Truyện ngắn Khải Nguyên * Nắng Mưa Sàigòn

NẮNG MƯA SÀIGÒN
Truyện ngắn Khải Nguyên

Ngày nọ, chạy vào trú mưa trong một quán giải khát tại thành phố Hồ Chí Minh tôi gặp lại một Việt kiều mà tôi có dịp quen khi qua thủ đô một nước Tây Âu. Người ta nói mưa Sài Gòn không dai, không dầm dề, song trận mưa hôm đó kéo dài hàng giờ. Trời xuống lạnh, bên tách cà phê, câu chuyện dễ thân tình hơn. Ông hỏi tôi: – Ông ở Hải Phòng có biết thi sĩ Văn Nghĩa không?
Tôi nói: – Bạn tôi có người mang tên như vậy nhưng không thấy làm thơ.
– Thơ của người này được nói tới từ hồi 1954 kia.
Ông mở một cuốn sách lấy từ túi xách ra chỉ một trang và trao cho tôi. Đó là cuốn hồi kí của một tác giả Việt hải ngoại. Tôi đọc đoạn tả Văn Nghĩa: “Nó lùn tì. Cặp mắt ti hí giống hai sợi chỉ đen, người ta chỉ thấy lông mày, thiếu hẳn lông mi. Trán nó thấp như trán tôi. Miệng nó nhỏ xíu”. Tôi nói: – Không phải rồi. Ông bạn tôi vốn miệng rộng, trán cao, mắt sáng. Về già, mắt người ta thường hẹp bớt đi, song mắt ông bạn tôi vẫn đàng hoàng. Có đâu như người tả đây!
Ông ta nói: – Cũng chưa thể nói chắc. Cái tài mà cũng là cái đểu, xin lỗi, cái thâm của tay nhà văn này là kể toàn tên thật, địa điểm thật, chuyện thật nhưng chi tiết thì làm ra như thật với nội dung đầy dụng ý. Có khi chỉ thêm bớt hoặc thay đổi dăm ba chữ. Có khi “sáng tác” ra cả những khúc bi hài. Không ít người Việt li hương bị nêu huỵch toẹt tên tuổi, nhân thân với những “sự cố” kiểu như vậy mà không kiện được. Ai xử? Mà xử làm sao!
Tò mò, tôi lần giở đọc những trang có dính dáng đến Văn Nghĩa. Tên người con gái trong sách đúng là tên người yêu đầu của ông bạn tôi, đúng tên, đúng họ – một cái họ khá hiếm trên đất nước Việt Nam. Có một chuyện tình xẩy ra bắt đầu tại “chuồng cu Nhà Hát Tây Sài Gòn” nơi chứa chấp tạm một số người Bắc di cư vào, năm 1954. Tác giả cuốn hồi kí khi ấy là một chàng trai đi một mình được xếp ở vào góc bên phải chuồng cu chung với nhiều người trong đó có gia đình cô gái. Hàng ngày, anh ta được hai lần “nhìn em cuộn tròn trong tấm chiếu dựng đứng thay quần áo” (Chắc anh ta định viết: “nhìn em thay quần áo trong tấm chiếu cuộn tròn dựng đứng”) chuẩn bị xuống phố. Cô thò đầu ra nhìn anh ta cười bằng mắt. Anh ta “ngây ngất nhìn mắt em” và “chỉ sợ em cắn cái mép chiếu không chặt, nó bung ra thì vỡ nợ”. Hai chị của cô gái tỏ ra ưu ái anh ta. Chàng trai hút tình cô gái bằng vẻ phớt-đời-văn-nghệ-sĩ, mập mờ để cô tưởng anh ta là văn nghệ sĩ thứ thiệt. Mãi sau này, anh ta mới có tên trong làng văn sĩ, nhạc sĩ, như chính anh ta cho biết. “Quen nhau mười ngày, yêu nhau tám ngày” cả nhà cô ta dọn về một xóm xa trung tâm thành phố. Tác giả kể lại chuyện yêu của mình bằng một giọng tưng tửng chêm lời văn cô hồn của dân chơi lẫn dân chợ búa. Khó mà bảo đó là tình yêu kiểu gì khi đọc những câu của chính người trong cuộc, đại loại như “Em gái nức nở chán chê thì bèn thỏ thẻ”, hoặc “Em yêu dấu, em sái nhất của anh” (bởi anh ta là kẻ đến sau), hoặc nữa “Thơ văn cóc nhái được trả nhuận bút hôn thì cũng lời to rồi”. Anh ta sánh nổi khổ của người tình với “nỗi khổ thấy ông cố nội”, “nỗi khổ thấy con đĩ mẹ”, v.v… Còn rất nhiều ngôn từ và câu văn “tuyệt cú” hơn thế nữa kia. Văn Nghĩa từ Hải Phòng vào Sài Gòn tìm người yêu, cô nàng bèn đến chỗ tân-tình-lang thú thật trước đấy mình dại mà đi yêu một người ngoài Bắc, nay anh ta vào đây thế nào cũng tìm gặp đối thủ. Cô nàng năn nỉ: “Gặp nó, anh hãy chứng tỏ anh hơn nó nhé, hoàng tử của lòng em!”. Hoàng tử được mái xùy chuẩn bị nghênh tình địch bằng cách cho ba tay đệ tử, kẻ có dáng lực sĩ, kẻ làm mặt cô hồn, kẻ ra vẻ cớm, “lảng vảng bên ngoài để bảo đảm hội nghị tình yêu”. Người viết hồi kí “cam đoan miêu tả nó chính xác” và đã tả “nó” như đã nói trên kia. Trong lời kể, anh ta luôn luôn gọi đối phương là “nó”, nhưng cũng cho thấy “nó” rất lịch sự, niềm nở, ăn nói và xử sự có văn hoá; trong khi anh ta cứ nói cộc lốc, vừa trịch thượng, vừa “anh chị”. Đúng bốn mẩu cụt ngủn: “Phải, Long dao cầu (đây)!”, “Thế hả.”, “Dài không?”, “Nói đi!”, và một câu an ủi ban cho vì mủi lòng: “Anh sẽ trở thành thi sĩ bất hủ”. Văn Nghĩa chân thành nhận mình kém thớ hơn; địch thủ của mình đẹp trai hơn, tài hoa hơn; chấp nhận mình bị bỏ rơi, đọc hai câu thơ Nguyễn Bính: “Một trăm con gái thời nay ấy / Đừng nói ân tình với thủy chung” và cảnh báo: nàng “đã phản bội, sẽ phản bội”, sau đó nhờ chuyển cho người yêu cũ một phong bì lớn, rồi ra đi, biệt tăm tích luôn. Tác giả tự đánh giá mình “không xứng đáng là tình địch của thi sĩ Nghĩa. Chàng hơn tôi mọi mặt”. Thật ra mọi kiểu tung Văn Nghĩa lên lúc này chẳng qua là những ngón phù phép có tay nghề, điều chẳng mấy khó để nhận ra. Anh ta lén mở phong thư nhờ chuyển lôi ra một tập thơ mỏng mà Văn Nghĩa đề tặng: “Cho em nốt những bài thơ anh chưa kịp cho em, vì còn tiếc nuối giữ lại. Hãy cất kĩ bản thảo này, ngoài em anh cũng chẳng còn. Khi em chết, nhớ mang theo…”. Đọc trộm tập thơ ấy, tác giả thấy “xa xẩm mặt mày” vì “tuyệt diệu” quá. (Bốn câu trích in chẳng xứng với những lời tâng bốc kia, bởi đó chỉ là những câu mòn và sáo của các cậu trai mới vỡ giọng đang tập làm thơ yêu). Để chứng tỏ “anh Long trìu mến của em” hơn đứt “nó”, tác giả quyết tâm không nhận vơ nữa, không làm nghệ sĩ giả vờ nữa. Anh ta quyết “lấy sợi dây thừng thi ca buộc chân” người tình vừa giành được. Với những “tuyên ngôn” có mùi “bụi”, người hùng dễ lên ngôi trong mắt độc giả, trước hết là lớp trẻ, đại loại “tôi cầm dao thọc cổ văn học sử Việt Nam chảy máu ròng ròng…”.
Tôi hỏi người đối thoại:
– Tác giả quyển này cũng có tên tuổi đấy nhỉ? – Tôi nói vậy khi nhìn những trang giới thiệu cuối sách.
– Có tên tuổi trên các trang quảng cáo cũng dễ thôi. Sách của nhà văn này cũng bán được. Nhất là vào thời kì mà người Việt hải ngoại không sẵn sách báo tiếng Việt để đọc. Hơn nữa, những văn nghệ phẩm gãi đúng tâm trạng li hương càng dễ được đón nhận.
– Về nhạc, tôi thấy loan tin những đêm ca nhạc của ông ta có các nhạc công của Opéra Paris đệm.
– Điều đó chẳng nói gì nhiều. Chung qui là chuyện tiền cát-sê như bên này hay nói. Các băng nhạc tuyển và các tập nhạc tuyển hầu như vắng bóng tác phẩm của người này. Có điều giọng điệu của ông ta trong văn thơ cũng như trong ca từ có màu “tụ điểm” hay “giang hồ” đọc hoặc nghe cũng thoải mái, giúp thư giãn được. Trong hoàn cảnh bon chen làm ăn, bon chen sống ở xứ người buổi đầu, ít ai đòi hỏi nhiều. Cho nên có phịa vào chuyện thật cũng mấy ai trách cứ. Người ta nổi tiếng bằng những con đường khác nhau, và cũng tùy công chúng khác nhau. Những văn nghệ sĩ tôi thích có khi lại chẳng nổi tiếng lắm, họ có tài thật sự.
Tôi hồ nghi không biết nhân vật Văn Nghĩa trong cuốn hồi kí kia có đúng là ông bạn tôi không. Về Hải Phòng, tôi lập tức đến gặp ông.
– Chào thi sĩ ẩn danh. Chà! Ông bạn kín tiếng quá.
Văn Nghĩa ban đầu tưởng tôi đùa, sau cứ ngớ ra, bối rối hỏi:
– Ông có nhầm không đấy?
Tôi chìa ra những trang hồi kí hải ngoại có liên quan đến Văn Nghĩa mà tôi sao chụp mang về. Ông bạn chăm chú đọc, lúc đầu còn chau mày, về sau cứ cười nhạt và lắc đầu hoài. Ông ngồi trầm ngâm một lúc rồi mới sẽ sàng nói:
– Đúng là có chuyện anh ta và tôi gặp nhau ở Sài Gòn gần nửa thế kỉ trước, nhưng trong này anh ta đã đánh tráo mọi tình tiết. Ma giáo quá! Tội nghiệp! – Đến hai tiếng này, ông như nói với riêng mình – Cô ta làm sao mà để nay hắn tự cho mình quyền nói đến với cái giọng kia! “Em lưu manh thật”, “Tôi đá em văng xi lô trước”. Nói người tình cũ như vậy… – Ông lắc đầu, ghê sợ.
Tôi nài ông bạn kể lại sự thật. Chần chừ mãi Văn Nghĩa mới đồng ý.

* * *
Tháng Mười Một năm 1954, tôi từ Hải Phòng bay vào Sài Gòn. Tôi xin phép cha tôi “đi chơi” nhưng ông ngờ tôi theo gái vào Nam luôn nên buồn lắm, song cũng không cản. Đúng là một phần vì nàng mà tôi có chuyến đi ấy, phần chủ yếu. Nàng đã ra đi trước đó ba tháng. Nàng chẳng báo cho tôi. Bởi vậy, biết ngày giờ nàng xuống tàu mà tôi không ra tiễn. Khi tôi nghĩ lại vội ra bến thì chiếc tàu chở nàng đã không còn ở đấy nữa. Lòng hẫng hụt và trống trải, tôi đi lơ phơ trong thành phố cảng đang mang hai bộ mặt, hai không khí. Một, gấp gáp và tạm bợ của những người chờ ra đi. Một, âm ỉ và mong ngóng, có cả thắc thỏm nữa, của những người đợi ngày thành phố được giải phóng. Chỉ mấy giờ trước đó tôi còn trách nàng; lúc này tôi chỉ tự trách mình. Tôi là đàn ông cơ mà! Tôi hơn tuổi nàng, học trên nàng; tôi học đệ nhị cấp (tức ban tú tài), nàng đang học đệ nhất cấp. Tôi phải hiểu thời cuộc hơn nàng chứ! Tôi phải hiểu tâm trạng nàng, đúng ra là tâm trạng của nhà nàng, chứ! Cha nàng là công chức của chế độ dù sao cũng mang danh là “ngụy”, mẹ nàng là dân buôn. Tuy nhiên, cha tôi là công chức của người Pháp, của chính kẻ chiếm đóng kia, vậy mà cha tôi đã quyết định ở lại với chính quyền mới. Tôi nhớ câu thư của Axia viết cho N. (nguyên tên viết tắt trong tác phẩm) trong một truyện của Tuốcghênhiép mà tôi đọc qua bản Pháp văn: “Giá anh nói với em một tiếng, chỉ một tiếng thôi, thì em đã ở lại rồi”. Câu đó đã dằn vặt anh chàng N. suốt đời. Trường hợp của tôi thì sao đây? Nếu tôi nói với nàng một tiếng thì nàng có ở lại không? Nhưng mà tôi có thể nói gì nhỉ? Một tiếng mà nàng Axia của chàng N. cần nghe là “(anh) yêu (em)”. Chẳng lẽ với nàng Axia của tôi tiếng đó chưa đủ mạnh? Hồi đó, hầu hết người Việt Nam trong vùng quân Pháp chiếm đóng đều, nhiều hoặc ít, có cảm tình với kháng chiến, không kể những người âm thầm tham gia chống Pháp. Và chiến thắng Điện Biên Phủ là niềm tự hào chung của người Việt. Song, theo chân quân viễn chinh Pháp chiến bại vào Nam không chỉ những người đã quá gắn bó với ngoại bang, không chỉ số đông tín đồ Gia-tô giáo “đi theo Chúa đã vào Nam”, không chỉ những người vì ý hướng chính trị. Ngay như tôi và nhiều bạn bè học sinh, trong khi hân hoan hòa vào niềm vui giải phóng, thâm tâm đôi lúc gợn chút bẽ bàng nếu không kịp nghĩ rằng phải sống trong vùng bị chiếm không có nghĩa là cùng phe quân chiếm đóng. Tôi có thể góp phần giải tỏa những suy nghĩ tiêu cực đã đẩy gia đình nàng di cư chăng? Hay tôi có thể nối máu Roméo bảo nàng Juliet của tôi: “Em cứ ở lại. Chúng mình sẽ…” Nàng có chịu nghe không? Chúng tôi còn quá trẻ để cưới nhau, chưa nói chuyện nuôi nhau. Tôi hai mươi, hơn nàng hai tuổi. Trong cuộc sống, cũng như trong tình yêu, tôi khá ngu ngơ, có khi còn ngu ngơ hơn cả nàng.
Tôi là con trai thành thị. Dẫu vậy, ngay khi đã qua tuổi mười tám rồi, phái đẹp đối với tôi vẫn là một thế giới bí ẩn. Tình yêu, tôi mang trong lòng, trong hồn như mang một hoài vọng có bóng dáng những cô thiếu nữ trong văn thơ lẫn những nàng tiên trong cổ tích, cả hai đều nhuốm màu lãng mạn. Thế rồi một “nàng tiên” đã xuống hạ giới với tôi. Một buổi chiều đang đứng trên bao lơn nhìn xuống con phố nhỏ đìu hiu, tôi thấy có ba cô gái đi qua, ba chị em. Cả ba đều xinh song, như trong các câu chuyện cổ, cô út là đẹp nhất. Tôi đang rõi mắt theo thì cô chợt nhìn lên. Mặt tôi nóng bừng, bị bắt gặp đang nhìn trộm gái, xấu ơi là xấu! Môi cô hơi chun lại, chẳng hiểu để giấu nụ cười hay để kìm cái bĩu môi. Tôi tìm biết được “động tiên”. Nhà cô ở một phố gần phố tôi, và thật tình cờ may mắn trên gác là nhà thằng bạn học của tôi. Tôi với nó khá thân nhưng chỉ từ hôm đó tôi mới năng đến chơi nhà nó. Về khoản giao tiếp với con gái tôi là tay đụt. Dẫu đã có những lúc được nàng ban cho nụ cười nhẹ kèm cái nguẩy đuôi tóc, tôi vẫn chưa biết nên bắt đầu ra sao. Chính nàng đã “bật đèn xanh” cho tôi, nói đúng hơn là “ra đòn” trước. Bằng một lá thư mượn sách gửi qua cậu bạn tôi. Có vẻ như trong những chuyện tương tự, phái nữ thông minh hơn, lắm sáng kiến hơn giới chúng ta. Nàng đến với tôi chủ động, hồn nhiên. Những lần hẹn hò đều do nàng “vạch kế hoạch”. Hơn một năm trời, gần như ngày nào chúng tôi cũng có giờ phút bên nhau. Nhưng chưa bao giờ nàng để cho tôi hôn, cả những khi hai đứa say hương tình trong vườn hoa vắng vẻ, ánh đèn đêm lung linh khích lệ. Vài ngày chúng tôi không thấy nhau là nàng chạy bổ đi tìm tôi; song, nàng “mê” một cách tỉnh táo, luôn luôn tỉnh táo. Nàng là con nhà gia giáo.
Lần đầu tiên trong đời, tôi đi xa như vậy, lại đi máy bay. Ngày ấy, từ Bắc vào Nam và ngược lại chỉ có thể đi đường không hoặc đường biển. Đường bộ dằng dặc qua những vùng chính phủ kháng chiến kiểm soát và những vùng quân Pháp chiếm đóng xen kẽ nhau, lôi thôi phương tiện, thời gian,…, chẳng phải ai cũng có thể đi và dám đi. Dĩ nhiên là tôi rất thích được đặt chân đến Hòn-Ngọc-Viễn-Đông, cái tên vang bóng từ thời Pháp thuộc của Sài Gòn. Chị tôi lấy chồng trong đó. Phải hai năm nữa mới có cơ gặp mặt, theo hiệp định Giơ-ne-vơ, dù buổi ấy chưa ai biết trước rằng sau khi quân Pháp rút hết khỏi miền Bắc thì mọi liên hệ Bắc-Nam đều bị chính quyền họ Ngô chặt đứt chứ đừng nói việc qua lại. Tôi có lí do để vào thăm chị tôi. Sự thật là nếu không vì nàng thì hẳn là tôi không quyết tâm xin nghỉ học để đi. Tôi đang học ban tú tài ở Hà Nội, nơi duy nhất trong “vùng địch tạm chiếm”, như những người kháng chiến vẫn gọi, ở miền Bắc có loại trường này. Học sinh ban tú tài ngày đó còn “oai” hơn sinh viên đại học ngày nay. Bấy giờ Hà Nội đã được giải phóng khỏi quân Pháp và một trong những việc làm đầu tiên của chính quyền cách mạng là mở cửa lại các trường học. Trong không khí mới, việc một học sinh xin nghỉ học để trở về Hải Phòng đang nằm trong vùng tập kết ba trăm ngày [để chuẩn bị rút hết] của quân viễn chinh Pháp và bay vào Nam có thể gây nghi ngờ.
Tôi chưa định, chưa nghĩ một cách rõ ràng là vào gặp nàng để làm gì, sẽ làm gì. Tôi nhớ nàng, tôi thương nàng. Từ ngày ra đi, hàng tuần nàng đều đặn gửi thư cho tôi, thư nào cũng đẫm nhung nhớ. Nàng hình dung bước đi của tôi, cuộc sống của tôi, cảnh học của tôi trong khung cảnh mới hẳn phải diễn ra, không có nàng! Tôi cảm nhận nàng muốn tôi là cầu nối, là bến chờ để tâm hồn nàng ghé về, hay ít ra, để hướng vọng. Hay đơn giản chỉ là điểm nhớ! Vậy ra tôi đã mất nàng thật rồi. Vậy mà biệt nhau lần chót cũng không!
Sài Gòn đang chớm vào mùa khô, vàng nắng. Từ miền Bắc chớm lạnh đến, tôi không thấy nóng mấy bởi đang nôn nóng muốn gặp nàng. Đang đợi tin thì đứa cháu đưa cho một mảnh giấy. Một người tên là Long mời tôi đến gặp tại nhà hát thành phố, nơi anh ta trú ngụ tạm thời cùng một số dân Bắc di cư vào. Gia đình nàng cũng từng ở đấy trước khi dời đến nhà riêng. Tôi nghĩ chắc là người anh họ nào đó mà nàng có lần đã kể muốn đứng ra dàn xếp. Duy, cái câu: “Cứ đến, đừng sợ gì cả” khiến tôi nghi ngại đôi chút. Rồi tôi vẫn đến. Anh chàng Long mừng tôi “vừa vô từ bên kia bức màn sương”. Anh ta bảo trước ngày đi Nam ít lâu anh ta có ra “vùng Việt Minh”. Đấu tố ghê lắm. Học sinh, trí thức khó mà đương nổi. Anh ta không biết tôi cũng có ra “vùng tự do”, ra dự lớp nghiên cứu chính sách của chính quyền sắp tiếp quản thành phố đối với học sinh các đô thị tạm bị chiếm. Anh ta chuyển qua nói chuyện văn chương, âm nhạc. Nhặt chỗ này một tí, chắp chỗ kia một tí, kiểu chuyện trò trong các tiệm cà phê ồn ào, chốn có thể tưởng ai cũng là uyên bác, là sành điệu. Thấy anh ta giở văn thơ ra, ban đầu tôi cũng ngại. Anh ta tán mấy câu, tôi bình tâm ngay. Thời học sinh, chúng ta ai mà chẳng kết xoàng ra là dăm câu thơ, vài đoạn văn và những lời bình; rồi khi sa vào trường tình cũng tập tọng thơ thẩn. Thỉnh thoảng tôi mới chêm đôi lời đủ cho anh ta nể và không lòi đuôi mình ra. Khi anh ta phán ca nhạc, tôi cười thầm. Tôi là cây ghi-ta của trường tôi đang học; tôi lại dạy nhạc tại các lớp tư gia. Anh ta cũng tinh, tấu mấy câu phiếm, tôi chỉ đệm qua loa, anh ta lập tức chuyển đề tài. Không rào trước, anh ta nói đến nàng. Anh ta khen nàng thông minh, học làm thơ cũng nhanh; chê nàng quá ngây thơ, thiếu kinh nghiệm sống, dễ tin những giá trị phù phiếm, bề ngoài. Chẳng biết anh ta muốn ám chỉ những gì. “Tuy vậy, en (elle) (1) và tôi rất hiểu nhau”, anh ta nói lấp lửng. Rồi bỗng nhiên, anh ta hỏi tôi: “Cả gia đình anh chuyển vào đây chứ?”. Tôi ậm ờ: “Có thể là không”. Anh ta nói: “Ở lại làm hàng thần lơ láo ư?”. Tôi nói: “Có đánh nhau với bên kháng chiến đâu mà hàng thần”. Anh ta nói: “Dù sao thì cũng ở phía kẻ bại trận”. Tôi nói: “Cả nhà tôi chưa bao giờ nghĩ mình cùng trận tuyến với quân chiếm đóng Pháp”. Anh ta nói: “Pháp đã trao trả độc lập cho Việt Nam từ năm 1949 rồi”. Tôi nói: “Chẳng phải năm trước thủ tướng đương nhiệm khoe, sau một hiệp định kí thêm với Pháp, rằng như vậy là tới nay ta đã được độc lập xanh căng puốc xăng (cinquante pour cent)(2) đấy thôi? Chắc gì đã được năm mươi phần trăm!” Chẳng biết làm sao mà tôi ứng khẩu đối đáp anh ta như vậy những chuyện mà bình thường ra tôi không quen nói. Có lẽ do lối nói của anh ta. Anh ta nhếch mép: “Chà! Chính trị cao quá nhỉ! Đáng được chung vui chiến thắng với bên kia. En thì không kham nổi đâu. Đã vậy, anh vào đây làm gì!” Tôi hơi giật mình, chẳng hiểu thằng cha này muốn gì.
Không, không! Hắn ta chẳng nói gì đến tình yêu của nàng. Trong hồi kí, hắn phịa ra chuyện tôi cảnh báo nàng phản bội; đến Sài Gòn tôi đã gặp nàng đâu! Hai câu thơ của Nguyễn Bính, đọc hắn tôi mới biết, lần đầu đấy!
Đó là lần duy nhất tôi gặp Long, lần gặp gây cho tôi cảm giác không yên. Tôi hẹn gặp nàng tại vườn hoa Tao Đàn. Vườn hoa này nghe nói ngày trước đẹp lắm, nhưng buổi chiều đó nom rất tã, có lẽ do lính tráng và dân di cư. Khung cảnh này thật chẳng hợp với một cuộc hò hẹn. Nàng không đến một mình mà đi theo bà chị cả, người có ảnh hưởng lớn đến việc ra đi của nàng. Gặp tôi, bà chị vẫn tỏ ra xởi lởi song chẳng phải là cởi mở. Còn nàng thì dè lặng mang vẻ mặt kín bưng. Đâu rồi người con gái hồn nhiên “mở lòng đón bóng yêu”?
Buồn và chán, tôi lang thang trên hè phố thấm thía cái nắng ong ong của Sài Gòn, cái nắng chẳng tiện cho suy tư nội tâm chút nào. Tôi đã toan ra Bắc ngay, nhưng rồi đổi ý đi Đà Lạt chơi ít hôm. Đà Lạt ngày ấy thật đúng với cái tên “thành phố mộng mơ”, “thành phố tình yêu”. Các thành phố khác thời Pháp chiếm đóng, dẫu người ta mải làm lụng, học hành, hoặc là ăn chơi nữa, thì trong thâm tâm vẫn không thoát khỏi nỗi ám ảnh của quân chiếm đóng, của thế lực ngoại bang đang trùm lên mọi hoạt động, đang giật dây các chính khách. Đà Lạt có khác. Thành phố như ở bên lề thời cuộc. Những “thung lũng tình yêu”, “hồ than thở”, … dường như chỉ dành cho những kẻ đang yêu. Song le, đang thất tình hoặc đang “dở dang trăm mối” mà đến đó là dại. Cảnh đẹp trong sự trống vắng càng làm thấm thía nỗi cô đơn. Tuy vậy, cảnh trí và không khí Đà Lạt giúp tôi tĩnh tâm lại. Tôi ngồi trên bãi cỏ êm bên hồ Xuân Hương kề khách sạn Palace, – ngày ấy, bãi cỏ chưa bị khách sạn này thôn tính vào trong khuôn viên của nó -, ngẫm ngợi sự đổi khác nơi nàng, có gì đó không thật là nàng nữa. Chợt nhớ câu của ai đó: “Em làm mặt lạnh lùng / Trong em có sóng gió”. Có thể vậy chăng? Rồi màn kịch của anh chàng Long chẳng biết từ đâu mọc ra kia. Cần phải… Tôi làm lời chủ nhà trọ đánh điện cho chị tôi ở Sài Gòn nói tôi bị tai nạn khá nguy kịch. Đánh điện đi rồi tôi phấp phỏng lo. Ngay chiều hôm đó chị tôi đến Đà Lạt. Có cả nàng! May quá! Nếu chỉ mình chị tôi lên thì thật là một bức điện vô duyên. Khỏi phải nói cả hai người chưng hửng như thế nào. Tôi xin lỗi chị tôi, và “chuyện của chúng em phải dứt điểm tại đây, hôm nay”. Bà rất giận, bảo: “Cậu quá con nít. May mà tôi còn chờ xem tình hình cậu bị ra sao mới điện cho cha ngoài ấy”. Tôi quay qua nàng: “Người ta bảo Đà Lạt là thiên đường của tình yêu lứa đôi. Đáng tiếc, nơi đây không là cái nôi của mối tình chúng ta. Nếu em muốn nó tan vỡ, hãy để Đà Lạt làm chứng nhân”. Tôi nghĩ ngọn lửa tình trong lòng nàng chẳng thể nguội nhanh như thế, song rõ ràng đang bị đe dọa dập tắt. Khung cảnh Đà Lạt có thể khơi men tình ái, tôi tin vậy. Nàng và tôi đi dạo trên bãi cỏ mượt mà, tĩnh lặng một cách hoang vắng. Vẻ mặt nàng âm thầm, phảng phất nét vô cảm như đột ngột bị nhiễm cái lạnh của Đà Lạt. Mặc tôi hỏi gì, nói gì, nàng chỉ im lặng… Bỗng nàng xoay người hôn vào môi tôi, – lần đầu tiên trong cuộc tình của chúng tôi, rồi đi nhanh xuống dốc tới con đường ven hồ, hình như lén đưa tay lau mắt nhưng không một lần ngoái cổ lại. Nàng về ngay Sài Gòn không chờ bà chị tôi.
Rời thành phố mù sương, tôi gặp lại Sài Gòn đầy nắng, song trong lòng thì ảm đạm. Tôi đang sửa soạn hành lí để ra Bắc thì thằng cháu đem đến một phong bì nói là của một anh đi xe đạp qua nhờ đưa. Ngoài bì không đề tên người gửi, nét chữ lạ. Bên trong là một tờ giấy xé từ một cuốn sổ, nét chữ nàng: “Tous les hommes sont détestables, même mon cher” (Mọi đàn ông đều đáng ghét, kể cả người tôi mến thân), nhại một câu của một nhà văn Pháp.
Một cơn mưa rào bất chợt trên đường tôi ra sân bay đưa tiễn tôi.
Tôi trở lại Hải Phòng thả bước trên đường phố của tuổi thơ tôi, của mối tình đầu của tôi, và… cố không nghĩ tới nàng nữa.

* * *
Văn Nghĩa hồi tưởng chuyện xưa, tôi không đủ sâu sắc để đoán biết có mạch ngầm nào đằng sau vẻ mặt yên tĩnh của ông. Tôi hỏi:
– Ông có biết do đâu có câu “tuyên ngôn” tiếng Pháp kia không?
– Không. Câu tiếng Pháp kia không chắc là cô ta gửi cho tôi. Điều ấy không quan trọng nữa. Nó chỉ khích động nỗi niềm trong tôi mà thôi. Tôi đi đến với người tôi yêu mối tình đầu, tôi tìm đến người thương vẫn hiện ra sau những dòng thư đau đáu. Điều gì đã đến trong tâm hồn cô, trong cuộc sống của cô, cô dứt khoát đóng kín với tôi. Một cô gái từng yêu một cách hồn nhiên, cởi mở.
– Ông có nghĩ…? Những trang hồi kí kia…
– Chuyện tình thứ thiệt ư? Không người đàn ông nào, có tồi mấy đi nữa, lại nói về người con gái mà mình từng yêu và từng yêu mình, ngay cả chỉ đơn phương, bằng một giọng như vậy, nhất là khi anh ta đã ít nhiều thành đạt, và khi đã có tuổi. Thật tội cho cô ta! “Đánh” một người mà biết chắc người ta không thể “nói lại”, yêng hùng đấy chứ!
– Xin lỗi, cho hỏi thật: có đúng là nàng đã yêu ông chân thành hay chỉ là “hoa lá cành”?
Văn Nghĩa đến lục một trong một cái hòm đặt cẩn thận trong góc phòng lấy ra một cái hộp cất kĩ dưới đáy hòm. Ông mở hộp đưa cho tôi xem một tấm lụa vuông mỗi bề chừng bốn mươi phân màu trắng viền tua vàng thêu chữ màu đỏ. Toàn bộ đã xuống màu song còn nền nã lắm. Nét chữ bay bướm, đường thêu tinh tế. Trang trọng ở giữa là hai câu thơ: “Hai ta trời hẹn tình hoa bướm / Chẳng cứ xuân về mới kết đôi”. Bên dưới là những hàng chữ nhỏ: “Thơ này của anh, đường thêu này của em, đôi ta chung sức, không sức mạnh nào chia lìa được”. Ở góc trái phía trên, tên hai người được thêu cách điệu thành một con bướm quấn quít một bông hoa, chỉ thêu màu trắng ngà. Góc phải phía dưới ghi: 24 – 6 – 1954, ( trước ngày cô ta theo gia đình vào Nam chỉ hơn một tháng!) Tấm thêu chỉn chu, người thêu như gửi lòng mình, gửi hồn mình vào đường kim mũi chỉ. Bức thêu như là “tờ mây” thề nguyền. Vậy mà… Biết đâu cô nàng cũng cảm thấy mất đi một cái gì khi Văn Nghĩa đột ngột xuất hiện ở Sài Gòn?- tôi nghĩ thầm. Phải chăng bản chất con người cũng là lãng mạn, theo cái nghĩa không xấu của từ này, cái nghĩa gợi nhớ một khuynh hướng văn học nghệ thuật mà tác phẩm của Vích-to Uy-gô là một đại diện? Song tôi phân vân. Lẽ nào có thể có cái không tầm thường trong một mối tình bình thường!
Tôi hỏi ông bạn sau ngày giải phóng Sài Gòn có đi dò tin tức “nàng” không, ông lắc đầu:
-Để làm gì? Để thấy người ta bất hạnh ư! Để thấy người ta hạnh phúc ư! Thôi thì mỗi người một cảnh đời …
Tôi định đùa: -Nghe như “Thà nép mày râu, tớ phụ nàng” ấy nhỉ. Nhưng tự thấy vô duyên nên kịp dừng lại.
Tay Văn Nghĩa cầm bao diêm tự lúc nào. Ông xòe diêm. Tấm lụa được cất kĩ gần nửa thế kỉ cháy vèo, mảnh tro lửng lờ rơi xuống nền gạch men.
– Bọn nhà văn các ông hay nói “tro tàn kỉ niệm”, – Văn Nghĩa mỉm nụ cười buồn – như thế này phải không? đúng nghĩa đen!
Tôi nói vui: – Dù sao ông hãy tự hào là đã làm nên hai nhà thơ.
Văn Nghĩa nhếch mép: – Những hai cơ à?
– Trong hồi kí của mình, Long nói “nàng” thuổng thơ người yêu tặng mình đem đăng báo mà thành thi sĩ. Và ông thì “vì nàng (mà) làm hàng trăm bài thơ cho riêng nàng đọc” và “đã cho nàng rồi thì xé bản thảo đi” theo yêu cầu của cô ta.
– Tôi chỉ tặng cô ta dăm bảy bài thơ, lăng nhăng thôi, làm sao đăng báo được. Tay nhà văn này chúa phịa. Tôi đâu có gửi hắn tập thơ mỏng nào cho cô ta. Lại nữa, bốn câu mà hắn bảo đọc xong hắn xa xẩm mặt mày cũng đâu phải của tôi. Hắn tưởng tôi chết rồi chắc mà dám dựng đứng vậy!
– Riêng anh ta thì nhờ cú hích khi gặp ông mà lao vào văn thơ, như chính anh ta “khai” trong tác phẩm của mình.
– Có khi chỉ là một cách tự quảng cáo, tự đề cao, hoặc để cho văn mình dễ bán.
Ông bạn chợt cười thật vui: – Ông anh rể tôi định cư ở bên kia trái đất, một lần, quãng năm 1999, tự nhiên gửi thư cho tôi bảo tôi “có thể vỗ ngực hét lên rằng không có Văn Nghĩa này thì sao có kẻ kia, một nhà văn tên tuổi ở hải ngoại!”. Tôi cứ tưởng nói chơi. Hẳn cuốn hồi kí vừa ra, ông ấy đã đọc những trang đó và nghĩ rằng tôi cũng đã đọc. Ông này lão lắm rồi, trên tám mươi, mà còn rất nhộn. Trong thư, ông còn an ủi tôi chẳng nên buồn, chẳng nên hận, và phàn nàn rằng mình chẳng được “bị đá” để mà buồn và hận, để thành thi sĩ. Ông tiếc cho tôi không có đất để “nuôi nguồn hứng khởi mà tiếp tục gieo vần, cấy điệu”, nếu không thì đã thành một “thi sĩ hữu hạng”, rõ ràng là có hàm ý. Ông lão vẫn có cái ngây thơ của ông lão, và vẫn lãng mạn đấy nhỉ! Chẳng loại trừ tôi và ông.
___________
(1) nàng, cô ấy (tiếng Pháp)
(2) năm mươi phần trăm (Tiếng Pháp)

Hải Phòng, 7 – 2002

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s