Tôn thất Hùng * Canh Bún và Người Di Tản

Canh Bún và Người Di Tản.

Tác giả: Tôn thất Hùng 

 Bài đăng trên Đặc San Thường Niên Tết 2012 – Hội Người Việt Toronto, ON, CANADA

 

Tôn Thất Hùng

Sống ở hải ngoại, có những món ăn chúng ta không thể tìm đâu ra, hoặc nếu có cũng không thể mang hương vị thuần túy giống như ở quê nhà, đó là món Canh Bún. Canh Bún rất hiếm hoi hiện diện tại các quán ăn ở hải ngoại, nếu có cũng không được ngon. Ở Bắc Mỹ không có mắm tôm để nấu. Canh Bún mà phải nấu bằng mắm ruốt (dịch ra tiếng Anh là Shrimp Paste) thì thật là lạc điệu vô cùng. Từ Canada, khi về đến Sài Gòn, muốn ăn món này cho ngon, tôi phải ra các khu chợ nhỏ và tránh các nhà hàng lớn sang trọng. Với người dân Sài Gòn, họ mặc nhiên công nhận đây là món ăn miền Bắc và tôi cũng tin tưởng tuyệt đối điều này không một chút băn khoăn. Nhưng một ngày kia, khi tôi ra miền Bắc, ăn dầm ở dề tại khu phố cổ 36 phố phường Hà Nội thì tôi bỗng băn khoăn….

Tôi băn khoăn, bởi vì mặc dù ở Hà Nội có nhiều hàng quà bánh, nhưng tôi đã đi lên, đi xuống, ngang dọc khắp các con đường của khu phố cổ, vào các hàng quà từ nhỏ cho đến các nhà hàng lớn sang trọng, tuyệt nhiên có một món ăn mà tôi không thể tìm thấy, đó là món Canh Bún. Tôi hỏi thăm nhiều người, không ai biết tôi đang nói cái gì, họ lắc đầu, họ bảo ở đây không có bán. Tôi có thể quả quyết, cho đến thời điểm hiện nay khi tôi ngồi gõ máy bài viết này, không một nơi nào ở Hà Nội có bán món Canh Bún cả.

Ít hôm sau, trong dịp ngồi uống nước chè ở vỉa hè Hà Nội, phì phèo điếu thuốc “ba số” với những người bạn cũ – mới, tôi đã hỏi một anh hướng dẫn viên du lịch, anh này nghe nói tốt nghiệp đại học ngành văn hóa tại miền Bắc, rằng tại sao ở đây tôi không tìm ra món Canh Bún. Anh ta nhìn tôi với cặp mắt tinh nghịch, lạ lẫm rồi thốt ra một câu khẳng định: “Canh Bún là món của trong Nam anh Hùng à”. Nghe vậy tôi làm thinh vì mình không nói giọng Bắc, không là gốc Bắc, không biết gì nhiều để tranh cãi trong câu chuyện trà dư này, nên thôi, đổi đề tài…Tuy nhiên tôi rất ấm ức để rồi quay vào Sài Gòn, mỗi ngày tôi lại ăn một tô Canh Bún từ một bà Bắc chít khăn mỏ quạ ở trong khu nhà lồng, chợ Phú Nhuận…

Trở về Canada tôi đã vào FaceBook để hỏi ý kiến của những bạn bè trong website xã hội này. Đã có hơn 100 ý kiến trao đổi qua lại về nguồn gốc của Canh Bún. Những người bạn gốc Bắc mà gia đình họ đã ở lại sau khi chia đôi đất nước hồi 1954, đều không biết Canh Bún là món gì cả. Họ yêu cầu tôi diễn tả và rồi họ đồng loạt trả lời món này không phải món ăn miền Bắc. Kế đến là những người gốc Bắc nhưng gia đình di cư vào Nam 1954 thì họ ngờ ngợ, bởi vì họ có ăn, nếu không nói là ăn khá nhiều trong gia đình, nhưng tuổi họ quá trẻ để xác định giúp tôi đây có phải là món ăn thuần túy của miền Bắc hay không. Những bạn gốc Nam và gốc Trung lại phán những câu đại loại như: “Tui nghĩ đây là món của người Bắc di cư chế ra thôi, vì ở những vùng nông thôn Nam Bộ, tôm, cua, cá đầy đồng, có sẵn ngay cái ao trước nhà, sau nhà, cứ đó mà chế hết món này tới món khác”…

Bốn ngày sau khi tôi đưa đề tài này, không một câu trả lời nào nghe đủ sức thuyết phục cả, mặc dù những người bạn góp ý cho đề tài này, khá đông trong họ tốt nghiệp các ngành về lịch sử, văn hóa, sư phạm, nhân văn… Thôi thì tôi đành một mình đi tìm nguồn gốc của món Canh Bún vậy.

Nơi đầu tiên là tôi chọn các thư viện cộng đồng gần nhà, rồi vào thư viện các trường đại học và các thư viện online, tôi đã lục tung các tủ sách về văn hóa Việt Nam. Tôi tìm thấy một website chuyên về văn hóa-du lịch-ẩm thực từ trong nước đã viết: “Cũng tương tự như bún riêu nhưng canh bún dùng sợi bún to hơn và dùng rau muống luộc, thay vì đủ loại rau sống ăn kèm như bún riêu. Vì thế mà tuy nước lèo có thể dùng chung nhưng canh bún có vị khác hẳn món bún riêu quen thuộc. Không hiểu món ăn vừa quen vừa lạ này là món Bắc hay món Nam.”

Tôi lại tiếp tục truy tìm và đã reo to thích thú khi tìm ra hai tài liệu quan trọng nói về nguồn gốc của món Canh Bún này.

Cuốn thứ nhất là “Miếng Ngon Hà Nội “của tác giả Vũ Bằng, một người Hà Nội gốc trước 1945, tác giả cuốn sách này đã ở lại miền Bắc sau 1954, ông đã viết: “…cũng làm với thứ bún to sợi đó, còn quà canh bún nữa, cũng nấu với cua đồng, nhưng thêm mấy món rau rút ăn mát và làm tăng cái vị ngọt của chất cua đồng lên bội phần. Nhưng đây là một cái ngọt chất phát của đồng ruộng, một cái ngọt thật thanh, một cái ngọt khác hẳn cái ngọt của bún bung hơi ngậy…” (trang 138). Trong cuốn sách, tác giả Vũ Bằng đã liệt kê những món ngon tại Hà Nội trong ký ức tuổi thơ của ông trước 1945, như vậy, theo như những gì được viết ra, món Canh Bún không thể do người Bắc di cư vào Nam sau 1954 “chế” ra được…

Cuốn thứ hai là cuốn “Hà Nội Ba Sáu Phố Phường” của Thạch Lam, một nhà văn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn có nói: “Canh bún thì cao hơn một bậc vì có rau cần, sánh và gắt, và nhất là có cá rô con, lạng từng miếng một, cũng có nơi nấu với cải, nhưng không ngon bằng. Thịt rô ấy đem lại cho thức ăn một vị đậm ngọt khác thường, không hiền lành, bởi vì chỉ ngon trong một độ nào đó, khiến người ăn có cảm tưởng đi gần một vị ghê lợm ở đầu này và ở đầu kia, và bởi thế, càng khiến cho thức quà ngon hơn, có cái ngon của sự chênh vênh và lo sợ…Thực vậy; canh bún để nguội thì tanh mà đun già nóng quá thì nồng ruỗng. Ấy chỉ lúc nóng vừa đổ miệng, ăn phải xuýt xoa. Và người ta cho hồ tiêu vào, để thêm cái cay nóng có mực thước…”

Dựa vào ba tài liệu tìm được, một tài liệu được viết bởi kẻ hậu sinh, không biết tác giả là người Bắc hay người Nam, chỉ biết đang sống trong nước, có thể xem là thế hệ thứ hai, thứ ba sau khi đất nước bị chia đôi hồi 1954. Tác giả của website ấy đã bỏ lửng và xem như bế tắc trong phần nói về xuất xứ món ăn này. Hai tài liệu sau mà tôi tìm ra trong thư viện được viết bởi hai người Hà Nội gốc, đã xác định đây là món ăn chính tông của miền Bắc Việt Nam.

Như tôi đã trình bày ở trên, tại Hà Nội ngày nay, không nơi nào bán Canh Bún, có thể nói, hai món này đã bị thất truyền ngay tại nơi đã phát sinh ra nó, nhưng đã theo chân đoàn người di cư vào Nam để trở thành những món ngon, rẻ tiền, khoái khẩu ở các ngôi chợ địa phương và xuất hiện trong từng bếp ăn của các gia đình gốc Bắc Kỳ lẫn Nam Kỳ rặt. Chi tiết này tôi rất thích thú bởi vì nếu có thời gian, bất cứ một nhà nghiên cứu văn hóa nào cũng có thể phát triển thành một luận án nghiên cứu rộng hơn, nói về những hoài mong quê nhà, cũng như tinh thần bảo vệ văn hóa của các sắc dân lưu vong, ở đây không chỉ là người Việt, mà tất cả các dân tộc khác khi phải lưu vong ra khỏi quê cha đất tổ của họ. Người di dân luôn luôn sợ mất gốc, họ có khuynh hướng bảo tồn, đôi khi rất bảo thủ với những thay đổi. Chính vì rất bảo thủ trong văn hóa, họ lại là những người bảo tồn văn hóa hữu hiệu hơn hết cả. Chúng ta nhìn sang các nền văn hóa lưu vong khác trên thế giới, có thể thấy hiện tượng “bảo thủ là bảo tồn” ở đảo quốc Đài Loan tại Châu Á hoặc ở tỉnh Quebec tại Canada. Với Đài Loan, chính phủ và người dân hiện nay có thể tự hào họ đang sử dụng ngôn ngữ Trung Hoa chính thống và cổ điển, rằng họ dùng chữ Hán của tiền nhân chứ không là chữ Bạch Thoại mà nhà nước Trung Cộng bắt dân chúng ở Trung Quốc phải học và dùng sau này. Với người Québécois ở tỉnh Quebec thuộc nước Canada, họ nói tiếng Pháp cổ, ngôn ngữ mà tổ tiên họ đã đem đến Canada từ thế kỷ XVI. Trong thập niên 1960, ở đây đã có phong trào sửa giọng và viết tiếng Pháp cho thật giống các ông Tây, bà Đầm bên Paris, nhưng chỉ một khoảng thời gian ngắn sau đó đã bị các nhà văn hóa và giáo dục phản đối dữ dội. Theo họ, văn hóa và ngôn ngữ ở đây do những người Pháp lưu vong đem qua Canada, cộng với những hoàn cảnh chính trị và xã hội của vùng đất mới đã biến thành ra một ngôn ngữ Québécois, một loại French-Canadian không đâu có được. Văn hóa và ngôn ngữ Québécois có từ 500 năm trước, rất riêng biệt và đặc thù, do đó cần phải được bảo tồn. Kể từ thập niên 1970, các trường tiểu học đã dạy cho học sinh phát âm và viết văn theo kiểu Québécois, là một thứ tiếng Pháp cổ của người Pháp lưu vong tại Canada.

Trở về với ngôn ngữ Việt Nam, tất cả chúng ta đều không thể phủ nhận là cách hành văn của báo chí tại hải ngoại khác với báo chí trong nước. Qua đó, chúng ta có thể thấy được những dằn co văn hóa và khác biệt ngôn ngữ giữa một bên là cộng đồng lưu vong và một bên là cộng đồng đang sinh sống tại quê nhà. Đ ây là điều đương nhiên phải xảy ra nếu nhìn sự việc một cách khách quan trên phương diện di cư, hội nhập trong xã hội học.

Ngôn ngữ biến đổi liên tục ở bất cứ nơi đâu, quốc gia nào. Các nhà làm tự điển như Oxford, Webster, Larousse cũng phải cập nhật hóa tài liệu của họ sau mỗi năm năm. Với cộng đồng Việt Nam, chúng ta lưu vong tại hải ngoại cũng đã 37 năm, chắc chắn đã có rất nhiều khác biệt trong ngôn từ sử dụng so với trong nước. Chúng ta luôn cố gắng giữ gìn tiếng Việt cho các em nhỏ thế hệ thứ hai, thứ ba bằng một ngôn ngữ mà cộng đồng chúng ta đã đem theo khi rời quê hương, khởi đầu từ năm 1975. Tiếng Việt của chúng ta như dừng lại ở những kỷ niệm cùng một văn hóa cồ truyền. Trong khi đó, tiếng Việt ngay bên trong nước Việt Nam đang thay đổi từng ngày, có thể nói từ năm 1975 tính cho đến nay, có cả ngàn từ ngữ mới và cách nói chuyện, hành văn mới đã được phát sinh ra từ trong cuộc sống tại Việt Nam.

Xin mở ngoặc nói một chút về khả năng tiếng Việt của “thế hệ một rưỡi” chúng tôi. Văn chương và chữ nghĩa tiếng mẹ đẻ mà tôi đã học được, hầu như chín mươi phần trăm là từ các sách báo do gia đình dấu được sau năm 1975, hoặc do chính tôi nhịn tiền ăn quà sáng để mua. Thời đó người ta buôn bán lén lút sách quý ở các vỉa hè. Khi định cư ở Canada trong độ tuổi thiếu niên, tôi lại tiếp tục nghiền ngẫm và hoàn thiện tiếng Việt của mình từ kho tàng sách vở có rất nhiều trong các thư viện, trong các hiệu sách báo của đồng hương ở Bắc Mỹ. Những lúc tôi đi qua California, nơi thủ phủ của cộng đồng tỵ nạn, là tôi luôn rinh về cả valise sách. Giờ đây tôi không phải đọc lén lút như trước, tuổi đời tạm xem chín chắn hơn để có thể đọc và hiểu sâu sắc những tác phẩm có giá trị. Tôi ủng hộ sự duy trì một tiếng Việt theo “kiểu hải ngoại” giống như người gốc Pháp tại tỉnh Quebec muốn bảo tồn ngôn ngữ Québécois vậy – họ không có nhu cầu phải chạy theo sự thay đổi của tiếng Pháp hiện đại bên trời Âu. Với chúng ta, đây không hẳn chỉ là tiếng Việt “kiểu hải ngoại”, mà chúng ta đang bảo tồn một tiếng Việt cổ, một tiếng Việt xưa không thay đổi so với tiếng Việt đang biến hóa từng ngày bên trong nước Việt Nam. Một điều duy nhất tôi mong các vị trưởng thượng hãy rộng lượng, đừng quá khắc khe và nặng lời trong phê phán khi tuổi trẻ chúng tôi, vì tiếp xúc với nhiều nguồn sách báo (hải ngoại lẫn trong nước), đôi khi chúng tôi vẫn bị lẫn lộn và sử dụng những từ ngữ mới mà trong nước hiện đang dùng rất phổ biến.

Trong một mơ ước và tin tưởng, tôi tin Tiếng Việt ở hải ngoại vẫn mãi là tiếng Việt xưa kiêu kỳ của những Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng, Tú Mỡ, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyễn Bính… ở miền Bắc, hay Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc… ở trong Nam, xin mạo muội so sánh, “Tiếng Việt hải ngoại” sẽ luôn luôn tồn tại tựa như tô Canh Bún đơn giản, hiền lành đã đi theo đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, đã nuôi dưỡng tâm hồn và tự hào của hai, ba thế hệ gốc Bắc sau này ở đất phương Nam nắng ấm, cho dù ở Hà Nội hiện nay, người ta, hoặc ít ra những người trẻ tôi gặp, đã không còn biết, còn nhớ Canh Bún là món gì nữa.

Tôn thất Hùng

2 thoughts on “Tôn thất Hùng * Canh Bún và Người Di Tản

  1. Kính chào ông Tôn Thất Tùng,
    Nêu ông mở một “canh bún´s club”, thì tôi sẽ là một trong những người đầu tiên xin làm hội viên.
    Tôi nhớ mãi những buổi trưa chờ má tôi thiu thiu ngủ tôi trốn bà chạy thiệt lẹ ra chợ Dakao ăn một tô canh bún. Người nấu là một Bà người Bắc chắc nghèo lắm nên chỗ bán nghèo nàn ở đầu chợ, nhưng Bà thiệt là hiền lành, dễ thương,
    Để làm tăng thêm “giá trị” của tô canh bún, tôi kể ông nghe chuyện nầy : Vì là lén má ra ăn ngoài chợ, tôi rất sợ má tôi biết thì phiền lắm. Một bữa, tôi tới, thấy có sẵn một người ngồi đó, đội nón lá, cúi đầu ăn, rõ ràng là muốn dấu mặt. Lúc đó tôi còn con nít nên ngu lắm, không hiểu dùm cho người ta muốn ăn “kín đáo” (cũng như tôi thôi). Tôi tò mò chờ coi cho đưọc là ai (chắc để chia xẽ thú ăn canh bún). Thì ra là bà bác sĩ hàng xóm. Tôi hết hồn năn nỉ bà : “Bác đừng méc má con nghen Bác”, Bà cười đau khổ: “Bác méc hoá ra Bác cũng ngồi đây ăn à!”. Bà là người rất giàu có, đàng hoàng tư cách. Bởi vậy tôi kể ông nghe như thêm một chứng minh cho giá trị của tô canh bún. Đừng cười tôi coi nặng vật chất hay địa vị khi tôi kể chi tiết “bác sĩ, giàu có, đàng hoàng tư cách”. Tôi chỉ muốn cho ông vui khi thấy sức hấp dẫn của tô canh bún của ông.
    Chúc ông thường xuyên được thưởng thức lại tô canh bún đậm đà mùi vị quê hưnơg, điều mà không bao giờ tôi có đươc ờ cái đất Danmark xa xôi lạnh lẽo nầy.

  2. Thật xúc động khi đọc bài viết.
    Có phải vì xa quê, nên ta vẫn giữ được hồn quê?
    Không là người miền Bắc, nhưng tôi đươc biết đến món canh bún trong những năm thơ dại sống ở Saigon. Món ăn quê nghèo, đơn sơ, mộc mac nằm trong một chợ nhỏ…
    Những cọng bún trắng ngần lớn hơn bình thường trong nước riêu cua, thoảng mùi mắm tôm, và phủ lên là những cọng rau muống xanh mướt. Giản dị, nhưng chan chứa ân tình. Ở đó là hình ảnh bà cụ bán hàng người Bắc, mời chào trong chiếc áo nâu…
    Theo bạn bè bé con, tôi đã từng ngồi xuống xì xà, xì xụp trong tiết trời mùa đông se lạnh…
    Đã mấy mươi năm…nước chảy qua cầu.
    Cám ơn tác giả đã cho tôi sống lại một lần với hương xưa trong ký ức.

    Từ Washington DC.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s