, bảo về Việt Nam thăm ông nội thì hỏi lại: “Ông nội là thằng nào?” Chẳng phải cháu hỗn! ở bên đó, hai vợ chồng bán mĩ phẩm và làm đầu. Anh ta muốn xin nhập quốc tịch Đức nên cưới vợ Đức hờ. Một người bạn Đức “cho mượn” người yêu của mình trên giấy tờ. Phải sau 5 năm mới được xét; nay đã được ba năm. Tuy nhiên, anh ta nói cũng có ý định về làm ăn tại Việt Nam và sinh sống. Hiện đã mua nhà ở Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh hết hơn 500 cây vàng. Nhà mặt phố rộng 5 mét, sâu chỉ 4 mét, năm tầng trong đó có hai tầng hầm. Muốn mua nốt nhà áp sau nhưng chủ nhà chưa chịu bán. Xem ra có chí làm ăn. Song, không (hoặc chưa) tỏ dáng ông chủ. Anh ta làm cả tiếp tân và trực phòng, lúc cần. Quả làm chưa tốt, quên cả phích nước nóng cho phòng chúng tôi. Sáng sớm, xuống phòng tiếp tân, tôi thấy chủ khách sạn trải nệm, mắc màn ngủ ngay trên nền gạch men. Tại các thị tứ miền núi ngày nay, hầu như không có những người thuần dân tộc thiểu số hoặc thuần Việt (Kinh). Có thể dòng máu của họ chưa lai, song tác phong, nếp sống, cung cách làm ăn, lối ăn nói đã pha tạp, nhiều hoặc ít. Điều này có cả hay lẫn dở. Hay, nếu xét ở phía cạnh hoà đồng, hội nhập văn minh. Dở, nếu nhìn ở mặt kiếm ăn theo kiểu mà ngày trước người ta gọi một cách nôm na là “con buôn”, chưa nói tới mặt to tát: nhạt phai văn hoá truyền thống.

Thị trấn Ba Bể cách hồ 23km. Có thể đi thuyền ngay từ phố chợ xuôi theo sông Năng, song sẽ mất nhiều thời gian. Chúng tôi chọn đường bộ. Đường đến hồ đã rải nhựa nhưng chưa có tuyến xe khách. Du khách đi lẻ chỉ còn cách thuê xe ôm. Cậu lái của chúng tôi là một thanh niên Tày, nói sõi tiếng phổ thông, có sự lịch lãm của người tiếp xúc nhiều. Cậu thuyết chúng tôi ngồi đôi, rẻ cho chúng tôi; thật ra tôi biết như vậy thì chuyến chạy xe của cậu ta sẽ thu nhập gấp rưỡi. Đường quanh co, lên lên xuống xuống, xe chở hai khách cùng hành lí mà cậu ta cứ phóng ào ào. Tháng 9 năm 2002 này là tháng “an toàn giao thông” mà chẳng thấy bóng dáng chú công an giao thông nào, kể cả ở các bến xe T.N, B.C! Cậu lái rất hay chuyện. Cậu gợi, rồi bảo: “Đến hồ, cháu sẽ gọi thằng bạn có thuyền cho thuê ở đấy đến cho hai bác. Nó lấy rẻ. Cháu sẽ bảo nó đưa các bác đi thế này…, thế này…” Cảm ơn quá! Lạ nước, lạ cái mà gặp hên thế này, còn gì bằng! Về sau, có người bảo cho biết: chẳng qua là kiểu “mồi” cho nhau học của người Kinh nhà ta cả thôi.

Xe lượn quành một khúc rồi xuôi dốc. Trước mắt đã thấp thoáng màu xanh của mặt nước.

Ba mà chỉ một

Hồ Ba Bể là hồ thiên nhiên lớn nhất nước ta. Từ xa xưa, dân địa phương chia hồ ra ba phần. Phía tây thông với sông Năng là Pé Lẩm; tiếp đó là Pé Lù (hay Bó Lù); rồi Pé Lèng ở phía đông. Trước đây, đọc báo tôi mường tượng có những chỗ thắt hẹp lại chia ba hồ. Hoá ra là một hồ thông suốt, khách du chẳng thể nào phân biệt được Pé nào với Pé nào.

Cái thú du lịch hồ Ba Bể trước tiên là dạo thuyền trên hồ. Trên là trời, mây trắng lang thang; dưới là mặt nước trong xanh chỉ hơi lăn tăn gợn sóng; xung quanh là núi rừng hoang sơ, thảm cây xanh dường như vẫn như thế tự ngàn xưa. Giá có thể đi vào đêm trăng chắc là kì thú, và cả… rờn rợn nữa. Hiện tại, hồ chưa được (bị?) “cải tạo”, “nâng cấp”, khai thác nhiều. Khách còn được hưởng trọn vẹn cái hoang vắng, cái tĩnh lặng, cái thoáng đãng, cái trong lành của trời, đất, nước, mây, nếu như… máy thuyền đừng nổ to quá và hơi dầu cháy đừng bị gió quẩn đưa vào mũi khách. Có một lúc thuyền lướt dưới vòm cây, tôi ngửi thấy hương hoa rừng thoang thoảng. Đang khoan khoái lâng lâng thì mùi khí thải át mất.

Trong hồ, du khách có thể đổ bộ lên thăm Ao Tiên, đảo Bà Goá, bãi chợ Lèng. Chợ Lèng, một cái chợ miền núi, nằm trên bờ phía đông hồ trông xuống Pé Lèng. Khách du có thể thăm thú tìm hiểu hoặc mua sản vật địa phương. Chợ có một bãi chọi trâu. Gặp dịp, khách không chỉ được xem trâu chọi trâu, mà còn được xem bò chọi bò, và kì lạ hơn, trâu bò chọi nhau. Tất nhiên là trâu đực, bò đực. Không như loài người, giống cái loài vật không thượng võ cho lắm. Trâu bò giao đấu với nhau nghe lạ tai, song chẳng phải ngạn ngữ đã có câu “Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan” đó sao! Hà! Bò chọi với trâu thì thua là cầm chắc. Lầm to rồi! Đã nhiều lần trâu thua phải nhảy ùm xuống hồ đấy. Trâu bò vùng này thường thả rong ở các bãi cỏ trên núi. Của nhà ai có dấu hiệu riêng nhà ấy. Chẳng lẫn, chẳng hề có tranh chấp. Trâu bò chung bãi ít xẩy ra chuyện. Nhưng bò đực đụng nhau là dễ có “chiến tranh”. Húc nhau chán hoặc một con bỏ chạy thì thôi. Nếu một con bị đánh rơi xuống vực thì sao? Các ông chủ của hai con vật hiếu chiến có lôi thôi với nhau không? Có chuyện bắt đền không? Không lôi thôi gì đâu. Chủ con bò sa cơ kéo nó lên xẻ thịt chia một nửa cho chủ con bò chiến thắng. Như là được hưởng chiến lợi phẩm ấy nhỉ. Chớ! Bò nhà ông, ông cứ việc nuôi. Khi nào bán hay mổ thịt, ông lại chia đôi với tôi. Lại thế ư? Chớ sao! Bò ông làm bò tôi chết, nếu không nó vẫn thong dong sống như bò nhà ông. Số phận hai con bò đã buộc vào nhau. Hai nhà chia đều nhau thành quả. Lệ bất thành văn của cộng đồng là vậy. Gần chợ Lèng, du khách còn có thể thăm thác Hoàng Tử, một ngọn thác rót nước từ trên cao mươi mét xuống.

Đảo Bà Goá là một đảo nhỏ lô nhô đá, đường kính chừng vài mươi mét, nhô khỏi mặt nước hơn ba mét, có cây cổ thụ che mát, có cây nghiêng xuống hồ. Đảo nằm ở ranh giới Pé Lèng và Pé Lù, bao quanh là bát ngát hồ. Ngồi trên đó đọc sách, viết lách, nhất là tình tự thì khỏi nói. Anh hồn goá phụ ngày xưa sẽ trông nom cho. Các thứ này chỉ có thể đặt ra với những du khách nghỉ lại dài ngày, chuyện không thể có lúc này, bởi quanh hồ chưa có nhà nghỉ, và chưa có dịch vụ đưa khách từ bờ đảo và đón về.

Pé Lù là phần hồ rộng nhất, bề ngang và bề dài. Có những chỗ phình ra theo thế núi hõm vào. Đó là nơi du khách cảm thấy thơ thái nhất. Đảo An Mạ rậm cây chơi vơi giữa hồ; một con trâu ai thả ở đó thản nhiên nhìn chiếc thuyền máy chạy qua khá gần.

Muốn đến Ao Tiên thuyền phải đi vào cái vụng hơi khuất của Pé Lẩm. Leo dốc rừng chừng 50 mét rồi tụt dốc chừng 50 mét nữa. Một cái ao tròn vạnh, đường kính cỡ chiều dài hồ Gươm của Hà Nội, giữa cây ngàn. Tưởng đâu đang đứng bên một hồ nước do núi lửa tạo thành như ở Tây Nguyên. Một cái hồ trong một cái hồ! Chung quanh hồ, bờ dốc nghiêng chừng 45 độ, rậm rạp, hơi âm u. Người ta xây một cái bệ sàn nho nhỏ cho du khách trèo lên ngắm cảnh. Tôi đã đứng đó, một mình. Một cảm giác khinh khoái tưởng chừng tan ra trong một sự cô tịch ngưng thời gian. Sực tỉnh, cái cảm giác cô độc len vào. Ông bạn cùng đi ở lại trên thuyền cùng người lái thuyền ngoài kia, một dải rừng cây ngăn cách. Mà con thuyền giờ này cũng đơn độc giữa mênh mang trời nước và núi rừng. Cảm thấy nao nao, tôi rời bước. Rồi đây nếu dịch vụ du lịch hồ Ba Bể phát triển mà không xâm phạm vẻ hoang sơ của nó, – để cho tiên vẫn có thể lẩn giữa trần -, trên bờ Ao Tiên có thể dựng những lều cỏ, những nhà sàn nhỏ xinh cho khách nghỉ trưa hoặc qua đêm, hẳn là thú vị lắm.

Pé Lẩm thông ra sông Năng. Bình thường, nước hồ đổ vào sông này. Nước hồ trong xanh; nước sông đục lờ, mấy hôm trời rải rác mưa. Từ hồ đi ra rẽ phải ngược sông sẽ đến động Puông. Một đoạn sông Năng luồn qua động này. Như sông Luồn ở Ninh Bình. ở đây, bạn có dịp gặp sóc ngực vàng đuôi xù đi từng cặp, và bọn khỉ. Bạn có trèo lên xem thạch nhũ hãy cẩn thận, không khí không được trong lành như ở Phong Nha vì nặng mùi phân dơi, và có thể gặp rắn đấy.

Xuôi sông mươi cây số sẽ đến thác Đầu Đẳng, một cái thác không hùng vĩ mấy, đẹp, nên thơ. Một hàng lan can bên bờ vực cho du khách ngắm thác, chụp ảnh. Khách có muốn nhúng tay vào nước cho thấm thêm khí vị thác cũng không được, không có lối xuống.

Sông Năng bắt nguồn từ Cao Bằng đổ vào sông Gâm, một phụ lưu của sông Lô, bên Tuyên Quang. Sông không lớn, song nước tải phù sa dài lâu đã tạo nên những bãi bồi bằng phẳng sát chân núi đá dốc đứng lởm chởm. Người dân trồng trọt trên đó, thường là ngô. Thấy có máy cày, máy bừa cầm tay, máy bơm nước, những thứ mà hiện nay chẳng phải vùng nào ở miền xuôi cũng sẵn. Hình như sắp vào vụ gieo trồng mới. Mùa lũ vừa qua, nước ngập băng bãi. Dấu tích nước dâng còn lưu trên cây sung, cây tre. Những cọng rơm rác, túi nhựa mắc lại trên cành cây ở độ cao hàng mét so với mặt bãi. Lác đác nhà cửa trên bãi, rìa bãi kề núi. Có một xóm, hai nhà sàn lợp ngói, hai nhà trệt lợp tranh, ẩn giữa dải cây xanh loáng thoáng nổi hình trên màu núi đá. Chợt nhớ câu thơ cũ: “Nhà ai rìa núi trông sang/ Khói bay phơ phất mấy hàng như kia” nói tâm trạng người xa xứ. Hầu hết các nhà đều đóng kín cửa, trừ một nhà, một người đàn ông gầy ngồi tựa cửa nhìn ra. Trong nắng nhạt, cái bãi nổi nom quạnh quẽ. Có nơi thơ thẩn dăm con trâu, một con ngựa. Nơi khác, một doi đất ven sông cách li với bãi bởi một dải nước hẹp, mấy đàn gà con đang quẩn quanh bên gà mạ dưới bóng mấy cây tre, cây sung. Lái thuyền giải thích: người ta di tản chúng ra đấy để chúng không bới hạt ngô trỉa. Một khu bãi dài hàng mấy cây số lọt thỏm giữa núi dựng đứng bao quanh, chỉ một khoảng nhỏ nhìn ra hồ nước mênh mông, hầu như bị cô lập với thế giới bên ngoài. Tôi tự hỏi cư dân ở đây xuất ngoại chỉ có thể dùng thuyền thôi ư? Bãi lặng có sinh khí hẳn lên khi có một bầy trẻ đi học về. Chúng từ một ngách đường men chân núi đá mé trên thác Đầu Đẳng đi ra. Trường học ở bên kia chân núi. Năm, sáu trẻ, một đứa dắt xe đạp. Không gì nhẹ lòng hơn khi nhìn trẻ tung tăng cắp cặp sách trên đường. Chúng tản dần về các đám nhà lẻ loi. Có hai cháu đi lên mãi gần song hành với thuyền chúng tôi. Chúng đi nhanh, thỉnh thoảng chạy đuổi nhau, lát sau vượt chiếc thuyền máy ngược sông.

Tình cờ, chúng tôi được trò chuyện với cư dân bãi nổi. Thuyền chở chúng tôi rời động Puông xuôi sông Năng một quãng, hai cô gái gọi xin đi nhờ. Các cô ngồi trên một thẻo đất kẹp giữa hai nhánh sông, phía sau là núi đá. Các cô đi chợ Giá ở thị trấn về bằng thuyền, đến đây thuyền rẽ theo nhánh phụ của sông Năng để các cô lên đây đợi, trong ngày thế nào cũng có thuyền qua. Cậu lái của chúng tôi nói vậy, nhưng tôi đoán hai cô đã thấy thuyền của chúng tôi đến động hẳn biết sẽ quay lại nên lên ngồi đấy chờ. Nếu không, các cô đã đổ bộ lên bên kia nhánh sông phụ, từ đó đi bộ về nhà. Hai cô đi chợ bán hồng tươi, “được ít tiền lắm”. “Sao không bán hồng ngâm?”. “Người buôn không cho ngâm làm nặng thêm phải trả nhiều tiền”. Chả lẽ là mánh khoé của dân buôn đối với dân vùng cao? Hai cô đều là người Tày còn rất trẻ, khá xinh, ăn mặc như con gái dưới xuôi, đã học xong cấp hai.

– Sao không đi học tiếp nữa?

– Nhà nghèo, ở nhà đi chợ thôi.

– Có đồng hồ đeo tay mà nghèo à?

– Trường ở xa, đi lại khó. Cháu ông Nông Đức Mạnh lấy chồng ở vùng hồ này cũng chỉ ở nhà đi chợ, làm ruộng thôi (chắc là chỏu họ chẳng gần lắm).

– Xa, khó đi lại thì ở trọ, hoặc học trường nội trú.

– Cháu có đi thi, con thương binh mà không được chiếu cố, con các thầy, con các ông ở tỉnh, ở huyện được xếp đặt cả rồi.

Trên đường hồ trở lại bến, chúng tôi gặp một thuyền đi ngược lại chở hai ông Tây và một người trai, hẳn là hướng dẫn viên du lịch, cùng hai bà có dáng dân quê. Họ đi về hướng sông Năng.

Cũng như lượt đi, còn lại chúng tôi “độc chiếm” cảnh hồ. Thú thì thú thật, song dường như phí phạm. Không chỉ ngành du lịch Bắc Cạn, mà ngành du lịch trung ương và các địa phương khác có vẻ còn ơ hờ với cái vốn quí trời cho này. Khách du trong nước và nước ngoài chưa nhiều người biết hồ Ba Bể; mà có biết thì không ít người ngại ngần mà “ái nhi viễn chi”.

Song le, nếu rồi đây thuyền chở khách nườm nượp ngược xuôi trên hồ, liệu nước hồ, khí trời, cảnh quan có còn giữ được vẻ nguyên sơ, tinh khiết? Chiều xế, nắng vàng làm lung linh mặt nước hồ. Nhưng kìa! hàng chục chai nhựa rỗng đang lềnh bềnh như muốn “hỏi han” thuyền chúng tôi. Hồi sáng, tôi lúng túng với mấy mẩu giấy gói bánh; mãi tới lúc tôi hỏi lái thuyền sao không sắm một cái sọt cho khách bỏ rác, anh ta mới đưa ra cái xô nhựa. Khách du có ai đó xả rác xuống hồ, chắc anh cũng làm ngơ. Chẳng trách được. Ở nước ta cho đến lúc này, dường như ngay các nhà “chức năng” cũng ít ai chỉ vì trái mắt mà lên tiếng. Gần đây, người ta phát hiện ra rằng hồ Ba Bể đang có nguy cơ bị bồi lấp cạn ngay trong thế kỉ này. Có thể là do thiếu cây rừng ngăn mưa lũ xói đất tải phù sa về. Có người nói vui: Hãy chờ đến lúc ấy mới xắn tay nạo vét, chỉnh trang, nâng cấp thành một trung tâm du lịch, vui chơi, giải trí luôn thể(!).

Bắc Cạn không chỉ có hồ Ba Bể khiến du khách quan tâm. Đáng tiếc, những địa danh vang bóng một thời: Phủ Thông, Đèo Giàng, Chợ Rã, Chợ Đồn,…chẳng lưu giữ chút dấu tích nào của các chiến thắng xưa. Các căn cứ dân sự, quân sự thời “chiến khu Việt Bắc” và thời kháng chiến chống Pháp, trận quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn năm 1947 với ý đồ chộp đầu não kháng chiến của ta,… có thể tái hiện theo cách nào đó cho du khách, cho cả người dân địa phương không nhỉ?

 Hải Phòng, tháng 10 năm 2002

 

(Đã đăng: – Tạp chí Văn tháng 1 + 2/2003
                  – Tạp chí Văn nghệ Ba Bể số 6-2002)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s