*** Thần Nông và Tổ Tiên Việt

MAI THỤC

    Thần Nông  và Tổ Tiên Việt  

Trong ký ức mỗi người Việt Nam, ai mà chẳng  có những đêm mịn như nhung, ngửa cổ lên bầu trời nhìn  Sao Thần Nông lấp lánh cạnh dải Ngân Hà. Trời đầy sao  và Thần Nông nâng hồn ta bay vào vũ trụ. Ông bà ta thời  cổ lỗ đã biết nhìn Sao Thần Nông để tính ngày trồng  cấy lúa trên ruộng nước.

Các nhà nghiên cứu Tiền sử  khẳng định từ cổ  xưa tộc Việt có một Thiên sư nghề  nông tìm ra cây lúa nước gọi là “cây lúa Thần” nuôi  sống dân Việt. Cây lúa Thần được người  Việt trồng cấy ra hạt thóc, sát vỏ trấu thành hạt gạo  nuôi sự sống con người gọi là Hạt Ngọc. Con cháu đời  đời tôn cụ Thần Nông là Tổ Thần Nông. Tưởng tượng  cụ như một chòm sao lấp lánh trên bầu trời dẫn dắt  mình trồng lúa.

Hằng năm. Vào trung tuần mùa hạ. Nhìn lên  bầu trời phương Nam, thấy những vì sao chi chit trên dải  sông Ngân Hà, xếp theo hai hàng dọc, trông giống hình cụ  Thần Nông. Đầu cụ đội mũ cánh chuồn, khom lưng nhìn  xuống hạ giới, từ bờ biển phương Nam, qua dải Ngân  Hà nhìn về phương Bắc. Lúc đó, toàn dân Việt xuống  đồng, cấy vụ gặt chính.

Bộ sưu tập khảo cứu Nguồn gốc dân tộc Việt  và nền Văn minh Việt cổ nhiều tác giả, nghiên cứu  đa nghành: Lịch sử, Tâm linh, Khảo cổ… đã chứng minh Sự tồn tại thực tế Liệt vị Tổ tiên  người Việt thời kỳ Thần Nông- Hồng Bàng- Văn Lang trên  lãnh thổ Việt Nam.

Thời kỳ Thần  Nông

Đế Hòa (Đế là tôn hiệu các vị Tiên tổ Việt  tộc) còn gọi là Hòa Hy, Hy Hòa, Hy Thúc đến sinh tụ miền  đất này từ núi Ba Vì trải dài trên cả vùng rừng núi  rộng bao la về phía Lương Sơn, Thạch Thất, Quốc Oai (Hà  nội ngày nay). Nơi tụ cư ban đầu của các chủ trưởng  người Việt cổ là khu vực Văn Lôi (Thạch Thất). Nơi  đây Tổ Đế Hòa lấy đồi núi Tây Phương, Cực Lạc làm  kinh đô.

Cạnh chùa Tây Phương, có chùa Cực Lạc  thuộc thôn Yên Lạc- Thạch Thất. Theo các nhà phong thủy  học và cảm xạ học thì đây là nơi tụ khí thiêng của  đất nước. Cao Biền gọi là núi Câu Lâu, đã làm miếu  yểm và ghi sách tấu vua Trung Quốc.

Niên đại năm sinh của Đế Hòa chưa rõ,  cổ phả ghi “Đã có văn tự, biên chế lục thủ, thuyền  xe cung thất, luyện vàng, nặn đất, làm đồng, chia ruộng,  trồng dâu nuôi tằm, dân cư an khang thịnh vượng”.

Đế Hòa là nhà Thiên văn theo thuyết Âm  Dương. Cụ là người đầu tiên sáng lập ra lịch Âm có  tháng nhuận, một loại lịch có độ chính xác cao hơn các  loại lịch Âm thời đó, còn giá trị đến nay.

Phục Hy còn gọi là Đế Viêm, Đế Thiên.  Dân gọi là vua Cả hiệu là Đế Thiên Phục Hy con của Đế Hòa.

       Phục Hy đã  phát triển thuyết phong thủy Âm Dương, Kinh dịch do cha  Đế Hòa sáng lập, gọi là Kinh Dịch Phục Hy.

Khi các cụ nghiên cứu ra thuyết trên, trong  các bộ tộc  Việt, đời sống đã được ổn định,  phát triển nền Văn minh lúa nước, sự sống của người  Việt được bảo đảm, phát triển phồn thịnh. Các bộ  tộc thần phục và tôn kính thủ lĩnh, nhà nước bắt đầu  manh nha.

Cụ Phục Hy được tôn làm Chủ trưởng  (Vua Cả) định đô, lập nước lấy tên là Cực Lạc (thôn  Yên Sơn, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây  nay là Hà Nội). Di vật trong lòng đất chùa Cực Lạc cổ  phát hiện mặt tượng người Việt cổ bằng đất nung,  trán cao, khuôn mặt vuông, mũi tẹt, phong độ bản lĩnh,  tươi sáng. Đàn Nam Giao trước chùa Cực Lạc đang xây dựng  lại. Cây đa và hang đá gắn với mộ cổ ở chùa Cực  Lạc là di tích Địa Mẫu (huyền thoại Bà Nữ Oa đội  đá vá trời). Tượng thờ Đế Thiên Phục Hy trong hang đá  dưới gốc đa chùa Cực Lạc.

Cụ Phục Hy theo đạo Sa môn giáo, được  tôn đạo hiệu là Vô Thượng Hư Không giáo chủ Đế Thiên Phục Hy.

Nơi thờ cụ ở miếu Hy Sơn, giỗ cụ ngày  1 tháng Tư âm lịch. Hiện nay miếu không còn tên cũ, đã  xây lại, đặt tên mới Miếu Thiên Cổ ở phía phải sân  trước đỉnh đồi chùa Tây Phương.

Chùa trong khu Hang động lớn Hoàng Xá- Quốc  Oai- Sơn Tây có khu điện thờ Đế Viêm và các Anh linh của  Viêm Bang.

Tượng Đế Viêm- Phục Hy trong Hoàng Kim Tự  (Chùa Vàng) tại Quốc Oai. 

Năm cụ Phục Hy 79 tuổi, có nạn Hồng Thủy.  Khảo cổ học khẳng định, lúc này là cuối thời kỳ  biển tiến. Nước lùi dần. Nước biển ở nước ta dâng  cao bốn mét vào năm 3900 TCN. Ba mét vào năm 2950 và hai mét  vào năm 2350 TCN. Người quản gia trẻ là Hiên Viên dấy  binh làm phản, giết cụ Phục Hy, giết cả mười bốn người  phụ tá, thu tài liệu nghiên cứu Thuyết phong thủy, Kinh  Dịch Phục Hy và chiếm tài sản.

Nhận thức của Trung Quốc  và nhiều người Việt Nam về Phục Hy

Đến nay, trong các tài liệu của Trung Quốc  và ngay ở Việt Nam người ta vẫn cho rằng Phục Hy là nhân  vật huyền thoại Trung Quốc cổ đại. Bách khoa toàn thư  (Wikipedia)  gần đây vẫn viết về Phục Hy như sau:

Phục Hy theo tài liệu Trung Quốc, khoảng  2800 trước CN, là người đầu tiên trong ba vị vua huyền  thoại của Trung Quốc cổ. Ông là nhân vật văn hóa được  cho là người phát minh ra chữ viết, nghề đánh bắt cá  vả bẫy thú.

Kinh Dịch Phục Hy được cho là đã phát  hiện cấu trúc Bát Quái từ các dấu trên lưng một con  rùa…

Hiện nay các nhà nghiên cứu Kinh Dịch đã  thấu thị Đất Trời Tổ Tiên Việt tộc, khẳng định Kinh Dịch Phục Hy của người Việt  phát minh, bị Trung Quốc cổ lấy cắp mang về biến tấu  thành bói toán rất siêu.

Nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên viết:

“Kinh Dịch Phục  Hy cuốn triết học kỳ diệu chưa từng thấy xưa nay”.

Cái tên Kinh Dịch hoặc Hy Dịch  là do người đời sau đặt. Lúc đầu cụ Phục Hy dùng  thanh tre, thanh nứa để ghép các quẻ đơn từ Khôn, quay  vòng đến Kiền. theo hai hướng. Hướng thứ nhất bên phải  của Khôn ngược kim đồng hồ. Qua các quẻ Cấn, Khám,  Tốn, Sát quẻ Kiền thỉ ngừng, nhảy vọt, sát quẻ Khôn  từ bên trái, theo hướng thứ hai xuôi kim đồng hồ qua  các quẻ Chấn, Ly, Đoài đến Kiền, đúng một vòng gọi  là tám quẻ đơn. Mỗi quẻ có ba hào, theo hào âm, một  vạch đứt, một vạch liền… Sau này nhà Chu sửa chữa Kinh Dịch Phục Hy làm đảo điên  “râu ông nọ cắm cằm bà kia” từ tám quẻ bình thường  thành tám quẻ quái quỷ.

Tổ tiên ta tự coi loài người là trung tâm  vũ trụ, lấy mặt trời, mặt trăng, và trái đất làm chính  xoay quanh mình. Đó là vũ trụ lớn mênh mông, trông đó  có vũ trụ hẹp nơi mình ở. Vũ trụ mà Kinh Dịch Phục Hy và  các bậc trí giả Việt cổ, từng quan sát bầu trời, mặt  đất để quy ra tám quẻ đơn. Đó là địa bàn cư trú  của Việt tộc, từ dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn ra Biển  Đông của Thái Bình Dương, theo sông Dương Tử dài nhất  thế giới, tính từ phía Nam Dương Tử”.

Thế kỷ XV. Nguyễn Trãi gối đầu giường  Kinh Dịch Phục Hy: “Song (cửa sổ) hoa mai  điểm quyển Hy Kinh”.

Nhiều học giả khẳng định Kinh Dịch-  Di sản sáng tạo của người Việt cổ.

Nhiều học giả đã vạch những biến báo  của người Tàu về Kinh Dịch Phục Hy mà chúng tôi không  đủ sức nêu ra trong bài viêt này.

Thần Nông- Đế Thần- Con  trai Phục Hy

  Thần Nông còn tên là  Đế Khôi được dân suy tôn là Đế Thần. Thiếu thời  Thần Nông được cha đẻ là Phục Hy dạy dỗ. Phục Hy  mất. Thần Nông còn nhỏ, giúp việc hai vị phụ tá của  cha là Lão Long Cát- Toại Nhân và Hữu Sào. Đế Khôi khôn  lớn, trở về làng Sở, mời hội đồng các vua núi (Sơn  Quân) đem quân đánh đuổi gian nô Hiên Viên, thừa kế sự  nghiệp Tổ tiên, lên ngôi vua sáng, thi hành chính nhân, dân  chúng kính yêu. Đất đai từ vùng Tây Phương trở xuống,  lấy ngọn Phương Lĩnh, Trầm Đỉnh làm chính. Sau đến  núi Linh Sơn, Tiên Lữ cùng dãy với ngọn Phong Châu làm  thành một dải Viêm Đế. Đem đất chia cho dân nghèo.

Thần Nông tiếp tục sự nghệp của cha (Đế  Thiên- Phục Hy) phát triển trồng lúa nước, chọn cây thuốc,  chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa the, đào giếng  nước sạch. Hiện nay vùng làng Sở thuộc Tiên Lữ, Tiên  Phương, huyện Quốc Oai và Chương Mỹ- Hà Nội hiện nay,  vẫn còn một số giếng nước cổ, truyền lại từ thời  Thần Nông.

Thần Nông bổ sung phát triển Kinh Dịch Phục Hy làm  rõ quan niệm về Âm Dương. Cải cách chữ viết theo hình  thắt gút kiểu con nòng nọc (chữ Khoa đẩu). Phát triển  lịch phục vụ nghề nông được Phục Hy sáng lập. Trồng  rộng rãi các loại cây làm thuốc. Trước đây nước ta  đã lưu truyền cuốn sách Thần Nông Bản Thảo sau bị giặc Tàu tiêu hủy.

Thần Nông mất, giỗ vào ngày Mồng một  tháng sáu cũng là ngày dân ta coi là ngày lễ Thượng Điền  vua quan, dân đều “xuống ruộng cấy lúa’. Một ngày  lễ quan trọng của vụ mùa (xưa là vụ chính trong năm).  Cũng có có nơi giỗ Thần Nông vào vào Mồng Mười tháng  Mười lễ mừng cơm mới sau thu hoạch vụ mùa.

Thần Nông được an táng tại khu vực núi  Vô Vi, chùa Thổ Ngõa, phía trước cửa động của núi Trầm  thuộc đất Sở Khê, Tiên Lữ, Phượng Châu, thuộc Chương  Mỹ- Hà Nội ngày nay, mộ vẫn còn.

    Chứng tích  Thần Nông ở Việt Nam

Chứng tích khảo cổ, phả cổ xác định  Thần Nông là Tổ tiên năm đời của Lạc Long Quân. Thần  Nông là người thật, Tổ tiên của người Việt.

  Thần Nông là người đầu tiên đã  dạy dân Việt nghề làm ruộng, chế ra cày, bừa. Thần  Nông là người đầu tiên đặt ra Lễ Tịch Điền hằng  năm. Lễ Thượng Điền tổ chức sau gặt hái. Hạ Điền  tổ chức trước vụ gieo trồng.

Hằng năm dân Việt có tục tế lễ rước  vua Thần Nông  tại triều đình và các đền miếu làng,  cầu được mùa, nghề nông phát đạt.

Trên các quyển lịch cổ hằng năm, người  ta thường vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng  biến ảo thần thánh, tức là vua Thần Nông, con trâu tượng  trưng cho nghề nông.

Hình mục đồng và con trâu thay đổi hằng  năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám vè mùa  màng năm đó tốt hay xấu.

Năm nào được coi là được mùa, Thần Nông  có giày dép chỉnh tề. Năm nào mùa thu hoạch thấp kém,  Thần Nông có vẻ như vội vàng, hấp tấp, nên chỉ đi  giày một chân. Con trâu được đổi màu theo hành của một  năm, nó có thể có màu của một trong năm màu vàng, đen,  trắng, xanh, đỏ đúng với năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa,  Thổ.

Nghi thức tế lễ Thần Nông  thời nhà Nguyễn 

Lễ tế Thần Nông hằng năm thởi Nguyễn  cử hành vào ngày Lập Xuân còn gọi là lễ Tế Xuân. Theo  chỉ dụ của vua Minh Mạng, sau tiết Đông chí, Khâm thiên  giám lo sửa soạn tế lễ Thần Nông. Các quan cùng nhau họp  để nặn trâu và tượng Thần Nông.

Hai ngày trước ngày Lập Xuân, tại gần  cửa Đông Ba (ngày nay là cửa chính Đông) các quan cho lập  một cái Đài. Trâu và tượng Thần Nông được đưa tới  lưu tại Phủ Thừa Thiên, để ngày hôm sau rước tới Đài.  Khi đám rước đi qua cung vua, viên thái giám vào tâu để  vua biết. Một viên quan đánh vào mông trâu có ý thôi thúc  trâu phải làm việc. Tế lễ Thần Nông xong, tượng trâu  và Thần Nông được mang chôn.

Tại các tỉnh, các quan tỉnh cũng làm theo  nghi lễ như vậy.

Các dân tộc ở Việt Nam đều tế lễ Thần  Nông theo cách riêng của họ.

Tại sao người Trung Quốc  ngộ nhận Thần Nông là một trong những ông vua thần thoại  của họ?

Một số nhà nghiên cứu hiện nay, dựa trên  các dữ liệu về sử học, thần thọai học, ngôn ngữ  học đã khẳng định Thần Nông là một vị thần có nguồn  gốc từ phương Nam. Từ phía Nam sông Dương Tử trở xuống,  đó là vùng cư trú của cư dân Bách Việt. Thần Nông được  coi là ông Tổ của Bách Việt. Sau đó, các bộ tộc Bách  Việt bị mất dần đất đai khu vực sông Dương Tử, người  Trung Hoa thôn tính, sáp nhập chuyển Tinh hoa văn hóa Việt  cổ thành của họ. Do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc  khá mạnh, người Việt cũng lầm tưởng Phục Hy, Thần  Nông, Bà Nữ Oa… Kinh Dịch, thuyết Âm Dương Ngũ Hành…  do người Trung Quốc sáng tạo, chúng ta chỉ học theo họ.

Các dữ liệu khẳng định Thần Nông là  ông Tổ của Bách Việt nay đã rõ ràng.

Thần Nông tức là vị Thần Nông nghiệp.  Vị Thần này thường được hình dung cưỡi trâu để đi  lại. Vị Thần này gần gũi thân thương với đồng lúa  nước, văn hóa lúa nước của người Việt. Con trâu gắn  với người Việt cày trên ruộng lúa nước từ khai thiên  lập địa. Trung Quốc không có văn minh lúa nước.

Thần Nông còn có tên gọi khác là Viêm Đế  (vua xứ nóng, vua phương Nam). Thần Nông được coi là vị  Thần cai quản phương Nam (vùng đất Bách Việt).

Ngày nay, khoa học khảo cổ và Tâm linh Việt  Nam đã tìm được chứng tích Thần Nông là Nhân Thần,  là một trong những liệt Tổ tài năng, có công lớn dạy  dân Việt cổ trồng lúa nước, được tôn thành Thần Nông.  Tên gọi Thần Nông thân thương gắn với nghề nông nghiệp  Việt Nam. Đã phát hiện khu di tích, mộ của liệt Tổ Thần  Nông và gia quyến Thần Nông tại huyện Chương Mỹ- Hà  Nội ngày nay.

Tại chùa Trầm huyện Chương Mỹ có tượng  thờ Đế Thần tức vua Thần Nông. Điện thờ chính trong  hang chùa Trầm có tượng Đế Thần, bệ thờ, bát hương  bằng đá.

Ở phía Nam chùa Cực Lạc có điện thờ  vua Thần Nông.

Hai con trai của Thần Nông là Đế Tiết và  Đế Thừa.

Đế Tiết còn gọi là Đế Tiết Vương con  cả của Thần Nông dân gian gọi là Đức Thánh Cả.

     Đế Thừa còn gọi là  Sở Minh Công (Đế Quý Công) con thứ của Thần Nông, thay  Đế Tiết nối dõi Thần Nông. Dân gian gọi cụ là Đức  Thánh Hai (Đức Thánh đệ nhị). Cụ đã thu phục được  bảy mươi hai bộ lạc, sáp nhập thành chín bộ lạc gọi  là Cửu Long Chân Chính. Tòa Thượng Cửu Long ở các chùa  Việt Nam là biểu tượng thờ chín ông Tổ

của dòng  người Việt. Đế Thừa lập nước lấy tên là Xích  Quỷ.

Xã Quang Lâm- Thanh Oai- Hà Nội có các khu  mộ và và nơi thờ Đức Thánh Cả, Đức Thánh Hai.

Ba con trai của Đế Thừa là Nguyễn Minh Khiết-  Đế Minh, Nguyễn Nghi Nhân- Đế Nghi và Nguyễn Long Cảnh.

Nguyễn Nghi Nhân- Đế Nghi (con thứ) được  cha Đế Thừa giao làm chủ Ô Châu, sinh ra dòng Sở Hùng  Thông, cụ mất tại nước Sở. Đế Nghi làm vua phương  Bắc sinh ra Đế Lai.

      Cụ Nguyễn Minh  Khiết- Đế Minh là Thái Khương Công- Nguyễn Minh Khiết  (con cả) bài vị thờ ở chùa Kim Liên- Hồ Tây, thay cha  đứng đầu nước Xích Quỷ, dời nơi cụ Tổ Phục Hy (vùng  làng Sở- Thạch Thất) về Khương Thượng- Hà Nội ngày  nay. Cụ kết hôn cùng công chúa Đoan Trang (Đỗ Quý Thị).  Tục truyền Đỗ Quý Thị là con gái cụ Long Đỗ (Thần  Long Đỗ thờ tại Đền Bạch Mã- Hà Nội). Cụ Đỗ Quý  Thị tu đạo Sa bà đạo hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát, là  đạo Mẫu đầu tiên của con cháu đất Việt.

Theo Họ Đỗ Việt Nam hai  cụ Đế Minh và Đỗ Quý Thị sinh ra Lộc Tục- Kinh Dương  Vương, được tôn xưng là Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Lộc Tục lớn khỏe, văn võ song toàn, xin  cha Đế Minh đi đánh Giặc Ma. Lộc Tục lên thuyền ra trận  trên sông Trường Giang đổ về sông Dương Tử, chiến thắng  trở về, Đế Minh truyền ngôi cho Lộc Tục. Phong Lộc Tục  làm vua cai quản nước Xich Quỷ đất phương Nam từ bờ  Nam sông Dương Tử trở xuống vùng biển Đông.

Nước Xích Quỷ được xác định phía Bắc  giáp Hồ Động Đình. Phía Đông giáp Biển Đông. Phía Tây  giáp đất Ba Thục. Phía Nam giáp đất Hồ Tôn (Chiêm Thành).

Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ  vào năm 2879 TCN, lập kinh đô nước Xích Quỷ tại vùng  núi Ngàn Hống, huyện Can Lộc- Nghệ Tĩnh, gọi là Kinh Đô  Nghĩa Lĩnh. Dưới chân dãy Ngàn Hống, vợ Lộc Tục sinh  con trai tuấn tú đặt tên là Sùng Lãm.

Lớn lên Sùng Lãm được cha Kinh Dương Vương  phong Hoàng Thái Tử, sau truyền ngôi kế vị phong là Lạc  Long Quân.

Kinh Dương Vương cùng dân Việt nước Xích  Quỷ khai hoang mở nước. Sau đó Kinh Dương Vương chuyển  kinh đô về đất Phong Châu vùng núi Nghĩa Lĩnh- Phú Thọ.  Cây lúa Thần của Tổ Thần Nông được gieo cấy khắp  các vùng đất Xích Quỷ, ôm trọn biển Đông.

Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là cháu của Nguyễn  Nghi Nhân con của Nguyễn Như Lai- Đế Lai ở Ô Châu. Sau  này gia đình Lạc Long Quân- Âu Cơ được kể thành huyền  thoại bọc trăm trứng. Lạc Long Quân phong người con trưởng  thay mình, đổi tên nước Xích Quỷ thành Văn Lang xưng là  Hùng Vương sinh ra mười tám đời Hùng Vương. Và Thời  đại Hùng Vương đã trở nên rất gần gũi với người  Việt Nam về Tổ tiên của mình.

Đại Việt sử ký toàn thư Ngô Sỹ Liên ghi Kinh Dương Vương là con  cháu Thần Nông. Vua là bậc thánh trí thông minh, cai trị  phương Nam gọi là nước Xích Quỷ.

Người Việt là con cháu Thần  Nông

Không còn nghi ngờ gì nữa.  Ngày nay chúng ta đã tìm được hồn thiêng dấu tích của  Tổ tiên Việt tộc với nền Văn minh lúa nước rực rỡ  của thời kỳ Thần Nông.

Thần Nông là con người thật được tôn  làm Thần. Thần Nông sinh ra trong dòng máu Văn minh Việt  cổ, nối dõi Tổ tiên mình, sáng tạo và phát triển Kinh Dịch Phục Hy, Thuyết Âm Dương  Ngũ Hành, Thuần dưỡng cây lúa nước sáng tạo nghề nông  nghiệp lúa nước, nuôi sống đời đời con cháu.

Cháu bốn đời của Thần Nông, con cụ Tổ  Nguyễn Minh Khiết là Lộc Tục- Kinh Dương Vương đã lập nước Xích Quỷ của Việt  tộc khoảng năm nghìn năm nay, với biên giới rộng dài  từ Nam sông Dương Tử xuống ôm lấy biển Đông là chuyện  ghi trong sử sách, không thể cãi bàn.

Mẹ Việt Nam đã sáng tạo Đạo Việt với  Pháp danh Hương Vân Cái Bồ Tát khoảng năm nghìn năm nay vẫn truyền linh thiêng huyền diệu  cho con cháu.

Kẻ thù Bắc phương xâm lược lấy cắp  và hủy diệt kho tàng Văn minh lúa nước vô giá, linh thiêng  buổi bình minh của lịch sử. Chúng đã cướp mang về nước  những sách quý, những tài sản trí tuệ cảu ông cha để  lại. Chúng triệt phá “Đào tận gốc, trốc tận rễ”  Tinh hoa trí tuệ của dân tộc Việt nhằm đồng hóa để  dễ cai trị. Chúng tìm cách lung sục, vơ vét các di sản  trong dân gian. Chúng đánh tráo, bôi nhọ, xuyên tạc, cố  làm cho người Việt quên Tổ tiên của mình.

Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn Cục Tuyên  huấn Quân đội Nhân Dân Việt Nam (PhoBolsaTV.com) nói Lịch  sử bốn nghìn năm, tính tử Nhà nước Văn Lang đến nay,  dân Việt phải hứng chịu mười sáu cuộc chiến tranh giữ  nước, trong đó mười bốn cuộc chống Trung Quốc.

Mười bốn cuộc chiến tranh xâm lược Việt  Nam, chúng đều thua thảm hại. Nhưng đau đớn cho dân Việt  là chúng đã thu mang về nước quá nhiều di sản Tinh hoa  Việt. Nhà Chu, nhà Tần đã đốt sách của dân Việt không  tiếc tay, ăn cắp di sản trí tuệ của Việt tộc biến  thành của mình. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc (1038 năm)  chúng đã cướp sạch di sản Văn hóa mang về nước, hoặc  bắt dân ta thu nộp để chúng đốt. Năm 1406 bọn xâm lược  nhà Minh bắt cha con Hồ Quý Ly cùng các tướng lĩnh triều  Hồ, thu hết sách quý, triệt phá những di sản Văn hóa  vật thể và phi vật thể của dân tộc ta. Năm 1418, nhà  Minh lại một lần nữa sai một số nhà Hán học sang nước  ta chuyên trách việc truy lùng, tìm kiếm, vơ vét, tịch thu  mọi sách quý của các Hiền nhân Đại Việt cùng các di  sản Văn hóa khác, nhất là phả cổ, thư tịch cổ cất  giấu trong dân gian, khiến dân ta phải tìm mọi cách giấu  kín trong các đình, đền, miếu, mộ cổ, chôn trong lòng  đất (không còn nhiều để giấu) hoặc tự hủy, không  chịu để rơi vào tay giặc. Những trí thức tài năng đã  biến phần lớn những di sản, dấu tích của các vị Tiền  liệt Việt tộc thành Thần phả, huyền tích, huyền thoại  để thờ cúng các Anh linh và truyền thông điệp của Tổ  tiên cho con cháu muôn đời. Nhiều tài liệu quý, phả cổ,  được biên soạn lại vào thời Hậu Lê, ngay khi Nguyễn  Trãi cùng Lê Lợi và Dân ta đuổi giặc Minh cút về nước.

Điều này giải thích vì sao các huyền thoại,  huyền tích Việt Nam đều là chuyện thật, còn dấu tích  của người thật. Và các Vị Thần Việt Nam, các Vị Thần  Thăng Long đều là Nhân Thần, khác với các nhân vật Thần  thoại do tưởng tượng của con người của các dân tộc  khác trên thế giới.

Dân ta coi đó là di chúc của Tổ tiên, là  tài sản quý còn lại mà chúng ta cần dày công sưu tập,  bảo tồn, giữ gìn, phát triển, ứng dụng trong đời sống  hiện đại.

Tâm linh Việt đời đời bất diệt. Cao Biền  đã yểm triệt nhiều nơi trên đất cổ của Tổ tiên Thần  Nông vùng Câu Lâu (Tây Phương, chùa Cực Lạc, chùa Trầm,  chùa Thầy…)  để triệt Tâm linh Tổ tiên Thần Nông,  phải nhục nhã ôm đầu mà kêu “Vượng khí nước Nam không  đời nào hết được” mà chuồn về Trung Quốc.

Thế kỷ XXI. Tâm linh Tổ tiên Thần Nông  rực rỡ hào quang trở về cùng con cháu Thần Nông. Chúng  ta sử dụng những phương pháp nghiên cứu đa ngành theo  Tâm linh và Khoa học hiện đại, để tiếp nhận di sản  tri thức của Tổ tiên qua khảo cổ, cảm xạ học, ghi chép,  xác định địa danh di tích, nghiên cứu đình, chùa, miếu,  mồ mả, thành quách cổ, những phả cổ, thuần phong, mỹ  tục, huyền thoại, huyền tích, cổ tích, truyện dân gian,  các dòng tộc, làng xã…

Những công trình khám phá mới trong vài ba  chục năm gần đây của những tác giả người Việt trong,  ngòai nước và các học giả phương Tây (Pháp, Mỹ, Trung  Quốc…) đã nghiên cứu chuyên đề, tập trung vào các chuyên  đề sâu.

 

Chuyên đề Kinh Dịch Phục  Hy

 

Khẳng định Phục Hy là Tổ tiên Bách Việt.  Phục Hy là con người thật, còn di tích, có địa chỉ cụ  thể và sử sách cũ của tiền bối ghi lại.

 

Kinh Dịch Phục Hy (Hy Dịch) là sáng tạo của người Việt  do Tổ Phục Hy khai sáng. Là kết tinh trí tuệ siêu việt  thể hiện vũ trụ quan, thế giới quan và nhân sinh quan của  người Việt. Những mật mã, nguyên lý, những tiên tri về  nhiều lĩnh vực mà khoa học hiện đại đến nay mới phát  hiện ra hoặc còn tiếp tục tìm hiểu sự sáng tạo khoa  học của nó ứng dụng vào thực tế khoa học hiện đại  và đời sống xã hội.

 

Chuyên đề Trống Đồng

 Từ những năm 20 thế kỷ XX đã xác định  rõ người Bách Việt, vùng lãnh thổ Bách Việt là nơi sản  sinh ra Trống Đồng. Nhiều học giả đi sâu khám phá mới  về những kết tinh trí tuệ ở Trống Đồng Việt cổ đặc  biệt là ý nghĩa hoa văn trên Trống Đồng cổ ẩn giấu  những tiềm tàng những thông tin khoa học, triết lý về  vũ trụ, về con người, ẩn giấu những mật mã về nguyên  lý khoa học, những điều tiên tri của Tổ tiên (đã tìm  thấy ở Kinh dịch Phục Hy) gửi lại cho đời sau.

 Chuyên đề Văn minh Nông nghiệp  lúa nước

 Xác định Thần Nông là thế hẹ kế tiếp  Phục Hy, người Bách Việt, sống ở đất Việt. Nền Văn  minh lúa nước Việt Nam được coi là Trung Tâm lúa nước  đầu tiên của loài người. Nền Văn minh đó khởi thủy  từ Phục Hy, con trai Phục Hy là Thần Nông mở mang phát  triển trong Thời kỳ Thần Nông. Đặc biệt thời Thần  Nông, người Việt cổ đã phát triển vận chuyển trên  sông, nước, bờ biển là cái nôi thủy sinh Việt tộc.

 Chuyên đề về Chữ viết  của người Việt cổ

Khẳng định người Việt cổ có chữ viết  và giải mã hệ thống chữ Việt cổ.

Những khám phá mới này khẳng định rõ  dân tộc Việt Nam có dòng máu Việt tử cổ xưa, nguyên  thủy, không bị hoàn toán đồng hóa bởi Trung Quốc. Bác  bỏ xuyên tạc, ngộn nhận dân Việt có Tổ tiên là người  Hán.

Khẳng định Tổ tiên Việt tộc đã từng  sáng tạo nên một nền Văn minh kỳ diệu, không phải dân  tộc nào cũng có được. Song nền Văn minh đó đã bị đánh  cắp, bị lãng quên. Nay chúng ta cùng các thế hệ con cháu  ngẩng cao đầu đón nhận vầng hào quang của Tổ tiên để  xây dựng và bảo vệ Đất Nước Việt Nam Rồng Tiên trường  tồn. 

 

.Hồ Gươm Thu 2011- 2013

Ước nguyện cuối cùng của Einstein

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

 Ước nguyện cuối cùng của Einstein Tác giả: Hoàng Dung Năm 1955, Albert Einstein (1879-1955) phải nhập viện do bị xuất huyết động mạch. Bởi vì Einstein đã công bố thuyết Tương Đối, nhận được giải thưởng Nobel, và giúp … Tiếp tục đọc

Truyện Ngắn Khải Nguyên ** Những Nẻo Đường Quê Việt-3

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG QUÊ VIỆT-3 -ghi và ngẫm- Khải Nguyên   (tiếp theo)              3. NỖI NIỀM CAO NGUYÊN ĐÁ Bao năm mơ ước được một lần đặt chân lên vùng cực bắc đất nước. Những nghe tiếng tăm … Tiếp tục đọc

Phiên tòa xử sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên

Thư viện của bài

This gallery contains 3 photos.

Phiên tòa xử sinh viên yêu nước Nguyễn Phương Uyên vào ngày thứ sáu!?   Thanh Hóa – Hôm qua, bà Nguyễn Thị Nhung, mẹ của Nguyễn Phương Uyên, sinh viên yêu nước đã viết: “Hôm  nay đã 10.08.2013 rồi, … Tiếp tục đọc