Nguyễn Quang Khiêm ** Một Lần Thăm Mộ Bà Ngoại

Một lần thăm mộ Bà Ngoại
Nguyễn Quang Khiêm Hồi Bút

biadaSáng nay lái xe đi làm, cũng như mọi sáng, tôi chọn con đường nhỏ , ngoằn ngoèo nhưng không nhiều xe. Con đường tôi đã đi bao nhiêu năm rồi. Ngang qua một nghĩa trang, cái nghĩa trang mà tôi ít khi để‎ ‎ y’ ‎đến. Một ‎‎y’ nghĩ về ngày Tết (hôm nay chắc là 28 tháng Chạp) làm tôi chợt bùi ngùi. Nhìn những ngôi mộ thẳng tắp bình yên nơi nghĩa trang ấy, tôi ngậm ngùi nhớ lại một ngày năm xưa nơi quê nhà.

Thưở ấy , khi còn bé thơ, tôi được một lần đi thăm mộ Bà Ngoại tôi ở nghĩa trang Bắc Việt (nghĩa trang do hội tương tế Bắc Việt lập ra vào những năm sau 1954, nhằm giúp đỡ những người Bắc di cư có nơi chôn cất ông bà). Thăm mộ Bà, với tôi, còn là một dịp để đi thám hiểm, vì ngoài cái không khí trang nghiêm nơi nghĩa trang, còn nhiều cái làm tôi cảm thấy hiếu kỳ và sờ sợ, như những cái miểu sơn mầu sắc rất đẹp và uy nghi, trạm trổ rất công phu với những hình thù cổ quái của những Trư bát Giới, Tề Thiên Đại thánh, Đường Tăng hoặc những ông Bụt….

Nơi nghĩa trang lúc ấy, hàng hàng những ngôi mộ thẳng tắp, trang nghiêm, phần lớn những ngày trong năm đều vắng vẻ hiu quạnh ít người thăm viếng. Nhang khói chỉ thoang thoảng đâu đó từ ngôi Chùa nhỏ gần đấy. Ngôi Chùa và căn nhà của người quản trang là nơi đầu tiên tôi nhớ đã bước vào khi qua ngưỡng cửa chính của nghĩa trang.
Lần thăm mộ Bà Ngoại tôi năm đó không phải là ngày Tết. Đó là khi Bố tôi, sau khi bọn VC thả từ trại tù cải tạo ra, đang mưu tính chuyện vượt biên. Vậy nên ông muốn viếng thăm mộ Bà lần chót. Hôm đó vào một ngày hè 1980, trời nắng chang chang, Bố tôi dáng cao liêu xiêu trong bộ quần áo của chính mình lúc ấy đã trở nên rộng thùng thình vì sau bao năm tù cải tạo người đã ốm trơ xương, với cái nón kếp, chở tôi đi bằng chiếc Honda dame duy nhất của gia đình. Năm ấy Bố tôi chỉ gần 50 mà trong như lọm xọm như một ông già. Đó là tác dụng của những năm tù cải tạo, những năm dài trong quân ngũ, và những cơ cực trong cuộc sống cùng với Mẹ tôi lo cho đàn con trong thời chiến tranh.

Nghĩa trang Bắc việt, sau 1975, bị bọn VC liệt vào khu quân sự, vì giáp ranh với phi trường Tân sân Nhất. Thế nên chúng canh gác ráo riết khu vực ấy. Bố tôi phải xin hai ba tờ giấy phép, nào là tạm trú khi ra tù, giấy do công an khu vực cấp tạm cho đi thăm mộ phần tổ tiên, và còn những thứ gì nữa tôi không nhớ hết. Vậy mà tên công an gác cửa, mặt hắn non choẹt chỉ đáng tuổi con, sấc xược gọi Bố tôi bằng “Anh”, vẫn hoạnh họe đủ chuyện. Trong khối óc non nớt của tôi, đã từ từ hình thành rõ cái nhận định về kẻ thắng cuộc, khi nó đã thắng thì nó có tất cả, kể cả sự sấc xược vô lễ.

Sau một hồi vặn vẹo hai Bố con tôi, tên công an cuối cùng cũng cho chúng tôi vào và bắt phải xuống xe , tắt máy đi bộ một đỗi, sau đó mới được nổ máy xe đi tiếp.

Đậu xe xong, hai Bố con tôi lần bước vào ngôi Chùa, thắp lên nén hương trên bàn thờ Phật. Nhìn Đức Phật từ bi trên bệ thờ, lòng tôi chùng xuống. Ngài có thấu chăng cho tấm lòng hai Bố con tôi lúc ấy. Kẻ sắp phải xa vợ con một lần nữa sau 5 năm tù đày. Người sắp phải lìa Mẹ và anh chị thân thương không biết khi nào mới gặp lại lần nữa. Bố tôi nói vài lời thăm hỏi với người quản trang, đưa ông ta chút tiền và dặn dò về ngôi mộ Bà, lô số mấy, hàng số mấy…

Hai Bố con sau đó, lần theo con đường nhỏ dẫn vào nghĩa trang, lúc bấy giờ cỏ tranh mọc cao qua đầu vì từ lâu bọn VC không cho ai vào chăm sóc. Ông quản trang đã già không thể nào lo cho kịp được. Giữa cái nắng như đổ lửa của mùa Hè, chúng tôi vạch cỏ tìm lối đi giữa những ngôi mộ sơ xác, tiêu điều, cái cảm giác ấy mãi mãi tôi không quên. Nó giống như cái cảm giác mông lung vô tương lai của cuộc sống gia đình tôi sau 1975, cảm giác chới với cố bám víu vào những bấp bênh của cuộc đời.

Cuối cùng chúng tôi cũng tìm ra mộ Bà. Cỏ dại xung quanh mộ đã mọc um tùm cao quá đầu người. Hai Bố con tôi gắng sức nhổ cỏ, được bao nhiêu hay bấy nhiêu vì biết rồi đây chúng sẽ mọc tràn trở lại. Chúng tôi đặt lại cái bình hoa bằng đá đã đổ xiêu xuống đất không biết vì sao. Đó là lần đầu tiên tôi biết mộ Bà Ngoại tôi. Ngôi mộ bình thường như mọi ngôi mộ. Khi Bà tôi mất khoảng cuối thập niên 1950, Bố Mẹ tôi tài chánh không nhiều nên chỉ có thể lo được một ngôi mộ bình thường, không miếu cao, không trạm trổ. Dù vậy, được đứng trước mộ Bà, tôi vẫn cảm thấy trang kính vô cùng. Tôi chưa lần nào được gặp Bà Ngoại vì tôi ra đời khi Bà đã mất. Thế nên tôi chăm chú nhìn vào tấm bia mộ, hình Bà Ngoại tôi vẫn còn rất rõ, bân dưới có hang chữ “Nơi an nghỉ nghìn Thu của cụ Bà Phạm T. T. … mất ngày…”. Bố tôi khấn vái rất nhiều và trong lúc ấy ông sụi sùi rơi lệ. Có lẽ đó lần thứ nhì tôi thấy ông rơi nước mắt. Lần đầu là khi biết tin Bác gái, chị ruột Bố tôi, mất trong khi ông còn trong tù cải tạo.

Tôi cũng bùi ngùi khóc theo, tôi không còn nhớ rõ mình đã nguyện cầu xin Bà tôi điều gì vì đã ngoài ba mươi năm từ ngày ấy, nhưng chắc rằng tôi đã cầu xin Bà Ngoại phò độ cho chuyến đi lần ấy may nhiều rủi ít. Cầu xin cho Mẹ tôi và các anh chị ở lại được bình an, cầu xin cho chúng tôi còn có ngày gặp lại gia đình, và cầu xin cho chúng tôi còn còn có ngày được đứng trước mộ phần Bà Ngoại trong ngày tảo mộ Thanh Minh. Bia mộ Bà Ngoại nhòa đi qua những giòng nước mắt chan hòa trên hai khuôn mặt…

Đó, quê hương thanh bình của tôi đó. Quê hương thanh bình đầy dãy kẻ thù xua đuổi chúng tôi phải ra đi. Chúng tôi, những con người VN cùng giòng máu Lạc Hồng, cùng dòng dõi Hùng Vương xưa. Xua đuổi đến độ chúng tôi mãi mãi không còn cơ hội được tảo mộ Bà Ngoại trong những ngày Tết nhất giỗ chạp nữa, cái nhiệm vụ thiêng liêng nhất của con cháu đối với tổ tiên. Quê hương mà ngay cả sự bình an của người đã khuất cũng không còn (bọn VC bắt phải cải táng toàn bộ nghĩa trang Bắc việt vài năm sau đó, những mộ không kịp di đã bị san bằng, ngôi Chùa nhỏ trở thành nơi cho chúng phơi quần áo bẩn thỉu khi tôi trở lại cải táng Bà tôi 4 năm sau sau đó).

Trong khối óc dù non nớt của đứa trẻ mười tuổi lúc bấy giờ, hình ảnh kẻ thù đã rất rõ. Và cũng từ những ngày tháng ấy, những ‎ nghĩ về tự do, về quê hương ly tán đã luôn luôn là một phần tâm khảm tôi. Mãi mãi trong tôi sẽ không có sự mơ hồ về bạn và thù.

Bà Ngoại ơi, hôm nay ở nơi này vào ngày Tết nhất, xa cách quê hương nghìn dặm, con xin thắp nén hương lòng này hướng về Bà Ngoại. Nguyện cầu xin Bà được mãi bình yên nơi vĩnh hằng. Cầu xin Bà Ngoại phò độ cho chúng con, nhũng đứa con cháu ly tán phương xa, cầu xin Bà phò độ cho đất nước VN để con cháu có ngày được về viếng Bà nơi một đất nước thanh bình thật sự.

Một ngày cuối tháng Chạp 2012.
Nguyễn Quang Khiêm.

2 thoughts on “Nguyễn Quang Khiêm ** Một Lần Thăm Mộ Bà Ngoại

  1. Bạn có biết những hài cốt , không có thân nhân cải táng . Đả bị di chuyển đi về đâu KHÔNG . Chào bạn

  2. Anh Nguyễn Quang Khiêm có biết ở nghĩa trang bắc việt những ngôi mộ không có thân nhân mang đi cải táng , bị VC mang đi đâu cho tôi xin thông tin . Chào Anh

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s