Thế Lữ, ngôi sao thứ sáu của Tự lực văn đoàn

Thế Lữ,
ngôi sao thứ sáu của Tự lực văn đoàn

 

Hoàng yên Lưu

Có nhà nghiên cứu Văn học VN tiền bán thế kỷ 20 cho rằng khi thành lập Tự lực văn đoàn vào năm 1933, Nhất Linh có nghĩ tới nhóm Thất tinh (La Pleiade trong văn học Pháp thế kỷ 16 Pháp với các tài danh như Ronsard, du Bellay).

Nhóm Phong Hóa buổi đầu không có Thế Lữ mà chỉ có Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Rồi Thế Lữ lọt vào mắt xanh của Nhất Linh khi chàng trai mới vào nghề văn và cho đăng truyện Vàng và Máu trên tờ Ngọ Báo và lên Hà nội kiếm việc. Qua Tú Mỡ, Thế Lữ được giới thiệu với Nhất Linh và được Nhất Linh niềm nở đón tiếp và tạo cơ hội cho góp mặt trên tờ Phong Hóa bằng bài thơ Con người vơ vẩn đăng trên số Tết 1933. Tiếp đó ông trở thành nhà thơ đầu đàn phong trào thơ mới. Khi văn đoàn được thành lập Thế Lữ là ngôi sao thứ sáu của văn đoàn. Còn Xuân Diệu chỉ gia nhập văn đoàn sau này và bước đầu sự nghiệp cuœa tác giả Thơ thơ một phần do công cuœa Thế Lữ nâng đỡ.

Thế Lữ tên thực là Nguyễn Đình Lễ, còn có tên là Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà nội nhưng thuở nhỏ sống ở Lạng sơn với bà nội. Quê nội của ông ở xóm Tự, làng Phù đổng. Sau đây là vài nét cuộc đời của Thế Lữ:

1918 theo học chữ quốc ngữ và chữ Pháp tại trường Pháp Việt ở Ngõ Nghè, Hải phòng, 1924 đỗ bằng sơ học yếu lược, vào trường Cao đẳng tiểu học ở Hải phòng, đến năm thứ ba thành chung nghỉ học vì bệnh, sau đó có lên Hà nội dự thính tại trường Mỹ thuật. Tuy nhiên sức khỏe không đủ nên ông quay về Hải phòng dưỡng bệnh. Khỏi bệnh, được một người bạn sau này là luật sư Vũ Văn Hiền giúp đỡ lên Hà nội kiếm việc (làm thợ sửa bài cho tờ La Volonté Indochinoise) và quen biết Tú Mỡ rồi được giới thiệu với Nhất Linh.

Hoàn cảnh của Thế Lữ trước khi bước chân vào nhóm Phong hóa có nhiều áp lực (sinh 1907, cưới vợ vào tuổi 17, sinh con đầu lòng vào tuổi 22, con thứ hai vào tuổi 24, học hành dở dang, lại bị bệnh lao… và thất nghiệp) đã được ông tự giới thiệu khá chân thành trong bài thơ đầu tiên góp mặt trên thi đàn Phong hóa:

Đó là một kẻ không nơi trú ẩn
Bốn phương trời xuôi ngược bấy lâu nay
Tối ba mươi theo bước tới nơi đây

Giữa hoan lạc riêng thấy mình trơ trọi

Từ khi vào Phong Hóa và tiếp đó có chân trong Tự Lực văn đoàn, sự nghiệp “đường mây rộng thênh thênh cử bộ” của Thế Lữ gắn liền với Phong hóa và Ngày nay nói chung và nói riêng với người lãnh đạo văn đoàn là Nhất Linh. Có Nhất Linh mới có Thế Lữ nên Thế Lữcoi Nhất Linh là ân nhân. Cũng vì thế trong Mấy vần thơ, một trong những bài thơ hay nhất là bài Nhớ rừng đã được Thế Lữ đề tặng Nhất linh. Thế Lữ đã biết tâm trạng muốn phá ách nô lệ của tác giả Đoạn TuyệtĐôi Bạn nên mới tạo ra hình ảnh con hổ bị giam trong vườn bách thú “gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Còn bài Giây phút chạnh lòng cũng là cảm xúc của nhà thơ về tâm trạng của người anh cả trong Tự Lực Văn Đoàn.

Thế Lữ là cây viết đa dạng cuœa TLVĐ. Ông là nhà thơ lớn, một kịch tác gia có tài và cũng là cây viết truyện kinh dị số một cuœa nền Văn học Chữ Quốc ngữ. Nếu nhiều người còn nhớ bài Nhớ Rừng, Cây Đàn Muôn Điệu và Tiếng Sáo Thiên Thai… trong thi tập Mấy Vần Thơ thì cũng chẳng mấy ai quên những tác phẩm khiến người đọc dựng tóc gáy như Vàng và Máu, Ba Hồi Kinh Dị và Trại Bồ Tùng Linh cuœa cây viết đa năng này.

Nhớ đến Thế Lữ có một số điều không thể quên. Trước hết, ông là một con người cực kỳ mơ mộng và phong phú trí tươœng tượng ngay nơi mình ra đời cũng không biết rõ, khi thì ông nói ra đời năm 1907 ơœ Lạng sơn, khi thì baœo sinh ơœ Thái Hà ấp và sau này lại khai quán làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông lấy bút hiệu Thế Lữ chỉ là hoán đổi mẫu tự cuœa hai chữ tên thực Thứ Lễ (Nguyễn), và lấy bút hiệu Lê Ta trên báo Phong hóa cũng hàm ý ngã (ta) Lễ.

Khi cánh chim bằng Thế Lữ đã lên tới đỉnh trời cao, ông là thần tượng của thanh niên một thời.

Huy Cận kể lại vào năm 1934, nhân hội chợ Huế, ông cùng Nguyễn xuân Sanh (sau này cũng là một nhà thơ trong nhóm Xuân thu nhã tập) đã có cơ hội gặp thần tượng Thế Lữ.

Đây là chân dung tác giả Mấy vần thơ dưới mắt hai cậu học sinh thời ấy:

“Gần tết năm 1934 ở Huế có mở hội chợ gần viện Dân Biểu, bên bờ sông Hương. Có một tin làm chúng tôi náo nức, là nhà thơ Thế Lữ sẽ vào thăm hôi chợ. Lúc bấy giờ chúng tôi đã đọc các bài thơ của Thế Lữ đăng trên tờ Phong hóa và lúc đó tập Mấy vần thơ của Thế Lữ cũng vừa mới phát hành. Một bạn đọc lớp tôi đã đặt mua được một bản Mấy vần thơ giấy đẹp (giấy De Rives), giấy trắng xốp rất đẹp. Quyển Mấy vần thơ là quyển đầu tiên trong loại sách mỹ thuật của nhà xuất bản Đời Nay, do kỹ sư ấn loát Đỗ Văn trình bày, và do họa sĩ Trần Bình Lộc minh họa. Xuân Sanh và tôi suốt cả một buổi chiều đi đi lại lại trong hội chợ cốt gặp cho được Thế Lữ để chào anh, để nói với anh vài lời, tỏ lòng hâm mộ của chúng tôi. Không khí hội chợ gần tết rất phơi phới, có cái gì như xui lòng người ta rạo rực, nghĩ đến những tình duyên đẹp, những cuộc hội ngộ đằm thắm. Rồi xế chiều, Thế Lữ đi vào hội chợ, đi theo có vài người bạn. Thế Lữ lúc đó còn trẻ lắm, nhưng như anh đã nói trong một bài thơ, ‘Nỗi gian truân trên bước đường đời’ đã cho nét mặt anh có một vẻ trầm tư xa hơn cái tuổi của anh. Bọn tôi ngắm anh từ đôi mắt nhìn thẳng mà vẫn mơ mộng, đến hai bàn tay thon như bàn tay các cụ đồ ngày xưa, đến dáng đi rất nhẹ của anh với thân hình mảnh dẻ, dáng đi như lướt trên đường, không nghe tiếng chân ấn xuống đất. Chúng tôi chào Thế Lữ, không nói được gì nhiều, một phần vì chúng tôi cảm động, một phần vì anh cũng có vẻ phải đi vội. Nhưng anh cười với chúng tôi một cách rất bè bạn, tỏ ý thông cảm lòng yêu văn thơ của chúng tôi”.

Sau 1945 Thế Lữ chỉ còn là nhà biên soạn kịch và chèo bị quên lãng trong caœnh cơ hàn và bệnh hoạn nên về già phải bỏ Hà nội vào Sài gòn.

Khi công danh xán lạn ông bỏ vợ cả (bà Nguyễn thị Khương) vào 1938 để lấy cô đào trẻ (Song Kim Nguyễn thị Nghĩa) và 1977, bệnh hoạn thì bỏ người tình kịch nghệ quay về với vợ cả và con gái ở 161 đường Nguyễn Đình Chiểu, Sài gòn. Tại đây trước khi mất vào 1989 Thế Lữ xin trở lại đạo sau gần nửa thế kỷ bỏ đạo.

Cuộc đời Thế Lữ gây nhiều mâu thuẫn và vào lúc cuối đời, có người thương và không ít người trách ông.

Bản chất Thế Lữ, như Tú Mỡ kể lại là “hiền lành” và đôi chút nhút nhát. Cũng theo Tú Mỡ vào 1940 khi nhóm Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị Pháp bắt giải lên châu Vụ Bản, Hòa Bình thì Thế Lữ trốn về Hải phòng lánh nạn. Sau 1945, ông cũng là người viết tự kiểm thảo và nhìn nhận tác phẩm thơ văn của mình là thứ “văn xa thực tế, đi từ mơ màng, huyền diệu đến chán nản, trụy lạc” và không tiếc lời phê bình Nhất Linh tới mức thóa mạ một kẻ đã nâng đỡ mình trên văn đàn: “Nó nuôi cái mộng ăn trên ngồi chốc của nó trong những huyễn tưởng cải cách: lập đồn điền kiểu mới, tổ chức văn nghệ ‘từ lâm’ và phỉnh độc giả bằng những tiểu thuyết lấy ‘hành động cách mạng’ làm đề tài – nhưng là thứ ‘cách mạng’ mơ hồ, dựng trên cơ sở của một ảo mộng làm lớn. Nguyễn Tường Tam là một cái bóng ma, vừa thu mờ vừa thu nhỏ lại của tên cuồng vọng Hitler. Kích thích vì những hành động của ông thầy quốc xã của nó, nó mơ làm chính trị từ hồi viết Đoạn Tuyệt… Đường lối chính trị của nó rõ rệt nổi ở những điểm này: thỏa hiệp đầu hàng thực dân Pháp hồi làm báo; ôm chân phát xít Nhật hồi Nhật chiếm Đông dương; ôm chân quân đội Tưởng Giới Thạch hồi Cách mạng dân chủ nhân dân thắng lợi và bây giờ làm nốt cái sự nghiệp phản dân phản nước bằng cách trở về ôm chân đế quốc Pháp-Mỹ. Hiện nay núp sau lưng giặc, nó đang cố dựng lại Tự lực văn đoàn với những tên bồi bút ăn phải bả của nó”.

(Trích “Những sợi dây trói buộc tôi trên đường phục vụ cách mạng”

Tạp chí văn nghệ tháng 7, 1953)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s