Vũ Đức Sao Biển * Thơ cho người vợ trẻ

Thơ cho người vợ trẻ

Bắt đầu từ năm 1952, sau thời gian chăn dê trên núi rừng, Bùi Giáng mới thật sự rời bỏ quê nhà ra đi. Theo những gì mà tôi đã ghi nhận được từ chuyến điền dã về ba huyện Duy Xuyên, Nông Sơn và Quế Sơn để tìm theo dấu chân xưa của Bùi Giáng, ông chỉ chăn dê chứ không chăn bò hay chăn trâu. Đó là lời của những ông già bà cả kể lại. Trong thơ, ông có thể viết một cách lãng mạn “Anh lùa bò về đồi sim trái chín/ Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim” nhưng ông chưa bao giờ chăn bò! Những bài của ai viết về Bùi Giáng, nói chuyện Bùi Giáng đi chăn bò là sai lầm, võ đoán. Ấy bởi vì con bò khác hẳn con dê.

Những năm rời bỏ nhà cửa, lên núi đồi một mình chăn dê hình thành tâm thức cô đơn trong con người Bùi Giáng. Người xưa đi ở ẩn là tìm đến với thiên nhiên hoang sơ. Bùi Giáng cũng vậy. Đối diện với rừng núi, truông đèo và sông suối, con người càng cảm thấy mình nhỏ bé hơn, càng muốn co cụm lại với chính mình. Thời gian phiêu lãng đó cũng là nguồn cảm hứng bất tuyệt cho ông làm thơ sau này. Thời gian ấy quyết định gần như toàn bộ thi tứ và nội dung trong thơ Bùi Giáng. Không phải tự nhiên mà những nhan đề của các tập thơ ông đều mang theo những hình ảnh của núi rừng như Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột, Màu hoa trên ngàn…

Năm 1962, Mưa nguồn – tập thơ đầu tiên của Bùi Giáng mới ra đời tại Sài Gòn. “Mưa nguồn” hay “Chớp biển” là những từ thông dụng trong ngôn ngữ nói của người Quảng Nam. Do địa hình cấu tạo khá đặc biệt, nguồn (miền núi) và biển (đồng bằng) ở Quảng Nam không cách xa là mấy. Riêng với huyện Duy Xuyên, nguồn và biển chỉ cách nhau khoảng hai mươi lăm cây số đường chim bay. Những cơn mưa rào mùa hè và đầu mùa thu trên đất Quảng Nam thường bắt đầu với dấu hiệu sấm chớp ở phía biển rồi sau đó, mưa mới đổ xuống trên vùng nguồn. Nhà tôi ở hạ du sông Thu, giòng sông xanh biêng biếc quanh năm. Hôm nào có mưa nguồn thì ngày sau đó, nước tuôn về hạ du rất đục. Nhìn màu nước đục, tôi biết hôm qua có mưa nguồn.

Ca dao Quảng Nam có câu:

Chiều chiều, chớp biển mưa nguồn,

Sáo treo bốn bức, bậu buồn quá đi!

Sáo treo bốn bức là để cho mưa khỏi tạt vào nhà. Cô em bậu nhỏ không dám ra ngoài trời mưa, cứ ngồi trong nhà nghe tiếng mưa nên buồn là phải. Cho nên, bạn nghe một người Quảng Nam nói chuyện chớp biển hay mưa nguồn là bạn phải hiểu rằng người ấy đang nhớ quê nhà của mình.

Thơ Bùi Giáng có đủ hai tập Chớp biển và Mưa nguồn. Đặt nhan đề cho hai tập thơ như vậy có nghĩa là ông đang nhớ về quê nhà – cố quận của ông. Đọc thơ của Bùi Giáng, người ta thấy hai từ “cố quận” xuất hiện nhiều lần. Bùi Giáng làm thơ là để thỏa giấc mơ về cố quận.

Hán–Việt từ điển của cụ Đào Duy Anh giải thích: “Quận: Một đơn vị chánh quyền. Ngày xưa, người ta gọi phủ là quận”. Theo cách giải thích đó, cố quận trong thơ Bùi Giáng là quê nhà Quảng Nam của ông; là huyện Duy Xuyên nơi ông đã trưởng thành; là làng Thanh Châu nơi ông được sinh ra; là thung lũng Trung Phước nơi ông sống với người vợ thân yêu đầu đời. Cố quận còn có thể hiểu là những nơi mà gót chân du mục của Bùi Giáng đã đi qua trên núi rừng Quảng Nam – từ Trung Phước của huyện Nông Sơn đến đèo Le của huyện Quế Sơn.

Nhưng tại sao Bùi Giáng lại nhắc nhiều đến cố quận như vậy? Ấy là vì từ lúc ra đi, ông đi biền biệt, không trở về quê nhà yêu dấu ấy nữa. Ông chỉ trở về quê nhà một lần duy nhất sau năm 1975. Ông ở phương Nam, nhớ quê nhà tha thiết nhưng không muốn trở về, không dám trở về. Ấy bởi vì ông muốn tránh nỗi đau tình dành cho người vợ trẻ ngày xưa, không dám động chạm đến nỗi đau ấy trong chính trái tim của mình. Bùi Giáng chỉ dùng ký ức để phục hiện những hình ảnh thân yêu của cố quận. Chữ “cố” – xưa, để chỉ một tâm trạng luyến tiếc. Với một khối óc thông minh, cố quận hiện ra không sót một lá cây, ngọn cỏ, cành hoa, con bướm trong thi ca của ông.

Cũng như bao lứa đôi khác, Bùi Giáng đã từng có những ngày tháng hạnh phúc bên người vợ trẻ trung, xinh đẹp, nết na ở đất Quảng Nam. Bạn biết đấy, người Quảng Nam không yêu thì thôi; nếu đã yêu rồi, thì họ yêu cho đến chết; nếu đã say đắm, họ say đắm đến cùng! Cũng bình thường như bao lứa đôi khác, thỉnh thoảng tình cảm của Bùi Giáng và vợ cũng có những va chạm rất trẻ con. Họ lấy nhau khi còn quá trẻ; ông vừa mười chín và bà vừa mười tám tuổi. Ông Bùi Luân, em Bùi Giáng, nhớ lại:

“Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau ngày cưới, người vợ trẻ đã phải lặn lội từ cái thung lũng ngoạn mục nhất đó, xuôi sông Thu Bồn êm đềm với ngàn dâu xanh ngát về nhà bố mẹ chồng ở Thanh Châu cách hàng mấy chục cây số.

Trên chiếc đò bé nhỏ, chàng trai nói với người vợ trẻ:

– Nếu em không đổi ý quay về, không bỏ qua chuyện cũ thì tôi sẽ… nhảy ra khỏi đò!

Khách xuôi đò tưởng người con trai đùa dọa người vợ mảnh dẻ. Để nguyên quần áo, ngay lập tức anh đem mình gieo xuống giữa giòng sông Thu. Và bơi theo đò. Để rồi thả trôi theo giòng nước hết chỗ mấy chục cây số đó, tới tận bến nhà.

Cô con dâu đứng bên bà mẹ chồng sụt sùi:

– Anh cho con ăn toàn khoai lang và rau luộc. Anh không cho con mua cá mua thịt…”

“Chuyện cũ” ấy là chuyện gì? Thì ra, Bùi Giáng đã… đi trước thời đại. Ông hiểu một cách tuyệt đối thế nào đó về ẩm thực dưỡng sinh, nên chỉ thuận cho vợ ăn… rau cải, củ quả mà không cho phép bà ăn thịt gà, thịt bò – hai món thịt ngon nhất của vùng Trung Phước. Tôi có thể bảo đảm với các bạn rằng không có nơi nào trên đất nước Việt Nam có món thịt gà ngon như thịt gà đèo Le. Con gà làm xong, chỉ còn nặng khoảng bốn trăm gram. Thịt gà ấy xé phay hay nướng ăn muối ớt đều tuyệt. Thế nhưng, Bùi Giáng không cho vợ ăn thịt gà! Người vợ mới mười tám tuổi đã không kham nổi tính khí kỳ lạ ấy của chồng, cũng không thể ăn chay một cách đơn điệu như vậy được, phải về méc với mẹ chồng! Bà ngồi đò dọc xuôi sông Thu trong khi ông… bơi theo giòng nước chứ không thèm ngồi đò!

Bùi Giáng yêu vợ mình nhưng những cái rắc rối nho nhỏ như vậy lại khiến một anh đàn ông lãng mạn và liều mạng như ông muốn… bỏ nhà đi chơi. Cũng bình thường như bao nhiêu người đàn ông Quảng Nam lãng mạn khi đi xa vợ, Bùi Giáng có thể gặp gỡ với những người phụ nữ khác và nhận ra họ vượt trội vợ ông về một vài phương diện nào đó. Thế nhưng, tình yêu của ông dành cho người vợ khổ ở quê nhà thì rất đỗi mặn mà, vô cùng tha thiết.

Mình ơi, ta gọi bằng nhà.

Nhà ơi, ta gọi vợ ta bằng mình.

Mười năm sau cái chết của người vợ trẻ, ông phục hiện những hình ảnh yêu dấu xưa. Đó là những dấu tích của người vợ để lại – những dấu tích đáng yêu, khiến bài thơ có một không khí rất đỗi bi ai, tràn đầy hoài cảm:

Em chết bên bờ lúa.

Để lại trên lối mòn.

Một dấu chân bước của

Một bàn chân bé con!

Anh qua trời cao nguyên

Nhìn mây buồn bữa nọ.

Gió cuồng mưa khóc điên.

Trăng cuồng khuya trốn gió.

Mười năm sau xuống ruộng

Đếm lại lúa bờ liền.

Máu trong mình mòn ruỗng.

Xương trong mình rả riêng.

Anh đi về đô hội,

Ngắm phố thị mơ màng.

Anh vùi thân trong tội lỗi.

Chợt đêm nào, gió bờ nọ bay sang.

Ở đời, có được bao nhiêu nhà thơ làm thơ tặng vợ? Nhà thơ vốn lãng mạn nên căn bản họ chỉ làm thơ tặng cho người tình, người yêu. Thơ tặng vợ rất hiếm.

Tay chơi Tú Xương vốn bán trời không văn tự; đĩ bợm, cờ bạc, rượu chè nhất xứ Hà Nam cũng có lúc quay về với chân bản ngã. Ông có một bài tặng vợ có thể xem là hết sức trung thực:

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi nổi năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng.

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận.

Năm nắng mười mưa dám quản công…

Nhà thơ Vũ Hữu Định cũng có một bài tặng vợ khi vợ sinh con mà anh không có mặt bên cạnh để chăm sóc:

Lần nào em sanh nở,

Anh cũng không có nhà.

Lần này em sinh nở,

Anh đang trên đường xa…

So trong những bài thơ trên, bài thơ của Bùi Giáng viết cho vợ thi tứ thật thống thiết, tình ý tràn đầy nỗi đau xót. Ta hiểu, đó là thái độ hối lỗi với người vợ thân yêu bởi khi bà trút hơi thở sau cùng thì ông đang vân du đâu đó. Nhưng động cơ nào khiến ông để người vợ trẻ ở lại quê nhà một mình để ngao du thì không ai rõ. Điều may mắn là ông cũng kịp trở về quê nhà vĩnh biệt vợ. Thơ ông viết cho bà đột nhiên trang trọng và đầy nước mắt:

Đất hoa khóc vĩnh biệt người.

Ngàn cây cố quận đôi lời sương thu.

Sau khi an táng vợ xong, Bùi Giáng bỏ cố quận ra đi. Ra đi nhưng ông vẫn nhớ cố quận, nhớ đến thê thiết não nùng. Nhớ nhưng ông không dám trở về bởi nơi nào ở cố quận cũng nhắc nhở ông nghĩ đến tình yêu người vợ khổ của ông. Ta hình dung sự mâu thuẫn nội tâm đó đã thật sự giằng xé một cách khốc liệt và ma quái trái tim Bùi Giáng.

Ông gọi bà với nhiều tên gọi khác nhau. Đầu tiên, bà được gọi là “gái trần gian”. Những giọt nước mắt của ông khóc vợ – công khai trong đời hay âm thầm trong thơ, đều là giọt hồng lệ. Hồng lệ có nghĩa là giọt nước mắt có pha máu. Ông có thể gặp gỡ, cười đùa, tán tỉnh cả trăm người phụ nữ khác nhưng lòng ông chỉ yêu và chỉ nhớ mỗi một mình bà, đặc biệt là những khi ông còn lại một mình, đối mặt với chính tâm thức cô đơn của mình. Không có ai trên đời này bằng “gái trần gian” của ông cả. Có thể nói toàn bộ tâm trạng của Bùi Giáng trong Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột là nỗi đau tình dành cho người vợ thân yêu.

Đùa với Tuyết, giỡn với Vân.

Một mình nhớ mãi gái trần gian xa.

Sương buổi sớm, nắng chiều tà.

Trăm năm hồng lệ có là bao nhiêu?

Thứ hai, ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Tôi lấy làm tiếc khi có một vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng, cho rằng gọi ai là “con mọi” là có ý khinh khi người đó, là kỳ thị dân tộc. Không phải. Trong ngôn ngữ nói thông dụng, người Quảng Nam thương yêu người nào nho nhỏ, xinh xinh thì gọi kẻ ấy là con mọi, thằng mọi. Chữ mọi không hề hàm ý khinh bỉ, không mang màu sắc khinh thị như chữ “man” trong khái niệm man di của Hán văn mà ra. Mẹ tôi vẫn thường mắng yêu tôi là “Thằng mọi ăn trộm bánh”. Thơ Bùi Giáng gọi vợ mình “con mọi nhỏ” là thể hiện tình yêu thương đậm đà, thân mật đối với vợ vậy.

Bùi Giáng giải thích khái niệm “mọi” trong thơ mình. Bà là con người trong sáng, tinh khiết như giọt sương mùa xuân, giọt sương ban đầu khai sáng tình yêu lứa đôi trong lòng ông:

Mọi em là mọi sương xuân,

Ban sơ núi đỏ chào mừng non xanh.

Thơ ông viết cho “con mọi nhỏ” của mình tràn đầy nỗi thương xót và tình yêu dấu:

Rồi rốt cuộc, em vui cười như thể,

Những tình yêu thương nhớ đã phục hồi.

Tờ giấy mỏng anh tô bồi hồng lệ

Gởi cho em tình mộng đất xa trời.

Giờ ly biệt, ta xin em đừng khóc.

Nào phải không? Lệ chảy có vui gì?

Trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc.

Nước xuôi giòng, ngàn thu hận ra đi.

Mỗi khi Bùi Giáng nhắc đến cố quận là ông nhớ đến người vợ thân yêu. Thơ viết cho người vợ thân yêu – con mọi nhỏ giữa núi rừng Trung Việt, càng lúc càng đậm đà niềm thương yêu trìu mến. Sống trên một miền đất mang nặng dấu ấn của văn minh lúa nước Ấn Độ giáo, người Quảng Nam tôn thờ, ca ngợi Huyền tẫn –nguyên lý Mẹ của triết học phương Đông. Người Quảng Nam đặt tên cho giòng sông lớn nhất của tỉnh mình là sông Thu Bồn. Thu Bồn – tiếng Chămpa, là tên một cô gái bản địa mới mười lăm tuổi, đã có tấm lòng hy sinh, bảo bọc, chở che người dân sống hai bên giòng sông. Dù cô gái đó chết đi khi còn đồng trinh, người Quảng Nam vẫn xưng tụng là Bà Thu Bồn – người mẹ của xứ sở. Sông Thu Bồn có nghĩa là Sông Mẹ. Lễ hội phụng thị Bà Thu Bồn diễn ra vào mùa xuân hằng năm trên đất Duy Xuyên cho ta biết người Quảng Nam tôn trọng nguyên lý Huyền tẫn đến chừng nào.

Văn minh lúa nước phương Đông ấy đã đi sâu vào trong tâm thức Bùi Giáng. Cũng dễ hiểu tôi, quê nhà ông ở kế cận khu đền tháp Mỹ Sơn – biểu trưng của văn hóa Ấn Độ giáo, của văn minh lúa nước phương Đông. Ông lớn lên là đã thấy cả ngàn Apsara xinh đẹp nhảy múa trên tháp cổ; thấy Linga và Yoni được tạc bằng sa thạch giao phối. Ông lớn lên bên giòng sông Thu, uống nước sông Thu, tắm nước sông Thu. Cho nên nguyên lý Huyền tẫn thấm vào máu thịt của ông. Ông phong tặng người vợ của mình – con mọi nhỏ, lên thành mẹ của giang san:

Em thành Mẹ của giang san,

Em là thần nữ đoạn trường chở che.

Thơ ông càng lúc càng trang trọng khi viết về người vợ, viết cho người vợ. Tất cả cái mẫu tính dịu dàng, hồn nhiên, tươi đẹp, đôn hậu toát lên từ con người của bà Bùi Giáng khiến ông cảm phục vợ. Từ một con người cụ thể, mảnh mai, bà qua đời và vụt trở thành hình tượng cao quí nhất trong lòng ông, trong thơ ông:

Em thuyền quyên ban mưa móc xum xuê.

Em rắc gieo khắp xứ sở bốn bề.

Suốt địa hạt tình quê hương ba ngõ.

Anh quỳ xuống gọi em: Em mọi nhỏ.

Ở lại giữa quê nhà, có được những tháng ngày lang thang giữ dê đọc sách là một hạnh phúc. Thế nhưng trong khung cảnh ấy, ông nhìn nơi đâu cũng có bóng dáng, hình ảnh của “em mọi nhỏ” hiện ra. Hình ảnh ấy càng hiện ra thì trái tim Bùi Giáng còn phải hứng chịu nỗi đau tình khôn tả. Chính vì vậy, ông chọn sự ra đi:

Sẽ đi cùng bước chân mùa.

Bóng vang sầu cũ tháp chùa rộng thênh.

Hào hoa bỏ lại bên mình.

Lá thiên thu đẹp làm thinh bên đường.

Thế nhưng, ra đi không phải là quên được. Cái vang bóng về cố quận, về hình tượng người vợ cứ còn mãi đó trong lòng ông. Tập Mưa nguồn có thể xem là tập thơ viết về cố quận, viết cho vợ. Tập thơ thể hiện gần như trọn vẹn tài hoa thi ca của Bùi Giáng – lúc này mới ngoài ba mươi tuổi, vẫn còn là anh niên Bùi thi sĩ. Thơ ông thật tuyệt vời; thi ảnh lung linh, thi tứ tràn trề niềm cảm xúc, dịu dàng và lãng mạn bay bổng như khúc Roman trong âm nhạc piano cổ điển:

Em về mấy thế kỷ sau,

Nhìn trăng có nhớ nguyên màu ấy không?

Ta đi, gởi lại đôi dòng,

Lá rơi có dội vào trong sương mù?

Lắm khi ở phương xa, ông nhớ cố quận. Trí tưởng tượng phong phú đưa ông trở về với cố quận, đối thoại với bà về cuộc sống đoàn viên, ước mơ hạnh phúc. Thế nhưng, còn gì nữa đâu giữa nguồn xưa hư vô. Thơ Bùi Giáng đau cái nỗi đau nát ngọc tan vàng:

Anh cứ ngỡ đùa vui trong tí chút,

Đâu có ngờ đùa mãi đến điêu linh.

Mà đời ông, sau cái chết của bà, trở thành điêu linh thật. Tôi đọc Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Kim Dung, thấy ông tả tướng mạo của chưởng môn phái Hành Sơn Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh “tướng mạo vô cùng điêu linh cổ quái”. Ngày sau, gặp Bùi Giáng lần đầu, tôi cứ nghĩ ông là hiện thân của Mạc Đại tiên sinh; cũng “Cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm” – trong cây đàn giấu thanh kiếm, kiếm múa lên lại phát ra tiếng đàn.

Bờ mây trắng dựng cuối trời bóng dáng,

Của ban sơ hoài vọng giữa nhân gian.

Lòng vạn vật mơ màng chiều qua sáng.

Em về nhanh cho mây trắng buông màn.

…Đời xiêu đổ, nguồn xưa anh trở lại.

Giữa hư vô, em giữ nhé, ngần này.

Tội nghiệp, qua mấy mươi năm, hình ảnh người vợ trẻ, hiền ngoan ấy vẫn sống trong lòng ông. Ông uống trà giữa Sài Gòn mà hình ảnh của bà ngày xưa ở Quảng Nam như hiển hiện ra trước mắt.

Trung niên thi sĩ uống trà,

Thưa em mọi nhỏ, em đà uống chưa?

Bỗng dưng trận nhớ về trưa

Nhớ chiều sương núi chớm vừa trở cơn.

Sắt se giết chết cung đờn,

Nhận chìm cung bậc vang hồn thưa em.

Một nửa cuộc đời ông, một nửa trái tim ông dành để nhớ bà. Đáng yêu thay hình tượng người phụ nữ Quảng Nam trong thơ Bùi Giáng:

Bây giờ, đối diện riêng tôi.
Còn hai con mắt, khóc người một con.

Bùi Giáng thật đa tình nhưng cũng thật chung thủy.

Vũ Đức Sao Biển

1 thought on “Vũ Đức Sao Biển * Thơ cho người vợ trẻ

  1. Cam on Tac Gia Vu Duc Sao Bien da cho toi biet duoc mot khia canh khac cua Bui Giang , xua gio toi toan nghe Bui Giang ca ngoi nghe si Kim Cuong thoi , chu khong ngo Bui Giang cung yeu vo hon ai het !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s