GIAI THOẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM

GIAI THOẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM
Kiều Văn Biên Luận

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ khi xuất hiện trên trái đất, loài người thông qua những hoạt động để sinh tồn và phát triển, đã tham gia đắc lực vào guồng máy của càn khôn. Thuyết Tam tài (ba ngôi Trời – Đất – Người) của phương Đông đã xác minh địa vị to lớn của con người trong Đại thế giới (vũ trụ, trong đó hành tinh Trái Đất).
           Khoa học lịch sử đã khẳng định: nhân dân – trong đó có những bậc chí nhân, thần nhân, thánh nhân, những khổng lồ, những anh hùng hào kiệt, những nhân vật xuất chúng – là lực lượng sáng tạo ra lịch sử nhân loại, lịch sử các quốc gia, các dân tộc.
           Trong số những cuốn biên niên sử mà các dân tộc đã viết trên hành tinh Trái Đất này, có một cuốn của người Việt – “Quê ở Á Châu, về Địa Cầu, sông Đà núi Tản nước Nam Việt” như cách nói của thi sĩ Tản Đà. Đã bốn ngàn năm qua, cuốn Ngọc phả của dân tộc ấy đã luôn là cuốn sách thiêng liêng nhất, máu thịt nhất của bất kì người Việt nào ở bất kì thời đại nào. Những kí ức diệu kì trong tâm tưởng của người Việt, xuyên qua nhiều thiên niên kỉ, đến nay vẫn như còn tươi rói, vẫn đốt cháy và lay động lòng người. Hai tiếng về nguồn như tiếng chuông thiêng liêng luôn thôi thúc con người thuộc các thế hệ hướng tâm hồn để chiêm ngưỡng những kì tích của tổ tiên để được học những bài học vĩ đại, để thụ hưởng những niềm cảm kích, tự hào, vui sướng không gì sánh nổi, để tự lớn mạnh mà sống xứng với danh hiệu Con Người.
           Phương Tây có câu: “Một dân tộc vĩ đại khi nó sản sinh những vĩ nhân” (G.Duhamel). Thiết tưởng có thể dựa vào chuẩn mực ấy để nhận thức về con người và dân tộc Việt Nam. Kể từ thời Hùng Vương – thời khai sinh ra nền văn minh sông Hồng – đến thiên niên kỉ thứ III này, lịch sử Việt Nam đã sản sinh biết bao con người trác việt phi thường, những vì sao toả sáng rực rỡ trên bầu trời của dân tộc cũng như trong tâm khảm của mỗi con người Việt Nam chúng ta.
           Tại Văn Miếu (Hà Nội), trên tấm văn bia được dựng từ thế kỉ XV có khắc một câu nổi tiếng: “Hiền tài – quốc gia chi nguyên khí” (Bậc hiền tài là nguyên khí của quốc gia).
           Thật vậy, cốt cách cao đẹp, trí tuệ sáng suốt, nghị lực phi thường và sự nghiệp lớn lao cống hiến cho đất nước của các bậc hiền tài, các danh nhân, các anh hùng hào kiệt, đã góp phần quan trọng sáng tạo ra lịch sử vẻ vang của dân tộc ta. Vinh quang của họ “được lưu truyền sử sách, nghìn đời thơm tho” đúng như lời Hưng Đạo Vương viết trong Hịch tướng sĩ từ thế kỉ XIII.
           Bản chất, tính cách, cuộc đời và số phận của các nhân vật lịch sử thường có những đặc tính và những tình tiết vô cùng độc đáo. Chính vì vậy, những câu chuyện về họ đã trở thành những giai thoại lưu truyền mãi trong đời, luôn luôn có sức hấp dẫn lạ thường đối với mọi người.
           Thực tiễn cho thấy: những ai có ý thức trụ vững trên miếng đất của truyền thống dân tộc, hấp thụ những tinh hoa của dân tộc mình đồng thời với việc hấp thụ những tinh hoa văn hoá của nhân loại, sẽ có nhiều triển vọng đạt tới những đỉnh cao của cuộc đời.
           Ở thế kỉ XV, bậc vĩ nhân Nguyễn Trãi đã từng băn khoăn đặt câu hỏi: “Hậu học thuỳ tương tác chuẩn thằng?” (Lớp hậu sinh, còn ai lấy ta làm mực thước không?)
           Xuất phát từ những suy nghĩ và tình cảm bức xúc muốn đáp lại câu hỏi ấy của người xưa, đồng thời với mục đích “ôn cố tri tân”, chúng tôi đã dành nhiều công sức và tâm huyết, sử dụng một lối văn thích hợp để viết bộ GIAI THOẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM (gồm 8 tập – vừa được xuất bản đầu năm 2012), mong đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trong và ngoài nước muốn tìm hiểu con người, đất nước và lịch sử Việt Nam.
           Để viết bộ sách giai thoại về những nhân vật và những sự kiện thuộc nhiều lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, học thuật, văn học nghệ thuật, đời sống xã hội… xuất hiện trong suốt quá trình lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ thứ III trước công nguyên đến cuối thế kỉ XX sau công nguyên), chúng tôi đã căn cứ và tham khảo rất nhiều sách vở, tài liệu của các tác giả xưa và nay. Chúng tôi đã sắp xếp, hiệu chỉnh, tham gia dịch thuật, và trình bày theo cách nhìn mà chúng tôi cho là gần với chân lí khách quan nhất. Chúng tôi đặc biệt chú ý đảm bảo tính chất văn học của các giai thoại: chúng nhất thiết phải gây được những rung động thẩm mĩ và để lại ấn tượng sâu trong lòng bạn đọc.
           Vì sách được biên soạn theo phương châm “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” và vì khuôn khổ của sách có hạn nên chúng tôi không chủ trương giới thiệu tất cả giai thoại lịch sử Việt Nam mà chỉ chọn lọc những giai thoại tiêu biểu của mỗi thời đại.
           Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với tất cả các tác giả của những bộ sử, những cuốn từ điển, những công trình nghiên cứu về lịch sử, những tiểu thuyết và thơ ca lịch sử, những sách chuyên về giai thoại… – những người đầy tâm huyết đã có công lao to lớn tập hợp nên một kho tàng giai thoại Việt Nam phong phú.

 KIỀU VĂN

Dậy! Dậy! Dậy! Hỡi quốc dân ta! Hỡi đồng bào ta! Dậy mà nghe tôi kể chuyện đời xưa. Chuyện đời xưa mà tôi sắp kể đây không phải là chuyện Âu chuyện Mĩ, chuyện Trung Hoa, Nhật Bản, chuyện Ấn Độ, Xiêm La, mà chính là chuyện của tổ tiên ta vậy. Ôi! Chuyện tổ tiên ta có quan hệ với ta mật thiết biết chừng nào! Đồng bào ta chắc ai cũng muốn nghe… Sao vậy? Vì người ta, một khi nghe người kể chuyện tổ tiên thì ai là người không vui lòng lắng tai nghe? Ấy là lương tâm chung của loài người. Nếu không vậy thì hình người mà tính thú. Há lẽ con Rồng cháu Tiên như đồng bào ta mà lại thế ư?

PHAN BỘI CHÂU
1. CHUYỆN HÙNG VƯƠNG NHƯỜNG NGÔI VÀ CỘT ĐÁ THỀ THỤC PHÁN

Vua Hùng thứ 18 (hiệu Duệ Vương) tuy sinh hạ được rất nhiều con nhưng không hiểu vì sao hầu hết các con của ngài đều bị yểu mệnh, rốt cuộc chỉ còn lại hai mị nương (công chúa) vô cùng xinh đẹp là Tiên Dung và Ngọc Hoa.

Tiên Dung là một nàng công chúa tính tình phóng khoáng, thích du ngoạn đó đây. Một lần nàng du thuyền trên sông Cái (sông Hồng) và ghé vào bờ cát quây màn tắm, bất ngờ gặp chàng trai nghèo Chử Đổng Tử đang vùi mình trốn trong bãi cát, cho là có duyên tiền định bèn kết làm vợ chồng.
 
Còn với công chúa Ngọc Hoa, vua Hùng cho dựng lầu ở gò Tiên Cát, nhằm kén rể hiền để nhường ngôi. Lúc đầu, Thục Chế, cháu họ xa với vua, làm chúa ở đất Tây Vu, ngỏ lời cầu hôn nhưng các Lạc hầu (văn quan) can vua rằng:
 
– Chẳng qua hắn chỉ mượn việc hôn nhân để âm mưu chiếm nước ta mà thôi, không nên gả.
 
Nguyễn Tuấn, động chủ núi Ba Vì (nên còn gọi là Tản Viên động chủ) đến cầu hôn, được vua chấp thuận, bèn cưới Ngọc Hoa rước về động. Điều đó có nghĩa là rồi đây ông sẽ được nối ngôi của vua Hùng.
 
Thục Chế thù hận vua Hùng, lúc sắp chết dặn con là Thục Phán phải quyết đánh lấy nước Văn Lang. Thục Phán y lời cha dặn, xây dựng lực lượng võ bị, liên kết với các bộ lạc miền núi và tấn công Văn Lang. Chiến tranh Hùng – Thục xảy ra. Nguyễn Tuấn là một trang anh kiệt, một vị tướng giỏi, đã tổ chức và huy động sức mạnh của nước Văn Lang để chống cự và đánh lui được quân Thục.
 
Nhưng đến khoảng giữa thế kỉ thứ III TCN, cả vùng đất Tây Vu của Thục Phán và nước Văn Lang của vua Hùng đều đứng trước hoạ xâm lăng của nhà Tần (Tần Thuỷ Hoàng). Trong tình thế đó, Thục Phán thấy việc trước đây mình gây hấn với nước Văn Lang của vua Hùng, một nước láng giềng thân thiện, là thất sách. Vì vậy Thục Phán đã dâng thư tạ tội với vua Hùng. Nguyễn Tuấn là một con người minh triết, đã nghiêm túc nhìn thẳng vào sự thật về thực lực cũng như về vai trò lịch sử của hai vương triều Hùng và Thục. Cuối cùng ông đã đi tới một quyết định nặng ngàn cân: khuyên Hùng Vương tự nguyện nhường ngôi cho Thục Phán! Dường như ông thấu hiểu được luật hữu hình hữu hoại, hữu sinh hữu diệt của vạn vật, hiểu được sự nguy hại khôn lường của thói tham quyền cố vị.

Để thuyết phục vua Hùng, Nguyễn Tuấn đã có một câu nói nổi tiếng:
 
– Làm được như thế (chấp nhận nhường ngôi vua cho Thục Phán) thì bệ hạ là thánh nhân vậy!

Hùng Vương chắc cũng thấy rõ sự minh triết của Nguyễn Tuấn, đã nghe theo và gọi Thục Phán đến để nhường ngôi.
 
Thục Phán vô cùng cảm kích và khâm phục cách xử thế phi thường của cha con Hùng Vương, năm 258 TCN, đã cho đẽo một cột đá vuông lớn trồng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh để làm một bằng chứng vĩnh cửu cho lời thề của mình: “Sẽ ra sức giữ gìn cơ nghiệp của tổ tông và đời đời thờ phụng các vua Hùng.”.
 
Sau khi được nhường ngôi, Thục Phán xưng đế hiệu là An Dương Vương, đổi tên nước thành Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê (Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay).
 
Quả đúng như lời thề, Thục An Dương Vương đã làm hết sức mình để đền ơn cha con vua Hùng về việc nhường ngôi vua cho mình. Ông cho dựng đền thờ 18 đời vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, mời dòng tộc nhà vua đến chân núi lập ra làng Trung Nghĩa để tiện quanh năm trông coi đền miếu, thờ cúng tổ tiên, và cho hưởng lộc trên vùng đất rộng lớn từ Việt Trì ngược lên đến hết địa giới phía bắc. Nguyễn Tuấn cũng được ông cấp đất ngụ lộc từ cửa sông Đà trở lên phía tây bắc. Ông còn cho dựng miếu thờ bà mẹ của Nguyễn Tuấn ở động Lăng Xương, nơi quê quán của bà.

 Việc vua Hùng và con rể là Nguyễn Tuấn tự nguyện nhường ngôi cho Thục Phán đã khiến cho hai nước tránh được một cuộc binh đao tàn hại sinh dân và xứ sở, gìn giữ được nền hoà bình và tình hoà hiếu giữa các bộ tộc láng giềng, để lại tiếng tốt cho muôn đời sau.

Lịch sử hơn 2500 năm sau đã giải đáp câu hỏi: “Hành động của Hùng Vương – triều đại đầu tiên và hiển hách bậc nhất trong lịch sử nước ta – tự nguyện chuyển giao sứ mạng lịch sử cho nhà Thục, là khôn hay dại, minh hay vô minh?”. Lời giải đáp hết sức rõ ràng: Hùng Vương – quốc tổ của dân tộc ta – là bất tử, đúng như bài thơ “Đền Hùng” sau đây (ra đời khoảng giữa thế kỉ XX) đã ca ngợi:

Ba toà chót vót đầu non,
Nghìn thu sùng bái vẫn còn khói hương.
 Bụi hồng mấy cuộc tang thương,
 Bia xanh còn đó, quyển vàng còn đây.
 Trời cao bể rộng đất dày,
 Sông Thao núi Tản chốn này làm ghi.
Bốn bề cây cối xanh rì,
 Nhìn xem phong cảnh khác gì đào nguyên!
 Đường mây sẵn bậc bước lên,
 Rõ ràng lăng miếu mẹ Tiên cha Rồng!
 Năm, năm mở hội đền Hùng,
 Tiếng tăm lừng lẫy, nức lòng gần xa.
 
Thy Ngọc

Nguyễn Tuấn (Tản Viên động chủ) là người có đức “không tranh”, đã không thèm khát và cố đoạt lấy ngôi vua đáng lẽ thuộc về ông. Không tranh, nhưng sự minh triết và công lao to lớn với dân với nước đã khiến ông trở thành vị thần chúa tể của nước Nam ta: Tản Viên Sơn Thánh. Ông được tôn vinh là một trong Tứ bất tử của dân tộc ta. Ông đã đi vào truyền thuyết với tên gọi Sơn Tinh, vị thần có tài năng siêu phàm luôn chiến thắng Thuỷ Tinh để bảo tồn đất Việt. Đền thờ ông đã mấy nghìn năm qua vẫn uy nghi sừng sững trên đỉnh núi Ba Vì thiêng liêng thuộc tỉnh Sơn Tây, gọi là ĐỀN THƯỢNG.
 
Còn Thục Phán (An Dương Vương), người được Hùng Vương nhường ngôi để trị vì đất nước, thì sao? Vào năm 214 TCN, Tần Thuỷ Hoàng sai tướng là Đồ Thư đem quân chinh phạt Bách Việt (vùng Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây). An Dương Vương đã phải thần phục nhà Tần, quốc danh Âu Lạc của triều Thục bị nhà Tần thay bằng Tượng Quận. Và rồi “thương hải biến vi tang điền”, theo quy luật hữu sinh hữu diệt, một ngày kia không xa lắm, An Dương Vương còn phải rơi vào một tấn bi kịch lịch sử vô cùng thảm xót: đất nước Âu Lạc của ông bị mất vào tay Triệu Đà vào năm 207 TCN. Phút cuối cùng, vì tuyệt vọng và uất hận, ông đã chém đầu đứa con gái yêu là Mị Châu và nhảy xuống biễn tự vẫn.

Bài học lịch sử về câu chuyện “Hùng Vương nhường ngôi” để đất nước thoát nạn binh đao, trăm họ được vui hưởng thái bình quả đã hàm súc những ý nghĩa triết lí và nhân văn cực kì sâu xa vậy

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s