Tản bút Khải Nguyên

THÀNH ĐÔNG ‘MỘT CHẤM’ KHÓ PHAI MỜ
Tản bút Khải Nguyên

Con phố từ ga Hải Dương chiếu thẳng đến vườn hoa Độc Lập, trung tâm của thị xã xưa. Một ông già đang đứng nơi quãng giữa ngơ ngẩn nhìn quanh như tìm kiếm điều chi trên dãy dài phố xá ken dày nhà cửa mới mọc lên từ vài mươi năm nay. Xưa, đây là con đường nhựa nhỏ, hai bên thưa thớt nhà xen giữa những bãi hoang um tùm cỏ và cây dại. Năm 1956, một ngôi trường được dựng lên trên một trong những mảnh hoang đó. Ấy là trường Phổ thông cấp ba Hải Dương, trường cấp ba đầu tiên của khu Tả Ngạn (tả ngạn sông Hồng) gồm năm tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Kiến An và Hải Phòng. Hồi quân viễn chinh Pháp còn chiếm đóng Hà Nội, một số thành thị khác và mấy vùng dân cư từ 1946 đến 1954, trên miền Bắc chỉ ở đất Hà thành mới có trường cấp ba gọi là trường Trung học đệ nhị cấp. Chừng như thất vọng, ông già toan bỏ đi. “Thầy … phải không ạ?”, một tiếng nói cất lên ở phía sau. Ông già quay nhìn. Một người đàn ông cũng đã có tuổi. “Em là …, học sinh lứa đầu của trường”. Ông già nắm chặt tay người học trò cũ. “Tôi đang tìm lại dấu tích ngôi trường ngày ấy”. “Hình như ở quãng kia cơ, thầy ạ. Em hiện ở ngay thành phố này mà cũng chịu không thể nhận ra vị trí đích xác”.

Ngôi trường ấy, mái tranh, vách liếp; mỗi phòng chình ình hai cột gỗ vướng mắt học sinh nhìn lên bảng đen. (Ông già, -anh giáo trẻ xưa, từng chê trách việc “thiết kế” hai cái cột này, và bị qui tội “tự kiêu” trong đợt chỉnh huấn tập trung tại Hà Nội một năm sau đó). Một cái sân đất rộng, đến gần cuối năm học cỏ đã kịp mọc lên lam nham làm dịu bớt nắng hè.

Ngôi trường mà hôm sắp rời đi thành Nam (đổi đến trường cấp ba Liên khu Ba ở thành phố Nam Định), ông đã đến nhìn lần cuối:

Mùa này năm ngoái ta về đây

Màu nứa còn tươi cánh liếp gầy

……

Hôm nay tiếp bước năm học mới

Sân rộng xanh xanh cỏ mọc đầy”.

-Hình như ngôi nhà bốn tầng lầu kia choán góc phía trước của cái sân ngày đó, thầy ạ. Cái sân ấy, em và Thuyệt, lớp phó phụ trách lao động đã được tuyên dương trong đợt sơ kết đầu tiên. Thầy còn nhớ Phạm Thuyệt không? Anh ấy sau làm rất to.

Thuyệt, làm rất to, phải rồi! Một cương vị mà như thời trước người ta thường tán là “mả tổ phát ngôi khanh tướng”. Cậu học trò chất phác, học hơi chậm nhưng chăm chỉ và làm việc năng nổ. Làm to mà cái chân chất chưa bay hết. Sinh thời, Khoa, đồng nghiệp ngày ấy, có kể lần lên Hà Nội nằm chữa bệnh, chính anh ta thân hành đưa xe, -loại xe dành riêng cho cấp cao nhất, đón thầy ở bệnh viện.

-Lớp học sinh này của thầy có mấy cậu được đi học nước ngoài. Được đi du học thì có vẻ danh giá hơn nhưng làm to thì không nhất thiết. Như cậu Yết, cái cậu có vẻ tâm ngẩm nhưng khá là láu cá ấy mà, cũng làm rất to đấy, thầy ạ.

Ông chỉ nhớ loáng thoáng tên một học trò cũ, đâu như vào năm sáu mươi mấy của thế kỉ trước ở một phòng trọ tập thể ở Hà Nội, anh ta lẩn rồi chuồn nhanh ngay trước mắt mình. Nhưng không phải tên … , không có đâu!

-Quái! Có cậu nào là Yết đâu nhỉ. Tôi còn giữ cuốn sổ điểm năm nào.

-Vốn là Yển, Nguyễn Văn Yển, thầy ạ. Cậu ta đổi tên. Nghe đâu người yêu đầu tiên của hắn ta chê “Yển hay là Yểng, giống chim chuyên hóng hớt theo người ta!”.

À, cậu này điểm tổng kết cuối năm là “3”, còn của Thuyệt là “3 trừ” (thấp nhất là 1, cao nhất là 5, theo cách cho điểm của Liên xô xưa, -thực ra vốn là của người Nga).

Lớp học sinh thi vào ngày đó, phần lớn là từ các trường cấp hai “kháng chiến” trong các vùng căn cứ du kích, phần ít hơn là từ vài trường trung học đệ nhất cấp, công hoặc tư thục, trong mấy thị xã “bị Pháp chiếm”. Các em náo nức và phấn khởi trong không khí hoà bình và chiến thắng. Những em vốn ở vùng bị chiếm ban đầu có vẻ e dè một chút, nhưng cũng mau hoà đồng. Có thứ gì đó như là lí tưởng mơ hồ vẫy gọi phía trước. Các em chăm, ngoan, hầu như không có quậy phá.

Các thầy từ vùng tự do về tập quen với nếp sống đô thị. Họ còn trẻ, chưa hẳn đã gột được cái dáng dấp “quê mùa” nhưng cái hơi “kháng chiến” làm cho họ “đáng yêu” trong mắt các cô gái “trong thành (thị)” vốn ít nhiều hướng về kháng chiến. Tuy nhiên, chẳng dễ mà quen lối tiếp xúc, đối đãi. Một “chàng” đi mua cái bút máy. Vào một hiệu, ngưòi ta đòi hai đồng; có vẻ đắt so với giá cả đã tìm hiểu trước. Đi một quãng vào một hiệu khác, không ngờ là nhà của một học sinh (Ngày đó cũng như bây giờ ở nhiều đô thị, các nhà ở mặt phố thường phía ngoài bán hàng, phía trong là nhà ở). Bà chủ hàng niềm nở và trân trọng mời thầy vào tiếp đãi nước nôi, rồi đưa hàng cho thầy chọn. Đến khi hỏi giá, thầy té ngửa: bốn đồng. Không tiện mặc cả, cũng chẳng lẽ bỏ đi, đành ngậm ngùi “móc hầu bao ra”. May mà có đủ tiền!

Có một thầy vốn là dân thị thành, ông Thân, từng là giáo viên trước 1945, lương có thể nuôi vợ và vài con tử tế. Nhà ông lại vốn khá giả; bà vợ từng là “tiểu thư”. “Anh tháo giày cho em đi!”, một lần ông hồn nhiên và dí dỏm kể về thời “vàng son” của vợ ông với mấy đồng nghiệp đang ngồi trong quán nước của bà ở vùng căn cứ du kích. Chẳng còn tí dấu vết khuê các nào nơi người đàn bà còm cõi, ngoài dáng đi. Bà vẫn theo ông, những tháng năm kháng chiến gian truân, kể cả những lần chạy giặc càn. Về lại thành thị, cơ ngơi xưa không còn, ông bà và các con được cấp một gian chừng 16 mét vuông trong khu nhà một tầng, khu K. Ô. (tên tắt gọi theo tên “kiến ốc cục”, cơ quan xây nhà cho sĩ quan người Việt theo chương trình của Mĩ viện trợ quân viễn chinh Pháp). Loại phòng này cũng phân cho các giáo viên còn độc thân khác, bốn người một phòng.

Cùng chung trường sở còn một số giáo viên cấp hai “của chế độ cũ ở lại không theo địch vào Nam”, một cách nói ngụ ý tán dương song chẳng thể làm vui lòng được. Họ được giữ nguyên lương (gấp chừng sáu lần lương của những đồng nghiệp từ kháng chiến về; song chỉ duy trì được 5 năm thôi). Những người này xử sự lịch thiệp nhưng hơi “giữ gìn”; họ không thích từ “lưu dụng” mà người ta đôi khi thiếu tế nhị nói đến.

Trong thang bậc “vai trò” của chế độ, ngành giáo dục là kém quan trọng hơn cả, so với các ngành hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội. Không như các ngành khác, phụ trách trường không nhất thiết phải là đảng viên, trong trường có thể không có tổ chức đảng. (Về sau, thấy cần phải “chuyên chính”, người ta cử người từng là bí thư hoặc thường vụ huyện uỷ sang làm “phó” ở các trường cấp ba, các bệnh viện tỉnh. Dần dần, các tổ chức Đảng phảt triển trong trường học, và hiệu trưởng nhất thiết phải là đảng viên). Các hàng hoá cung cấp không đến tay giáo viên, vì không được coi là “cán bộ” như nhân viên một ngành nào khác (mãi đến năm 1967 mới có công văn của thủ tướng chính phủ chính thức “công nhận”, -để được đưa vào “diện” được phân những vật phẩm hiếm, mà khốn thay dân “nhà giáo” hơi đông quá!). Các ngành khác dính với những việc: hoặc là lãnh đạo, dìu dắt, hướng dẫn “nhân dân”, “quần chúng”; hoặc là lo cơm-áo-gạo-tiền, -kinh tế và đời sống nói chung; nếu không thì cũng trông nom sức khỏe, sinh mạng con người như y, dược. Ngành giáo dục chỉ là chốn để “bọn trẻ” học học, thi thi ; trong các báo cáo “lên trên” chỉ cần mấy dòng như là thêm vào, nhào nặn dễ không. Sự thành bại của chế độ, cũng như cái đích nhắm tới (để lũng đoạn, để phá hoại) của kẻ địch đâu ở ngành “gõ đầu trẻ”! Chưa kể cái bọn giáo viên “trí thức dở” thường là xuất thân từ tầng lớp trên, trình độ chính trị thì non mà lại hay “lí sự”. Quen với sự được “biệt đãi” như vậy, các thầy giáo nhà ta khá lạ lùng khi một hôm được mời vào “tiếp xúc với chủ tịch tỉnh”. Ông này vừa về nhậm chức, chẳng hiểu do đâu, hay do thư kí riêng nào xui, bỗng nghĩ chiếu cố mấy anh “trí thức” khá rẻ rúng trong mắt các vị “lãnh đạo” nói riêng, “cán bộ” nói chung.

Thời gian này đã và đang sửa sai về cải-cách-ruộng-đất. Song, ở thành thị không có cái không khí ảm đạm và li tán của nông thôn lúc bấy giờ. Tuy nhiên, ở thủ đô Hà Nội lại vang lên những tiếng nói “lạc điệu”(!) của một số trí thức, văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm ; và một số người đứng đầu đảng Dân Chủ, một đảng chính trị do đảng Cộng Sản gây dựng lên, đòi có tiếng nói và vai trò hơn, lại định phát huy ảnh hưởng trong giới công thương nghiệp tư nhân. Những “sự cố” trên có một ít tiếng vang thoảng đến thị xã Hải Dương. Tuy nhiên nói chung, vẻ ngoài vẫn là không khí ít nhiều phấn chấn.

Năm ấy, đại hội công đoàn giáo dục toàn tỉnh nổi sóng gió. Vốn việc triệu tập đại hội đã là bị động theo yêu cầu của một số đoàn viên “to mồm”. Các bản tham luận thành những bản tố khổ về lãnh đạo, đãi ngộ, đối xử, … Đến khi bầu ban chấp hành mới, không vận động mà một số “phần tử bất mãn” đã trúng cứ, trong đó có người từng là cán bộ ti vừa bị “đầy” đến một thị trấn cách 30km; -anh ta được bầu làm thường trực nên tổ chức buộc điều trở lại thị xã. Ông cũng được đoàn của trường cấp ba uỷ nhiệm đọc tham luận. Hồi đó, những phát biểu trên diễn đàn không bị duyệt trước như thông lệ sau này. Ông tự do bày tỏ ý mình. Ông nói khá thẳng thắn nhưng công bằng, theo ông nghĩ, trong đó có phê phán cách lãnh đạo “đảng trị”. Sau đại hội, cuộc họp rút kinh nghiệm của nội bộ lãnh đạo đã đánh giá bài nói của ông là “duy nhất có tính xây dựng trong số các tham luận” (Thế nhưng, hơn một năm sau, trong một cuộc “học tập chính trị” tại trường cấp ba Liên khu Ba, ông được “chấn chỉnh” về cái từ “đảng trị” này). Sự kiện nói trên chỉ là một “sự cố đột xuất”, một sơ hở “buông lỏng lãnh đạo”. Có lẽ do không khí chính trị, xã hội lúc bấy giờ, công cụ “chuyên chính” chưa tỏ rõ uy lực, hơi thụ động một lúc nào đó thôi.

Là đô thị lớn thứ tư của miền Bắc nhưng thị xã Hải Dương cũng chỉ cỡ Vinh hồi chưa “tiêu thổ kháng chiến”. Cũng có hai đường phố, Trần Hưng Đạo và Quang Trung, dài và rộng hơn cả, vuông góc nhau ở ngã tư trung tâm, tựa như hai đường phố Phan Đình Phùng và Quang Trung ở Vinh xưa. Xưa ở Vinh, chú học sinh lớp đệ nhị Trung học phổ thông (lớp bảy Trung học cơ sở ngày nay) đi dạo mòn guốc những tháng ngày trước Toàn quốc kháng chiến; nay ở Hải Dương, “cậu giáo” Phổ thông cấp ba dạo bộ mòn dép trên hè đường mát bóng cây và thưa thoáng người lại qua. Sau mười năm mới thấy lại phố xá thị thành với cái nhìn khác, không chỉ vì trước đây là của cậu bé-học sinh còn nay là của một thanh niên-thầy giáo. Xưa kia, trong không khí cách mạng thành công, nước nhà độc lập đã được một năm, chú bé nhà quê ra tỉnh thấy không ít cái lạ nhưng không ngỡ ngàng lắm. Lần này, chàng trai từ nếp sống nông thôn kháng chiến, quê kệch thiếu tiện nghi, có khi lúi xùi, tạm bợ, nhưng là từ vùng “tự do” ra vùng từng “bị tạm chiếm”, nơi không thể không còn ảnh hưởng tàn dư của kẻ địch, nơi vốn là môi trường tư sản và tiểu tư sản, với tư cách của phe chiến thắng đến với đồng bào vừa mới ra khỏi bóng đêm thực dân, v.v… , có lạ lẫm, có tự hào, có cảnh giác, …

Có những cái thuộc về ý thức, tác phong mà cách mạng, kháng chiến rèn cặp cho không phải là không tốt, nếu để phát huy tác dụng và điều chỉnh hợp với đà tiến tự nhiên của xã hội, của con người, không gò vào những qui tắc lên gân, gượng ép, không tạo ra nghịch lí, nghịch cảnh.

Khi chuyển hành lí từ bến xe thị xã Hải Dương về trường, chỉ có hai chiếc ba lô không lớn nhưng khá nặng vì chủ yếu là sách vở, thầy giáo trẻ nhà ta nhờ xe xich lô. Người đạp xich lô mời thầy lên xe. Thấy ông ta đã đứng tuổi, mồ hôi nhễ nhại, thầy bảo thầy đi bộ. Ông ta lẳng lặng đạp xe đi chầm chậm để thầy theo kịp. Chẳng biết ông ta có cảm kích (người của kháng chiến có khác!) hay bực mình? Ngày ấy, thầy đã hành xử tự nhiên, tự nguyện, -thầy đã được giáo dục tôn trọng người lao động và không bóc lột người lao động. Ngồi để cho người ta bỏ sức lực đạp xe chở đi là bóc lột sức lao động chứ gì nữa! Nhưng bây giờ nhìn lại thấy ngớ ngẩn, bởi nó lạc lõng làm sao!

* * *

Năm đó, tôi lại đón Tết tha hương, Tết Đinh Dậu (1957). Đã quen với những cái Tết “mỗi mình một cõi đi về”. Trước kia, vì chiến tranh. Nay đã là cái Tết hoà bình thứ ba mà mẹ tôi không ngóng con cái “sum vầy” trong cái không khí ghẻ lạnh bao trùm những gia đình “địa chủ”. Bà đã “ăn” cái Tết Ất Mùi (1955) trong nỗi tủi cực bi thương: cha tôi đã mất trước đó nửa tháng trong tình cảnh bị cô lập và đè nén, nhất là về tinh thần..

(Trích nhật kí ) “Lần đầu tiên trong đời, ngồi chứng kiến giao thừa, mọi năm cứ ngủ quên mất. Qua đài phát thanh, năm mới trịnh trọng đến. Chúng tôi, tôi và Khoa, đang rõi theo đồng hồ và tiếng phát thanh, tưởng chừng thời gian đang chầm chậm bước. Bổng nhiên, tiếng chuông buông từng tiếng trong trẻo và đĩnh đạc, tiếp đến, tiếng pháo nổ liên hồi reo vui như muốn xé toác màn đêm. Sau bài quốc ca, tiếng Hồ chủ tịch chúc Tết giản dị mà ấm cúng.

“Tôi bước ra ngoài, muốn xem phố phường trong giờ phút mới mẻ này. Chung quanh hầu như lặng lẽ trong ánh điện dìu dịu. Trời không rét mà mát lạnh. Có cái gì thiêng liêng và huyền diệu vừa đến trên mặt đất này, và dường như cũng có gì chuyển biến nhè nhẹ trong tôi. Tôi đã sống hết một phần tư thế kỉ, chẳng phải lần đầu mới có những ý nghĩ mơ hồ, cũng như đã ghi nhiều trang nhật kí khá vu vơ, nhưng hôm nay chợt dến cái cảm giác lâng lâng và những ý-nghĩ-khám-phá của thời mới chớm “thì” tuổi trẻ.

“Có phải Tết mà thiếu mưa phùn và rét ngọt thì mất vui, bởi, như ai đó nói, không nấu được thịt đông và bánh trái chóng thiu. E “thực tế” quá! Tết mà vắng mưa phùn thì sắc hoa đào bớt thắm (còn bao màu sắc hoạt động khác nữa) và cây nêu sẽ trở nên hiu quạnh, trơ vơ. Tết mà không rét sẽ giảm sự ấm cúng gia đình quây quần bên bếp lửa hay quanh chén trà nóng. Có mưa và rét mới thấy giá trị báo hiệu mùa xuân của cành lộc hái, của hoa Tết, của sắc màu trên người và mặt các cô gái, chàng trai, nhất là những sắc màu “chia vui những đôi lứa sắp thành” (Rõ là cảm nghĩ của anh chàng chưa biết mùa đông ở miền Nam!)

“Một câu ‘triết lí vụn’ đã khá lâu, chẳng biết tự nảy ra trong đầu hoặc nghe được đâu đó: ‘Đẹp nhất, là lúc chuẩn bị, lúc chờ đợi’. Do thế mà Tết đẹp hơn lên chăng! Bởi, với Tết mùa xuân chưa sang, hoăc chưa thật sang ; với Tết, người ta ước mong, chúc tụng nhau những gì sẽ đến đều ‘đẹp như năm mới’. Và cũng do thế mà Tết chỉ đẹp từ giao thừa trở về trước? Sáng Mồng Một mở mắt ra chẳng có gì khác lạ, trừ … thường là phải theo một số nghi thức, phải nói nhiều, ăn hay uống lắm khi ‘cho phải phép’. Không! Cái đẹp của năm mới, của mùa xuân phải được cảm bằng tâm linh.

“Phố xá Hải Dương, tiếng pháo lẻ tẻ. Đằng góc ngã tư, hai tràng pháo nối nhau phun lửa ròn rã. Mình nghe thấy tiếng pháo đuổi nhau trong quá khứ nào. Có phải thời ta run run tay châm từng chiếc pháo đùng, cái thời mà khi làng Phúc Đậu xứ Nghệ, trước Cách mạng, đang im ắng trong ‘đêm đen tối ba mươi’ chợt vang lên tiếng pháo tràng ở mạn đồi Hoa Bảy, tiếng pháo tràng duy nhất mỗi Tết, người ta rủa một cách vô tư: ‘Hà, cháy nhà Khoa Trạch’? (Ông K.T. gốc nông dân đi buôn bên Lào về trở nên khá giả nhất làng, nhưng không được trọng vọng như các thân hào).

“Dưới đường nhìn lên sân thượng thấp hay qua cửa sổ tầng hai thấy những bà già chắp tay khấn trước mâm cỗ, hoặc cắm những que hương lập lòe, mình mỉm cười buồn. Mùi hương trầm sao không gợi lại hình ảnh một cụ già áo lương, khăn nhiễu, suỵt soạt khấn? Dĩ vãng xa rồi hay tâm hồn rắn lại?

“Đã hơn hai giờ của ngày đầu năm Âm lịch. Tiếng gà cất lên đâu đây. Trong kia, giờ này mẹ ta còn thức? Tết năm nay có còn những màu sắc, hương vị của những Tết năm nào? Cha mất rồi, ai sẽ thắp hương và khấn khứa? Mẹ ơi! ăn bánh xin đừng trộn nước mắt vì những đứa con xa. Con sẽ về giữa năm 1957. Mẹ sẽ khóc, con biết, nhưng mẹ sẽ mừng.

“Chung quanh yên ắng quá! Mấy hôm nay gian phòng này trầm lặng nhưng có cô quạnh đâu! Song, đón xuân, tâm tư ta vắng tình cảm gia đình mà dường như vắng cả mộng riêng tây”.

* * *

Sắp sang hè, Hồ chủ tịch về thị xã Hải Dương, thủ phủ của khu Tả Ngạn, trong chương trình kinh lí các địa phương của vị chủ tịch nước. Trong sân rộng của trụ sở khu uỷ Tả Ngạn, vốn là dinh viên công sứ Pháp xưa ở tỉnh Hải Dương, ngồi chật cán bộ, công chức nghe ông cụ nói chuyện. Có một ý về xây dựng và phát triển đất nước mà người viết bài này không quên: Liên xô phát triển được như bây giờ, trong bốn mươi năm mà đã mất hai mươi hai năm chiến tranh và khôi phục chỉ có mười tám năm để xây dựng. Nước ta nay có các nước anh em giúp đỡ thì chỉ chừng mười năm đã có thể được như Liên xô ngày nay. Nếu các cô chú cố gắng thì bác bớt đi hai năm, chỉ cần tám năm, các cô, các chú có quyết tâm không? Tôi nhẩm tính, không biết con số hai mươi hai năm cụ lấy ở đâu. Tuy ngờ ngợ và phân vân chút đỉnh nhưng tôi vẫn yên trí. Dần dà theo thời gian, cảm thấy cụ Hồ và Đảng có lẽ cũng từng nghĩ khá đơn giản về xây dựng chủ nghĩa xã hội. (Cũng như từng cho rằng một khi nắm được tư tưởng “thống soái” người cán bộ CS là đa năng, ném vào lãnh vực công tác nào: chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, văn hoá đều làm được!)

Từ trụ sở khu uỷ, Hồ chủ tịch đến nói chuyện với lớp học viên trường đảng địa phương. Dọc đường, từ phố Trần Hưng Đạo, nổ ra một cuộc đón tiếp tự động. Ban đầu chỉ là số cán bộ, bộ đội dàn ra như để làm hàng rào danh dự, -rất thưa thớt; khi xe cụ đi qua, người ở đâu túa ra chật cả đường phố, xúm đặc quanh xe. (Chẳng biết vô tình hay dụng ý, cảnh này dường như trái với thông lệ của xứ ta bảo vệ cán bộ cao cấp, chứ chưa nói bảo vệ lãnh tụ). Sau cơn “sóng gió” cải-cách-ruộng-đất, uy tín của cụ Hồ còn giữ được như vậy, lẽ ra các vị lo vận nước phải biết “ơn dân” nhiều nhiều!

* * *

Tôi hay ốm vặt, nhưng chẳng ngờ có ngày phải lên bàn mổ, dù chỉ là “mổ vặt”. Mấy lâu, hay bị sổ mũi, nhức đầu. Cả miền bắc lúc này chỉ có mỗi khoa tai-mũi-họng ở bệnh viện Bạch Mai. Từ Hải Dương cùng Tham, giáo viên Trung văn, đi tàu tối lên Hà Nội đến xếp hàng từ ba, bốn giờ sáng. Sau đó, lui tới hơn nửa tháng, khám đi khám lại mấy lần mới phát hiện ra hai cái gai xương trong mũi. Y sĩ khám xong ghi “chỉ định: đục (=mổ bỏ) gần”, nhưng thường phải chờ, sáu, bảy tháng trở lên. Hôm sau, tôi vào ti Giáo dục gọi nhờ điện thoại. Hồi đó. gọi điện khá là nhiêu khê. Phải qua trạm trung tâm, từ đó chuyển qua Bạch Mai, rồi chuyển tiếp đến trạm của tai-mũi-họng, cuối cùng mới đến khoa mũi. Do vậy, nhiều khi tắc hoặc nhỡ. Hôm đó, tôi gặp may, thông suốt ngay. Cũng lại gặp may, đầu kia trả lời gần như lập tức: “Hai ngày nữa, tức là ngày …, mời ông đến”. Sự “may” này có thể giải thích: nhân viên trực là “người của chế độ cũ lưu dụng” có nếp làm việc căn cơ, chỉn chu [ta vẫn được giảng rằng công chức của chế độ cũ chỉ “sớm vác ô đi, tôi vác về”, còn cán bộ ta làm việc theo tinh thần tự giác vì sự nhiệp cách mạng(!)], lại nhận được “điện gọi đến” từ một ti! Đúng hẹn tôi tới thì người trực bảo chưa có giường. Tôi nói: “Tôi đã được báo…”. “Có phải ông gọi điện từ ti Giáo dục H.D.? Vậy mời ông đến phòng …, giường số …”. Thì ra vẫn có hai giường dự phòng.

(Trích nhật kí) “Ngày giờ trong bệnh viện tưởng lê thê với những âu lo và buồn chán, hoá ra cũng chịu đựng được. Chỉ có thời gian cứ đều đều như đọng lại trong một không gian hẹp màu trắng.

“Buổi chiều, tạ cớ đi ra ngoài bệnh viện. Nắng dịu. Mùa lạnh chưa qua hẳn mà nắng nồng cũng chưa về. Mảnh đồng hẹp đông-nam ngoại thành Hà Nội xanh màu lúa non. Nước hồ Bảy Mẫu sáng trong dưới ánh trời chiều, sóng gợn lăn tăn. Phía xa, phố xá nổi lên trên bờ cây xanh. Cảm thấy khoái chá như lần đầu tiên biết quí những mảnh trời khoáng đãng.

“Biết sẽ phải mổ, không lo sợ mà chờ đợi. Lần đầu tiên nằm trên bàn mổ, bất giác mình mỉm cười. Tay bị khoá chặt, mắt nhắm, lỗ mũi bị căng ra, kim tiêm chọc vào, dao giải phẫu rạch vào màng mũi lúc nào không biết. Tiếng sợi thịt đứt sạc sạc, tiếng cạo xương sạo sạo, tiếng đục lóc cóc, mình có cảm tưởng như người ta đang mổ gà. Tuy vậy, không đáng sợ lắm như tưởng tượng lúc trước. Hai cái gai xương, mấy mảnh xương mũi, một phần cơ thể, dù chỉ là tí chút, đã mất đi!

“Hai ngày và một đêm sau khi mổ mới thực là chịu cực hình. Đầu rức như bị bóp chặt liên hồi. Mũi bị nút chặt, phải hé mồm ra để thở. Đờm lẫn máu rớt xuống miệng hoài. Hễ nuốt nước bọt là bơm hơi vào màng nhĩ căng ra, tai lùng bùng. Lúc này mới thấy cần sự săn sóc của bàn tay thân thiết. Lâu rồi, ta xa và thiếu sự ấm cúng và sự dịu hiền. Không muốn nghĩ đến hay không muốn nhớ đến nữa. Bàn tay của những người phục vụ ở đây chỉ là “công việc”. Quí biết mấy bàn tay bạn của một số anh em đồng cảnh.

“Buổi tối cuối cùng, nói chuyện với một số bạn cùng phòng còn phải ở lại: Nghĩa, Phương, Hùng, những “cán bộ miền Nam tập kết”. Họ chân thực thổ lộ nỗi niềm những khi vò võ một mình trong chiều mưa lạnh, nhất là những khi se mình. Quê hương, gia đình, những người thân đương đỏ mắt trông chờ trong kia. Kí ức về những ngày kháng chiến. Những đêm tranh thủ tạt qua nhà, vợ hỏi, con đòi. Những lúc ốm đau có bàn tay thân thương chăm chút, có tiếng con nhỏ bi bô. Họ phải nén nỗi buồn chán, tủi cực khi người nằm giường bên có người đến thăm; cơ quan của họ chẳng một lời thăm hỏi. Mình xa nhà đã lâu nhiều lúc cảm thấy trống trải, song có thấm vào đâu so với những người mà lòng canh cánh gửi về bên kia giới tuyến!”

* * *

Đang “yên lành” chợt “nổi máu phiêu lưu”, tôi xin chuyển về trường phổ thông cấp ba Liên khu Ba đang đóng ở thành phố Nam Định, đô thị lớn thứ ba miền bắc sau Hà Nội và Hải Phòng. Bấy giờ loại trường này còn hiếm, ngay thành phố Hải Phòng cũng chỉ mới có một trường tư thục cấp hai-ba. Và giáo viên cũng hiếm. Do vậy mà việc xin chuyển trường khá dễ, kể cả xin chuyển về một thành phố lớn hơn. (Không như về sau, nhiêu khê giấy tờ, lại cần được “đồng ý cho chuyển” và “đồng ý nhận”. Vài mươi năm trở lại đây, còn phải món thủ tục “đầu tiên”!).

Tôi xin đổi đi lúc đang được tín nhiệm từ bạn đồng nghiệp, học sinh cho tới lãnh đạo trường, ti, khu giáo dục (với các vị sau thì chỉ tín nhiệm về chuyên môn thôi, còn thì không mấy “thích” vì không “dễ bảo”). Tín nhiệm đến mức là giáo viên toán mà có lúc để kiêm dạy sử!

Trường cấp ba Hải Dương và đất Hải Dương là một trong những nơi tôi rời đi với nhiều lưu luyến nhất, để lại một mảnh đời, có tha thiết, có nồng nhiệt, có ngu ngơ, …

“Ta sẽ xa đất Hải Dương này, xa ngôi trường mái lá này mãi mãi. Ngôi trường tuyền toàng, kém cỏi nữa, nhưng có đủ bàn ghế. Năm ngoái, năm kia, ta còn mong được dạy tại một lớp học có đủ bàn ghế cho trò, cho thầy. Năm nay, ta lại “thèm” nhà ngói cửa gương. Thật là một sự vòi vĩnh “hưởng lạc” không cùng(!) nhỉ!

“Chỉ còn đêm nay nữa mình sẽ rời Hải Dương. Ai biết lát nữa giấc ngủ sẽ đến như thế nào? Tôi vừa đi với Khoa thăm một số bạn đồng nghiệp. Lần cuối cùng tôi đi trên phố xá H.D. dưới ánh đèn đường. Vẫn phố Quang Trung ánh sáng đan trong các kẽ lá bàng; vẫn phố Trần Hưng Đạo đông người tụ tập trước rạp chiếu bóng Hoà Bình. Nhưng sao hôm nay ánh đèn điện có vẻ hắt hiu; người dạo phố ít ồn hơn. Trời chưa sang thu mà sao hơi sương lành lạnh đã về? Nơi vườn hoa Độc Lập có đài liệt sĩ và nơi nhà thư viện gần đó đèn vẫn sáng như thường ngày, nhưng tôi thấy “cái đẹp im lìm” như vừa mới chợt khám phá ra. Một cảm giác nao nao: Mình đã là khách của H.D. mất rồi!”

Trong những “nỗi niềm” để lại có mối tình của P.V., “hoa khôi” Chí Linh của làng giáo đất thành Đông hồi đó. Người con gái có tiếng (hay mang tiếng?) kiêu kì đã chờ một lời quyết định của tôi mà tôi đã (dại khờ? lưỡng lự? hay vụng về? thiếu quyết đoán?) để cho trôi đi. Chuyển về thành Nam rồi, chợt thấy tiêng tiếc một cái gì lở dở, một giấc mộng xa mờ và mông lung, có lẽ. Như hôm nào

Đêm qua chợp mộng thấy pê vê (P.V.)

Má ửng hồng vương mái tóc thề

Đôi mắt đen trong, chiều đổ bóng

Nhìn ta vời vợi nói năng chi

(câu đầu nhại thơ H.M.T.).

Một năm sau, tôi có dịp ghé Hải Dương, biết tin nàng mới lấy chồng. Gặp nàng đang cùng mấy cô bạn đồng nghiệp từ một cuộc họp ra về, tôi hỏi có “vui không?”, nàng hơi cúi đầu rầu rầu nói “không vui lắm”. Có phải là một lời trách cứ! Song, giá trước đây xử sự khác đi, liệu tôi có đem được niềm vui (hạnh phúc) cho nàng?

Rời Hải Dương cũng là rời khu Tả Ngạn. Bốn năm trước tôi đã “lò dò”, “lớ ngớ” từ vùng tự do liên khu Bốn theo “đường dây giao liên” vào vùng địch hậu, hồn vô tư và ít nhiều ngây ngô, lòng hăm hở lẫn chút ít e ngại. Lần đầu tiên trong đời đặt chân lên đồng bằng Băc bộ, lại là đang trong vòng o ép của quân địch. Cũng là lần đầu tiên ăn cỗ Tết kiểu nông thôn châu thổ sông Hồng, -các nhà dân chia nhau mời mỗi nhà vài cán bộ thoát li (gia đình, quê hương) về cùng ăn Tết. Năm công tác đầu đời, bỡ ngỡ, hăng say mà lại cũng tự tin vô lối, làng Phù Cựu, -“thủ đô” của tỉnh Hải Dương kháng chiến, là một trong những “điểm nhớ”. “Ngôi trường” đầu đời dạy học là một ngôi đình xập xệ qua chiến tranh giữa một khu căn cứ du kích. Tự hào, có ; ân hận, có. Bóng dáng H., người thôn nữ “nạn nhân” của sự do dự của tôi, của sự suy tính khốn khổ, nay lưu lạc ở phương trời nào?

Ba giờ chiều ngày 25-8-1957 lên tàu rời Hải Dương.

“Lúc chuẩn bị hành lí sao mà rối thế. Cả ngày hôm nay mình mất cái vẻ trầm tĩnh. Có lẽ nét mặt mình đăm chiêu lắm.

“Xa cách mấy gian phòng K.Ô. nhé! Từ nay nơi đây sẽ không còn tiếng đọc thơ của ta trong lúc soạn bài hay ngồi nghĩ vẩn. Gió heo may sắp mang hơi lạnh về KÔ rồi! Cũng không còn Phương để ngâm câu “Mộng vàng chưa kịp hái”, P. đã rời đi tuần trước.

“Xa cách thị xã Hải Dương nhé! Cái thị xã nhiều bụi mà cũng nhiều nước ngập này sẽ chẳng bao giờ in dấu chân ta đi dạo trên hè phố nữa.

“Xa cách Tả Ngạn nhé! Một mảnh đời trẻ tuổi của ta, cái bồng bột lúc mới vào nghề, ta đã để lại nơi đây”.

Bạn đồng nghiệp, Khoa, Tham, Tài, -nay đều đã đi vào cõi vĩnh hằng, ra ga tiễn. Lúc bắt tay giã từ, Khoa nói: “Từ nay, Hải Dương (đối với bạn) sẽ chỉ còn là một chấm trên bản đồ ”. Những cánh tay và chiếc mũ vẫy khuất dần sau bức tường nhà ga. Trong lòng tôi, vừa có cái gì tan ra, mà cũng có cái gì mới nhen …

Đêm nay mưa nhẹ K. Ô. hẹp

“Ai ngỏ cùng ai chuyện mến thương?”

Gió bỗng ngừng lay, buổi tiễn đưa…

“Thành Đông một chấm khó phai mờ

Mấy câu trong bài thơ, buổi đầu đến Thành Nam.

* * *

Gần nửa thế kỉ sau, tôi được mời về dự lễ kỉ niệm 50 năm ngày thành lập trường, lúc này mang tên trường Trung học phổ thông Hồng Quang. Cơ ngơi mới của trường được xây kề sông đào phía bên kia nội thành, nơi vốn là ruộng ven cánh đồng ngoại thị. Một ngôi trường khá khang trang, một trời một vực so ngôi trường buổi sơ khai xưa, nhưng so với yêu cầu nay thì chưa được tiện nghi lắm và địa thế khí hẹp. Các đồng nghiệp xưa, tôi chỉ gặp lại mỗi Khoa, vẫn năng nổ và “trẻ”, -ông bạn này còn ở lại trường mấy năm sau khi tôi rời đi. Học trò xưa, tôi cũng chỉ gặp lại chưa đến mươi người. “Tháo vát” của Khoa, nhiệt tình của học trò cũ chẳng làm vơi cảm giác “lạc lõng” của tôi bao nhiêu. Thị xã Hải Dương đã được lên cấp “thành phố”, phình rộng ra bốn xung quanh, nhất là phía đi về Hà Nội. Khu vực các đường phố cũ gọn xinh nay biến dạng đi nhiều, tôi như đặt bước giữa nơi chưa từng biết. Cái gò nhỏ trên một mé hồ, hồi trước là một vườn hoa be bé với một bể bơi, có chiếc cầu gỗ hẹp đi vào, nay đã mất dạng. Người ta đã cho lấp đất một dẻo ven hồ để làm công viên, trên đó đã mọc rải rác các quán hàng. Đông vui lên, lớn và đẹp ra, dĩ nhiên rồi. Song le, đã có những cái mất đi, cũng dĩ nhiên thôi. Nhưng giá những cái mất đi là những gì tủn mủn, luộm thuộm, xô bồ, bon chen, tư túi, … của lối sống và lối làm ăn xưa cũ mà cách lãnh đạo một chiều với cái nhìn hạn hẹp chỉ có cơ làm biến tướng đi, khó mà thay đổi được.

12 – 2012

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s