Nguyễn văn Vĩnh và những dịch phẩm quý giá

Nguyễn văn Vĩnh và những dịch phẩm quý giá

 

nguyenvanvinh070713

Để hô hào học chữ quốc ngữ và phổ biến văn hóa mới, các học giả buổi đầu đã chú trọng tới việc dịch thuật. Hơn nữa, trong việc chọn lựa tác phẩm để dịch thuật các cây viết tiền phong đã nắm bắt được nhu cầu của độc giả cũng như của thời đại, và căn cứ vào đó để chọn lựa tác phẩm ngoại ngữ diễn ra quốc văn.

 

Bước đầu văn gia có vốn cổ học thường dịch truyện Tàu, một loại tác phẩm quen thuộc với độc giả Việt như Tây Hớn, Đông Hớn, Chung Vô Diệm (Nguyễn Chánh Sắt dịch), Tam quốc chí diễn nghĩa (Phan Kế Bính dịch), Thủy Hử (Trần Tuấn Khải dịch), Đông chu liệt quốc (Nguyễn Đỗ Mục dịch)… Còn các trí thức Tây học, phát hiện những điều mới lạ trong văn hóa Âu Tây, nhắm tăng bổ kiến thức cho độc giả, đồng thời cung cấp một món ăn tinh thần mới, nhu cầu cần thiết cho duy tân xứ sở đã chọn các tác phẩm văn học phương Tây có giá trị và khá quen thuộc. Riêng Nguyễn văn Vĩnh người có bút hiệu Tân nam tử và sau này đã thành lập tủ sách Âu Tây tư tưởng (ông cùng với Vayrac vào năm 1927, lập tủ sách Âu Tây tư tưởng (La pensée de l’Occident), rồi tổ chức in các sách do ông dịch thuật), đã chọn những tác phẩm sau đây để dịch ra quốc văn:

Thơ ngụ ngôn của La Fontaine.

Truyện trẻ con của Perrault.

– Truyện Gil Blas de Santillane của Lesage (4 quyển).

Mai nương Lệ cốt (Manon Lescaut) của Abbé Prévost (5 quyển).

Ba người ngự lâm pháo thủ của A. Dumas (24 quyển).

Những kẻ khốn nạn của Victor Hugo.

Miếng da lừa của Balzac.

Guy-li-ve du ký của J. Swift.

Tê-lê-mặc phiêu lưu ký của Fénélon.

– Kịch của Molière (Trưởng giả học làm sang, Giả đạo đức, Người bệnh tưởng, Người biển lận).

– Tác phẩm của Lesage (Tục ca lệ tức Turcaret, 2 quyển).

– Truyện các danh nhân Hy Lạp và La Mã của Plutarque.

Rabelais của E. Vayrac.

Đàn cừu của chàng Panurge của A. Vayrac.

Việc chọn lựa tác phẩm dịch thuật của Nguyễn văn Vĩnh chứng tỏ ông bén nhạy với nhu cầu văn hóa của độc giả đầu thế kỷ XX. Như tác giả từng tâm sự với người cộng sự là nhà văn Vũ Bằng, rằng ông đã chọn những tác phẩm có những nét quen thuộc với tinh thần Á đông để lôi cuốn người đọc nửa cũ nửa mới, thúc giục họ thưởng thức văn học mới và trau dồi chữ quốc ngữ. Đặc biệt, ông chủ tâm chọn những tác phẩm nổi danh của văn học Ấu Tây để giới thiệu đến độc giả Việt Nam bước đầu tiếp xúc với một nền văn hóa mới xán lạn không thua gì văn hóa Trung hoa. Từ đó, người đọc có tinh thần khai phóng hay cởi mở hơn, có tầm nhìn thoáng rộng hơn, cần thiết cho việc tổng hợp Đông Tây để xây dựng một nền văn hóa dân tộc độc lập.

Chọn được tác phẩm cần thiết, nhưng muốn phổ biến chúng phải dùng một bút pháp giản dị, trong sáng, mới mẻ để lôi cuốn người đọc. Nguyễn văn Vĩnh đã thành công trong việc làm này. Lối dịch của ông không phải theo tiêu chuẩn “đúng từng chữ từng câu” với nguyên tác mà dịch cho được tinh thần tác phẩm bằng ngôn ngữ, hình ảnh, ví von rất thích hợp với người Việt.

Trong tập dịch Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, Nguyễn văn Vĩnh đã nêu rõ quan điểm dịch thuật của ông khi xuất bản bản dịch thơ ngụ ngôn do nhà in Trung bắc tân văn xuất bản 1928:

Tập dịch văn này tôi làm ra kể đã lâu năm lắm rồi, khi còn ít tuổi, chưa làm văn bao giờ, mà đọc qua thơ La Fontaine cũng phải cảm hứng, chấp chảnh nên vần, tuy lắm câu văn còn lấc cấc, nhưng các bạn độc giả cũng nhiều người xét quá rộng cho là dụng công dịch lấy đúng. Đúng đây là đúng cái tinh thần chứ không có những chữ hổ đổi làm sư tử, cái gậy đổi ra con chó, khiến cho những người thắc mắc được một cuộc vui ngồi soi bói từng câu từng chữ, mà kể được ra có ba bốn chữ dịch lầm. Những chỗ sai lầm đó trong bản in này xin cứ để nguyên không chữa.”

Một dẫn chứng cho lối dịch Việt Hóa, bay bướm của Nguyễn văn Vĩnh trong bài ngụ ngôn Chuyện cô hàng sữa:

Cô Bê-rét đi mang liễn sữa,

Kê đệm bông để giữa đỉnh đầu,

Chắc rằng kẻ chợ xa đâu,

Nhẹ nhàng thoăn thoắt chẳng âu ngại gì.

Chân hôm ấy thì đi dép một,

Váy xắn cao ton tót bước nhanh.

Gọn gàng mà lại thêm xinh;

Vừa đi vừa tính phân minh từng đồng:

Sữa bấy nhiêu, bán xong ngần ấy,

Trứng một trăm mua lấy về nhà.

Ấp đều có khó chi mà,

Khéo ra mấy chốc đàn gà đầy sân.

Cáo nọ dẫu mưu thần chước giỏi,

Có tha đi cũng lỏi mươi con.

Bán đi mua một lợn non,

Ta cho ăn cám béo tròn như trâu.

Đem ra chợ bày đâu chẳng đắt,

Bán lợn đi, lại dắt bò về.

Thừa tiền thêm một con bê,

Để cho nó nhảy bốn bề mà coi.

Cô Bê-rét nói rồi cũng nhảy;

Sữa đổ nhào hết thảy còn chi:

Nào bò, nào lợn, nào bê,

Nào gà nào trứng cùng đi đằng đời.

Cô tôi thấy của rơi lênh láng,

Lủi thủi về chịu mắng cùng chồng.

Đành rằng mấy gậy là cùng,

Để câu chuyện sữa kể rong khắp làng.

 

Nghĩ lắm kẻ hoang đường cũng lạ,

Ước xa xôi hay quá phận mình

Tề Mân, Sở Mục hùng danh

Ví cùng Bê-rét rành rành cũng như

Rõ mở mắt trơ trơ mà mộng

Chuyện mơ hồ mà động đến lòng.

Của đời hết thảy thu xong,

Trường thành đắp nổi, A Phòng về ta.

Khi ta một mình ta thách hổ;

Vua nước Tàu đạp đổ như chơi.

Vận may lại thuận lòng người,

Muôn dân mến phục, ngai trời ngồi trên.

Xịch một tiếng tỉnh liền giấc mộng,

Té vẫn mình bố Ngỗng xưa nay.

Đọc đoạn cuối của dịch phẩm trên, so với nguyên tác:

Quel esprit ne bat la campagne? Qui ne fait châteaux en Espagne? Picrochole, Pyrrhus, la Laitière, enfin tous, Autant les sages que les fous? Chacun songe en veillant, il n’est rien de plus doux: Une flatteuse erreur emporte alors nos âmes: Tout le bien du monde est à nous, Tous les honneurs, toutes les femmes. Quand je suis seul, je fais au plus brave un défi; Je m’écarte, je vais détrôner le Sophi; On m’élit roi, mon peuple m’aime; Les diadèmes vont sur ma tête pleuvant: Quelque accident fait-il que je rentre en moi-même; Je suis gros Jean comme devant.

Chúng ta thấy Nguyễn văn Vĩnh có lối dịch phóng túng nhưng phản ảnh tinh thần nguyên tác và ngôn ngữ của tác phẩm mà ngày nay dịch La Fontaine khó có người thay thế ông. Trong bài dịch Chuyện cô hàng sữa, Nguyễn văn Vĩnh đã khéo biến các điển tích Âu Tây như Picrochole (một nhân vật đầy tham vọng quá khả năng thực hiện trong Gargantua của Rabelais), Pyrrhus, (vua của xứ Epirus, kẻ hùng tâm quá độ muốn chiến thắng bằng bất cứ giá nào) cũng như Le sophi là danh hiệu thường dùng gọi vua Ba tư, bằng những nhân vật quen thuộc với độc giả nửa mới nửa cũ của Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, như Tề Mân Vương, Sở Mục vương trong Đông chu liệt quốc, Trường thành, cung A phòng trong Tây hán chí. Nói cách khác, Nguyễn văn Vĩnh đã khéo phổ thông hóa tác phẩm Âu Tây nên sức truyền bá của văn phẩm thêm rộng và thêm sâu. Dĩ nhiên, cũng cần khả năng ngôn ngữ của dịch giả sâu sắc và tài hoa, mẫn tiệp mới lột tả được tinh thần nguyên tác và thuyết phục được quần chúng đang học và rèn luyện chữ quốc ngữ.

Một thế kỷ trôi qua kể từ thời Nguyễn văn Vĩnh viết Đăng cổ tùng báo (dịch bài con ve và con kiến 1907), tình trạng dịch thuật ở Việt Nam những năm gần đây bị thức giả chê là dịch loạndịch ẩu.

Một dịch giả trẻ tuổi, ông Cao Việt Dũng, dịch nhiều tác phẩm của nhà văn hiện đại Pháp, Michel Houellebecq, đã viết một câu bị chê là ngớ ngẩn khi dịch lời tâm sự của một nhân vật trong truyện: “bố chết vì ung thư tử cung”.

Vì những tác phẩm dịch thuật đại loại như Bản đồ và vùng đất của chàng dịch thuật tài ba họ Cao, nên nhà xuất bản Nhã nam phải cho thu hồi ấn phẩm để sửa chữa.

Không phải chỉ có Cao Việt Dũng dịch loạn mà một nhà văn lão thành như ông Dương Tường từng được coi là tay dịch giả già dặn và được tuyên dương về tài dịch thuật khi dịch Lolita của Nabokov cũng bị chê là dịch ẩu và không hiểu văn hóa, sử địa Âu Mỹ vì thế khi gặp địa danh “District of Columbia”, ông đã dịch là “miền Columbia”.

Gần đây một dịch giả tự nhận là tài cao học rông, ông Trần Tiễn Cao Đăng dịch Những thứ họ mang (The Things They Carried) của nhà văn Tim O’Brien cũng khiến nhiều độc giả chê là diễn tả ra tiếng Việt bằng những hình ảnh tục tĩu dù nguyên tác tiếng Anh có thể hiểu theo nhiều nghĩa thanh nhã hơn.

Dịch thuật không phải là việc dễ vì dịch giả, ngoài tài năng diễn tả và tâm hồn sáng tạo, cần phải hiểu thấu đáo hai thứ ngôn ngữ: nguyên tác và chuyển ngữ, lại phải am tường văn hóa, lịch sử, địa dư… của cả hai nguồn (nơi tác phẩm ra đời và nơi tác phẩm sẽ tái sinh). Không những thế còn phải hiểu rõ về tác giả mình muốn dịch mới không gây ra ngộ nhận. Lấy thí dụ mới đây, ở Việt Nam có bản dịch Ma chiến hữu của nhà văn Mạc Ngôn, mới được giải Nobel. Dịch phẩm Ma chiến hữu đã biến tác phẩm của Mạc Ngôn thành một bi ca phản chiến đáng khen. Sự thực, nếu đọc nguyên tác Chiến hữu trùng phùng (Ma chiến hữu) mới thấy Mạc Ngôn viết tác phẩm này sau hội nghị Thành đô với mục đích che đậy dã tâm cuộc xâm lược phương Nam của Bắc đình 1978. Trong đó không phải đả kích chiến tranh mà mục tiêu là bênh vực cho chủ trương bành trướng cố hữu của phương Bắc.

Có xét hiện tình dịch thuật ở Việt Nam mới thấy phục Nguyễn văn Vĩnh. Nhờ học rộng hiểu thấu đáo ngôn ngữ và văn hóa Âu Tây và văn hóa Việt, lại thêm đức tính khiêm tốn và thận trọng, ông đã biến những tác phẩm nổi tiếng của Âu Tây thành tác phẩm gần gũi với độc giả Việt Nam và “hóa thân” những nhân vật Tây phương thành nhân vật thân thương, bình dị với người Việt. Ngày nay, hình ảnh bé Lọ lem (Cendrillon), cô bé quàng khăn đỏ (Chaperon Rouge), con mèo đi hia (Le chat botté), Yêu râu xanh (La Barbe bleue) trong Contes de Perrault đã đi vào tiếng Việt. Còn Ba người ngự lâm pháo thủ, Người biển lận, Trưởng giả học làm sang… đã xâm nhập sâu vào tâm trí của độc giả Việt Nam và ngôn ngữ Việt trong nhiều thế hệ.

Hoàng Yên Lưu

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s