GIẢI MÃ HỌ VÀ TÊN CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM -(5)

GIẢI MÃ HỌ VÀ TÊN CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM -(5)

E- NHÓM VĂN HÓA HÓA HÁN:

nguoithieu so1- DÂN TỘC HOA (Hán) :
có 862.371 người ,ở nhiều nơi trong cả nước, trình độ phát triển xã hội cao. Phụ hệ :chỉ con trai mới được thừa kế. Hôn nhân “môn đăng hộ đối- cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” (xưa ) ? Tín ngưỡng :Khổng, Phật , Lão. Có bản sắc dân tộc , tính cộng đồng rất cao. Họ bên Trung Quốc có 10.000 họ, trong đó phổ cập khoảng từ 45-100 họ, riêng họ Zhang (Trương) có tới 100 triệu người (48% dân số TQ).
Ở VN người Hoa có khoảng trên 100 họ.
Nguồn gốc các họ :
-Nguyễn : thời nhà Thương có nước Nguyễn, con cháu lấy tên nước làm họ.
Nước Ngụy có nhà thơ Nguyễn Tịch.
-Họ Lê : cháu nội vua Chuyên Húc được phong ở Lê Dương, tức nước Lê, con cháu lấy tên nước là họ.
-Họ Trần : đất Trần ở Quận Dĩnh Xuyên, con cháu dòng dõi Ngu Thuấn, lấy tên nước làm họấ
-Họ Phạm : có ấp Phạm ở Quận Quỳnh Dương, người ở đấy lấy tên ấp làm họ.
-họ Vũ : con út vua Bình Vương là Hữu Văn ,thích xăm trên cánh tay chữ “Vũ”, Vua bèn ban cho họ Vũ.
-Họ Ngô : đất Ngô ở Quận Diên Lăng, Chu Vũ Vương phong cho cháu 4 đời của Trọng Ung ở đất Ngô, con cháu lấy tên đất làm họ.
-Họ Lý (cây Mận) : con cháu Cao Dao làm chức Quan Lý ở Lũng Tây, lấy chức quan làm họ, sau có Lão Tử (Lý Đam) tổ của Đạo Lão.
– Họ Khúc : đời Chu có chức quan Khúc Thị ở Quận Nhữ Nam, con cháu lấy tên chức quan làm họ.
-Họ Trịnh : con cháu vua Chu Lệ Vương được phong ở đất Trịnh – Quận Huỳnh Dương, lấy tên nước làm họ.
-Họ Hồ: nguyên họ Quy ở Quận Yên Định, một người con thứ của Trần Công Mãn lấy tên thụy (đặt khi chết) là họ.
-Họ Mạc : hậu duệ của Cao Dương Thị được phong ở đất Mạc, lấy tên đất làm họ.
-Họ Đinh : nguyên họ Khương, dòng dõi Đinh Công (tước vị) con của Tề Thái Công, lấy tên thụy làm họ.
-Họ Đặng : Vua nhà Ân phong cho Chúc Man Quý ở đất Đặng, con cháu lấy họ Đặng.
-Họ Phùng : con cháu Văn Vương hưởng Thái ấp ở đất Phùng- Quận Thủy Bình, sau lấy tên ấp làm họ.
-Họ Tưởng : con Chu Công được phong ở đất Tưởng – Quân Lạc An, lấy tên đất làm họ.
Tên người Hoa thường mẫu mực cho cách đặt tên truyền thống ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên…Về giới tính tuy không : “Văn”/nam, Nữ / “thị” như ta, nhưng cách đặt tên cũng dễ phân biệt nam/ nữ :
Nam : Chu Nguyên Chương, Hứa Trụ, Nghị Đoàn, An Văn Phát…
Nữ : Mã Tú Anh, Lư Mỹ Niệm, Phan Bích Vân, Lương Ngọc Thuyên…
Cách đặt tên của người Hoa theo công thức nhất định :
-Tên đơn (1 chữ) : Lưu Bị, Trần Nghị
-Tên đôi (2 chữ): Văn Thiên Tường, Lý Tự Thành
-Họ kép, tên đơn : Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý
-Tên 3 chữ Lô Tiểu Lập Kính, Chu Nhị Muội Ly
-Họ chồng+họ vợ :hoặc họ cha+ họ mẹ : Trần Trương Cúc Như, Vương Cáp Thục Thu.

2-DÂN TỘC SÁN DÌU :
Có 126.273 người rải rác ở các tỉnh miền núi, trung du phía bắc còn gọi là Sán Déo, Mán Quần Cộc. làm ruộng…là người sáng tác ra cái “xe quệt” do trâu kéo thay cho gồng gánh. Trang phục như người Kinh, có chữ Nôm.
Con trai mang tên đện “Á” (Tràn Á Thanh), con gái mang đệm “A” ( Trần A Lan). Quan hệ dòng họ coi trọng như người Hoa. Các họ tiêu biểu : Hoàng, Trần, Ân ,Vi, Tô, Trương, Dương, Đỗ ,Đặng, Diệp, Hà, Lưu, Leo, Phạm, Viên, Thăng, Dư, Đào, Đằng…
Hệ thống tên đêm được đặt tới 9 đời : Kính, Phượng, Thắng, Vinh,Nguyên, Thế, Văn, Trung, rồi mới lăp lại.

3-DÂN TỘC NGÁI :
Có 4841 người, sống ở Quảng Ninh, Bắc giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tp HCM, Thái Nguyên. Còn gọi là Ngái Hắc Cá, Lẩu Mẩn, Hẹ,Lê, Đàn. Sơn Ngái = miền núi.
Trồng lúa nước, đánh cá, giỏi làm Thủy lợi, làm Lò gạch, dệt chiếu…
Gia đình phụ hệ. Cưới qua 2 lần lễ thành hôn và lễ nhập phòng.
Tín ngưỡng : cúng tổ tiên, theo đạo Khổng, Phật, Lão.
Văn nghệ có hát giao duyên suốt 5-7 ngày mà không trùng lặp , múa Sư Tử
Họ & tên giống người Hoa.

*E-NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ MÃ LAI -ĐA ĐẢO
1- DÂN TỘC CHĂM ( Chiêm Thành) : đã có ở phần trên
2- DÂN TỘC CHU RU :
Có 14.978 người sống chủ yếu ở Đơn Dương ( Lâm Đồng) và có khoảng 2000 người ở Ninh Sơn (Ninh Thuận), Đức Linh (Bình Thuận). Chu Ru còn gọi là Cru = “xâm đất” (di cư từ nơi khác đến, còn gọ là :Cado, Kơ lu, Pnông Chăm, tộc người này gần với người Chăm (có thể là người Chăm ở Nam Trung Bộ lên), giỏi làm ruộng, đồ gốm, thủy lợi.
Làng gọi “plây”, theo mẫu hệ. Tín ngưỡng :thờ cúng thần linh, ở nhà không có bàn thờ, 1 năm chỉ lập 1 lần ở ngoài Nghĩa địa ( Kôt a tâu).
Đời sống văn nghệ phong phú như dạng Sử thi Đam San, Xinh Nhã…
Họ & tên : B’nahria, Crugiang,Dnơngsang, Đơ Lơng,Ya, K’Bao, Ma, M’Hơi.
Ví dụ : Manuôi Ta In (nữ).

3-DÂN TỘC Ê ĐÊ (Rhadé) : đã có ở trên

4-DÂN TỘC GIA RAI :
Có 317.557 người, chủ yếu ở Tây Nguyên,Phú Yên , Khánh Hòa.
Gia Rai có nghĩa là “thác nước”. Có 10 họ : đặt theo sự tích bà tổ Rchom (nếu đẻ ở gốc cây um tùm), Nay (gốc cổ , thụ), Rơ Ô, Siu (đẻ ở gốc cây Rsiu), Rmah (đẻ ở gốc Mãng Cầu), vợ chồng làm tình ở Rẫy đẻ ra con nên có họ là Ksor, Rahlan, Hieo (dưới bóng cây Hieo) Kpă (dưới bóng cây Kbla).
ví dụ : Ksơr Tên Kreng, Ksơr Sahôm Ta (một mắt).

5-DÂN TỘC RAGLAI (Raglei, Rai, Noang, Laoang) :
Có 96.931 người ở Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh -Bình Thuận. Ngôn ngữ, sinh hoạt giống người Chăm , theo mẫu hệ. Dòng họ : Pa Tâu (đá mài), Pi Năng (cau), Ka to (Bobo), Pupo (tro bếp), Kazá (dựa vào nhau), Camau, Copuro’, Chama le’ (dây máu) Chip, Dó, Hà dài, Ja rao, Lao, Man, Bẩu, Pateh, Phul
Ví dụ : Chamale’ Điêu, Pi Năng Tắc (nam)
Catơ Thị Cuống, Chamale’ Thị Đăm.
Tên thường gắn với con vật : Tikuh (con chuột), Anu (con dúi).

*F-NHÓM VĂN HÓA TẠNG MIẾN , hệ Hán Tạng (Tạng= Tây Tạng, Miến Điện= Myanma)

1- DÂN TỘC CỐNG :
Có 1.600 người từ Lào, Trung Quốc sang ở Lai Châu. còn gọi là Xắm khổng, Mâng Nhé, Xá Xeng. Do ở cạnh người Thái nên dùng tiếng Thái để giao tiếp, làm ruộng- nương. trồng Bông để đổi lấy quần áo của người Thái, Lào.
Các họ tiêu biểu : Chang, Chảo, Hù, Lý, Lò, Lung, Séng. Tên :Lý Hoài Sáo, Lò Văn Saư
(nam), Chang Thị Lin (nữ).

2-DÂN TỘC HÀ NHÌ (U Ní) :
Có 17.535 người ở Lai Châu, Lào Cai , làm ruộng, tự túc được mặc. Gia đình phụ quyền .Ăn : thích món cháo. làng bản đông vui, thờ cúng tổ tiên. Văn nghệ phong phú.
Đặt tên theo 12 con giáp. ví dụ :Cà Bơ là cô Bơ sinh ngày con Lợn, Ha Dé là cậu bé sinh ngày con Gà . Nam : Pờ A Vù, Chang Bố Hừ, Lỳ Ly phà
Nữ : Pờ Gò Sừ, Lỳ Thị Chom, Hù Mí Dẹ

3- DÂN TỘC LA HỦ :
Có 6.874 người, cư trú ở huyện Nậm Tè ( Lai Châu) hẻo lánh đi lại khó khăn.
Gốc gác là người Địch- Khương xưa ở Cam Túc, Tứ Xuyên -TQ, bên Trung Quốc gọi là “Côn Minh tộc”, hoặc Miên , Miến (do sử dụng bông cây Gạo-mộc miên ), ở VN gọi là Xá Pươi (Xá ở trần), Xá toong Lương ( Xá lá vàng),Khù Sung,, Cò Sung ( tiếng Thái = ở núi cao).
La= con Hổ, Hủ = cách nướng thịt ngon nhất. Sống bằng nương rẫy, hái lượm, giỏi đan lát…gia đình phụ hệ, nhà ở : tường trình hoặc nhà sàn. Phụ nữ có chửa kiêng ăn thịt Hổ.
Người La Hủ ở bên Trung Quốc có 30 vạn (1982), Thái Lan có 35.000 người, còn ở Lào, Miến Điện. Họ Ly, Vàng, Pờ, Giàng, Phùng, Ma, Sừng…song song còn có hệ thống tông tộc được gọi bằng tiếng La Hủ, thường gắn với 1 loài thú : .
Họ La Lò = Hổ, họ Pha Lạ Thó Lò= họ Sóc, Vàng Là Pa Thờ Ngác Lò (chim gõ kiến), Ly Giò Lò =họ Giàng, Ha ná Lò=họ Phù,
Trong số 14 họ thì 6 họ có tên riêng là : Thàng, Lò, Giàng, Chang, Hoàng, Ky. Còn 8 họ được mang 4 tên họ giống nhau mà chỉ khác tên đệm như : Pờ La Hủ và Pờ A Lé, Ly La Lok-Ly Pá Lạ Thộ và Ly Lỵ Cơ. Vàng Min Du và Vàng Pà Thô, Phản Xạ và Phản Thu.

4- DÂN TỘC LÔ LÔ :
Có 3.307 người ở Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai. có các tên gọi : Lu Lộc Màn, Lu Lu, Qua La, Ô man, Di nhân, Di gia, Lạc Tô. Đồng bào tự gọi mình là “Mà Trgix” hay Mu Trgif rất khó phát âm, gọi đơn giản là “Màn Di” hay Mùn Di. Là 1 trong các tộc người lập ra Nước Nam Chiếu ở Vân Nam ,từng sang xâm chiếm Giao Chỉ ( thời Nhà Đường).Kinh tế nông nghiệp khá phát triển, Gia đình phụ hệ., thờ cúng tổ tiên, học hành giỏi giang (tuy dân số ít nhưng đã có những Cử Nhân, Tiến sĩ người Lô Lô)
Dòng họ : Bàn, Cáng, Cổ,Chi, Chông, Dao, Dìu, Doãn, Duyền, Hoàng, Hồ, Lang, Làng, Lặc, Lý, Liềng, Lò, Lồ, Lù, Màn, Mèo, Nùng, Pâu, Phái, Sình, Thàng, Thào, Thổ, Vàng, Văn… Ví dụ : Lò Giàng Páo, Lầu Súng Páo, Lò Si Pao, Mùng Dỉ Đổi, Thàng Dúng Kỉnh, Vàng Dĩ Sinh, Chấn Vần Quang, Thàng Thị Kèn…

5-DÂN TỘC PHÙ LÁ :
Có 9.046 người ở Lai Châu, Sơn La, Lào cai, Hà Giang. Có các hóm : Phù Lá Lão (Xá Phó), Phù Lá Hán, Pố Khô Pà, Phù Lá Đen. Sống nghề nông, trồng bông dệt vải.
Làng gọi là “hờ” (Xá Phó), “Chải” (Phù Lá Hán- tiếng Quan Hỏa).Chế độ phụ quyền. Vị trí người vợ được coi trọng, mọi người trong gia đình khá bình đẳng.
Tín ngưỡng :thờ cúng tổ tiên, theo âm lịch như người Hán, nhưng năm mới bắt đầu từ tháng 10 hay 11 (1 năm 12 tháng theo 12 con giáp, cứ 2 năm có 1 năm nhuận).
Tiếng nói gần với tiếng Hà Nhì, Lô Lô, La Hủ, Cống và Si La.
Dòng họ : tiêu biểu là A Si, Nhơ Hê… Ví dụ : Lý Ba Dửn, Đặng Văn Lả, Nìu A Xướng, Nìu Văn Xiêm…

6- DÂN TỘC SI LA :
Có 802 người ở Mường Tè- Lai Châu…có nguồn gốc với các bộ lạc ở Côn Minh (Vân Nam) Sang Việt Nam từ 200 năm trước từ phía Lào. Tên tự gọi là” Cú Dề Xừ”, các dân tộc khác gọi là “Khả Pé”. Canh tác nương rẫy. Gia đình phụ quyền, có tục cưới 2 lần, cách nhau 1 năm. ở nhà đất. Phụ nữ đẻ “ngồi” (Thái).
Tang ma : quan tài là 1 cây gỗ độc mộc, làm nhà mồ rồi mới đào huyệt.
Dòng họ : có 5 họ là Hù, Pờ, Lì, Li, Giàng, trong đó họ Hù và Pờ chiếm số đông, mỗi họ gắn với 1 truyền thuyết : Hù gắn với Hổ cứu người; họ Pờ là thanh gươm bảo vệ làng bản.
Phân biệt trai gái bằng tên đệm: con trai đệm “chà”, con gái đệm “Có” (cô);
Ví dụ : Hù Chà Cây, …Chà Xóa,…Chà Thái (nam) Nữ như …Có Ché, Có Dớ…
(còn tiếp)…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s