NỢ NHAU KIẾP NÀO

Featured

Ca Khúc
NỢ NHAU KIẾP NÀO
Nhạc & Lời Khê Kinh Kha
Ca Sỹ Bảo Châu Trình Bày

 

Nợ Nhau Kiếp Nào

DPDP12Sao chưa gặp nhau mà lòng đã nhớ nhau
Sao chưa gặp nhau mà thao thức đêm thâu
Mà thương nhớ từ lâu
Hay ta nợ nhau từ kiếp nào
Sao chưa gần nhau, mà mơ ước dài lâu
Sao chưa gần nhau mà hơi ấm quyện vào nhau
Mà mộng đã ngọt ngào
Người ơi,
Tình ta như đã từ ngàn xưa kiếp nào
Sao chưa kề vai mà đời đã bên nhau
Sao chưa kề vai mà nồng ấm con tim
Mà dịu mến tình duyên
Hay ta đã nợ nhau tiền kiếp nào
Sao chưa kề môi mà tình đã nồng say
Sao chưa kề môi mà tình đã quen hơi
Mà tình đã ngàn khơi
Người ơi,
Tình như đã thề non hẹn nước
Sao người còn xa tôi
Sao tình còn đơn côi
Sao lòng đầy mưa rơi
Sao chưa chung lối nào đời đã chung đôi
Sao chưa chung gối nào tình đã bện hơi
Mà hương nồng đầy trong mộng
Người ơi
Xin hãy ở lại giữa tình tôi
Giữa đời tôi
Trọn kiếp này
Mình có đôi

khê kinh kha

một ngày nhớ em

khê Kinh Kha

1000

sáng thức dậy
nhìn quanh
không em
lòng buồn thiu
ly café nguội tanh
trống trơn bao nỗi niềm
tôi nhớ em
nhớ em

trưa ngủ gật trên ghế
ngoài trời mưa bay nhẹ
bước chân ai khe khẽ
giật mình, giấc mơ qua
tôi nhớ em
nhớ em

chiều về căn nhà, vắng
nhìn chén bát đầy bàn
bửa cơm tối vô duyên
tàn thuốc lá đầy sàn
tôi nhớ em
nhớ em

đêm lủi thủi, lạnh
những giọt sương trên vai
chai hennessy trống trơn
thèm hơi em nồng ấm
tôi nhớ em
nhớ em

khuya úp mặt, khóc
nhớ bàn tay em ngoan
thèm bờ môi cong, mềm
gió thở dài qua cửa
lạnh buốt hồn cô liêu
gọi thầm tên em, cho đỡ nhớ
dáng ngọc – iễu gầy
tôi nhớ em
nhớ em

khê Kinh Kha

ĐÊM CUỒNG SAY…

324

Em nhé, một lần quậy cùng ta
Một đêm giả khướt lướt Ngân Hà
Một đêm vịn cớ vì ta đã
Mà hứng đêm cuồng say với ta?

Ừ, giả lần thôi, đâu chết a
Người ta thiên hạ vẫn thế mà
Thì bởi ả Hằng lả lơi quá
Mà dáng ai kia cứ nõn nà…

Thôi, ngả vào ta, cuộn vào ta
Để đêm thánh thót rót trăng ngà
Để làn gió thoảng loang hương lạ
Để trộn vào ta, nghiến nát ta.
*.
Hà Nội, 2G45 ngày 01-07-2020
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

TỰ TÌNH

Nhật Quang

aodai54-r

Nón em che dáng lụa
Gió rối vạt tóc mây
Ta bâng khuâng từ thuở
Hương nắng thơm vai gầy

Em hong mùa ân ái
Phơi hồng dấu môi ngoan
Mắt xanh thời con gái
Gợi dấu yêu nồng nàn…

Ta gởi hồn lãng đãng
Phím loan buồn mênh mang
Giọt Guitar trầm lắng
Nhỏ nỗi đau muộn màng

Thu gieo lời thổn thức
Heo may chạm giấc mơ…
Em như đời hư, thực
Ta phiêu lãng dại khờ

Hồn rong rêu đá mục
Đếm vời tháng năm trôi
Đời rớt ngang đáy vực
Nghe hồn chợt chơi vơi.

CÁO TRẠNG

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

tôi qui tội tôi
giết người không gươm dao
bằng chữ nghĩa âm hồn vọng
tôi gông cùm tôi
trên răng dưới dế một thời
ăn chay nằm đất suốt đời đi hoang
tôi phỉ báng tôi
đầu trâu mặt ngựa giả dạng làm người
hiếp dâm con kiến con trùn con tôm con cua
tôi kêu trời tôi
sanh phải nhằm thời :
vô ra thằng cha khi nãy mặt dày mày dạng
toàn phường giá áo túi cơm cửa khổng sân trình
học hành dăm ba chữ dạy đời lố nhố lăng nhăng
có khi làm thi sĩ có khi làm văn sĩ có khi làm con khỉ
múa gươm trong bị cô gái đồ long chữ nghĩa mênh mông
đứng đường gáy vu vơ đại học quân trường không kể xiết
tôi gọi tên tôi cho đở nhớ sàigòn đêm rít tiếng kèn đồng
mắm ruốt quê hương là người đó sáng dưa trưa muối túi cà
xin làm người khất thực niệm chữ nam mô sanh quán bát nhã
ba la mật a di đà bỏ xứ ra đì chết vô gia cư vô điạ táng trên cõi đời
toàn là thứ mặt trắng như vôi một thời phất cờ theo gió trốn lính
trốn dịch bỏ giáo vô chùa mặc áo cà sa hùm bà lằn bầu cua cá cọp
ôi ! miệng lưỡi thế gian không xương nhiều đường lắc léo
ca bài con cá khâu vá tứ tung cổ lỗ sĩ một đời sợ lãng quên
lịch sử không có chứng từ thế vì khai sanh đổi tên đổi họ chưởi bới
toe tua chết dọc bờ dọc bụi hoá thân cô hồn các đảng ăn trộm chữ
khoe tài khoe tướng múa gậy tầm vông in sách từng đống để thờ
xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ ông chả ra ông thằng chả ra thằng
vượt biển vượt biên đường dài vạn dậm kê khai lý lịch thường trú
làm người hát rong trong thành phố một thời chịu đắng nuốt cay
xin nhận nơi đây làm quê hương với người tình không chân dung
thế rồi một buổi chiều vàng ngồi buồn gải háng dái lăn tăn
ngẫm sự đời mà thương con mụ kiếm* cái cò lặn lội bờ sông
học văn học võ bỏ hoang . ba sinh hương lửa một đời oái ăm
sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo** phê bình phê phán rập khuôn
nồi nào úp vung nấy chẳng gì là mới với tư duy . thưa mông xừ !
kệ . mua vui cũng được một vài trống canh*** cho xong sự đời ?

tôi . trễ tràng một chuyến tốc hành đi về phương đông
giữa mùa giá tuyết buổi hoàng hôn trên ga vắng người ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối 6/2020)

* ‘mụ kiếm’ chữ thơ của Tú Xương.
** ‘sáng tạo các anh hãy còn sáng tạo’ thơ Quách Thoại.
*** ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ thơ Nguyễn Du.

MÙA ĐÔNG SẼ DÀI: LONG SERA D’HIVER

Nguyên Lạc

snow

PAUL MAURIAT

Bản nhạc “Long sera l´hiver” được sáng tác bởi nhạc sĩ Jacques Plante và Claude Carrère 1968, được ca sĩ Sheila thâu vào dĩa lần đầu, sắp xếp và dàn dựng bởi Paul Mauriat.
Vài hàng về Paul Mauriat:
Paul Julien André Mauriat nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng dàn nhạc Le Grand Orchestre de Paul Mauriat. Ông là người Pháp. Những bản hit nổi tiếng như Love is Blue, El Bimbo, Toccata, Penelope…
Paul Mauriat và một số nhạc sĩ khác cổ động cho phong trào nhạc nhẹ – the easy listening – ai nghe cũng hiểu và cảm được, khác với nhạc cổ điển – muốn thưởng thức nhạc cổ điển cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu.
.
BẢN NHẠC LONG SERA D’HIVER

Bản nhạc “Long sera l´hiver”, rất phổ biến thập niên 60 -70, tình cờ tôi được nghe lại và rất thích nên muốn chuyển dịch lời nhạc thành thơ, chia sẻ cùng các bạn.
Đây là đường link dẫn tới bản nhạc “Long sera l´hiver”:
Không lời:
https://youtu.be/2tBIArfBcH8
Có lời:
Sheila – Long Sera L’Hiver
https://youtu.be/ampKesGS5B8
Bài hát rất hay, tôi xin ghi ra nguyên văn bài hát – tiếng Pháp, cùng lời dịch tiếng Anh và sẵn dịp tôi phóng dịch ra thơ tiếng Việt:

1. Nguyên tác – lời nhạc Pháp
.
Long sera d’hiver
.
Long sera l´hiver, my love!
Tu n´es plus près de moi
Je me sens si seule
Dans la neige et le froid
.
Long sera l´hiver, my love!
Le monde est sans pitié
Pour tous ceux qui s´aiment
Et qui sont séparés
.
Et la Terre toute entière
Ne courbe les roseaux
Que c´est triste, un ciel gris
Sans aucun chant d´oiseau
.
Oui, j’ai tant besoin de toi
Oui, car je m’ennuie sans toi
Ici, où tout est sombre et désert
.
Long sera l’hiver, my love!
Mais je me suis jurée
Qu’au premier soleil
J’irai te retrouver
.
Ni les mers, ni les terres
Ne pourront m’arrêter,
De frontière en frontière
Vers toi, je m’en irai
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
.
Long sera l’hiver, my love!
Et tu ouvriras les bras
Oui, et tu me garderas, là-bas
Long sera l’hiver mais nous aurons gagné
De rester ensemble pour l’éternité
.
Long sera l’hiver, my love!
.
2. Phóng dịch thành thơ lời Việt

Tôi tạm phóng dịch thành thơ lời Việt như sau:
.
Mùa đông sẽ dài
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Em không còn ở bên tôi
Đơn côi anh đang đơn côi
Bên trời buốt lạnh tuyết rơi
.
Mùa đông sẽ dài em ơi
Tàn nhẫn, tàn nhẫn cuộc đời
Sao buộc người thương yêu nhau
Chịu cảnh ly biệt xa rời?
.
Tuyết đừng phủ cong lau lách
Buồn lắm xám thẫm bầu trời
Buồn lắm không tiếng chim hót
Khắp cùng trái đất người ơi!
.
Rất cần em cạnh bên tôi
Mọi thứ không em chán rồi
Nơi đây tối tăm vắng vẻ
Nhưng tôi tự thề tôi sẽ
Tìm em khi trời vừa lên
.
Biển cả núi đồi biên giới
Không đâu ngăn cản được tôi
Và em sẽ rộng vòng tay
Ôm tròn giữ tôi ở đó
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
Và em sẽ rộng vòng tay
Em trọn giữ tôi ở đó
Mùa đông sẽ dài chắc thế
Nhưng sao thắng được chúng ta
Mãi bên nhau chẳng lìa xa
.
Mùa Đông sẽ dài em ơi
.
LỜI KẾT
Long will be Winter/ Long sera l´hiver tôi dịch là “Mùa đông sẽ dài”, nếu các bạn nào thích dịch thành “Lâu quá sẽ thành mùa Đông” thì tùy. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng: Ta đừng để như vậy, hãy “hâm nóng tình” lên nha bạn hiền!
Chúc hạnh phúc.
.
Nguyên Lạc
………………
@. Phụ lục:

1. Bản nhạc chuyến dịch lời Anh

Long will be Winter
.
Long will be winter, my love!
You’re not near me anymore.
I feel so alone
In the snow and cold
.
Long will be winter, my love!
The world is merciless
For all those who love
And that are separated
.
And the whole Earth
Do not bend the reeds
How sad, a grey sky
Without any bird song
.
Yes, I need you so much.
Yes, because I’m bored without you
Here, where everything is dark and deserted
.
Long will be winter, my love!
But I swore
That at the first sun
I will find you
.
Neither the seas nor the lands
Can’t stop me,
From border to border
To you, I will go
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
.
Long will be winter, my love!
And you will open your arms
Yes, and you will keep me there
Long will be winter but we will have won
To stay together for eternity
.
Long will be winter, my love!
.
2. Vài hàng về nhạc EASY LISTENING
Nhạc cổ điến hầu như “thống trị” suốt thế kỹ 17,18,19 phương Tây, muốn thưởng thức nhạc này cần phải có “căn bản” kiến thức âm nhạc tối thiểu. Hình như chúng dành cho tầng lớp ” thượng lưu trí thức”, “trưởng giả”.
Paul Mauriat, Franck Pourcel và một số nhạc sĩ khác là những người đầu tiên khởi xướng về loại nhạc nhẹ êm dịu – the easy listening, ai nghe cũng hiểu và cảm được – ở những nơi như là phòng khách, phòng đợi khách sạn v.v…
Hiện nay có thêm nhạc êm dịu New Age
Về nhạc Easy listening hiện nay các ca nhạc sĩ có tếng là Andrea Bocelli, Cesaria Evora, Julio Iglesias …
– Julio Iglesias: một ca sĩ, nhạc sĩ người Tây Ban Nha, ông là ca sĩ có dĩa bán chạy nhất trong lịch sử trong thể nhạc Latin và cũng là một trong những ca sĩ có đĩa bán nhiều nhất thế giới. Phạm Duy có chuyển lời Việt vài bài. Tôi có nhiều kỹ niệm với bài La Paloma do ông hát trước 75. Ca sĩ Lệ Thu có hát bài lời Việt: Cánh Buồm Xa Xưa
. La Paloma – Julio Iglesias
https://youtu.be/CZfN2y7tgfE
. Cánh Buồm Xa Xưa (La Paloma) – Giọng ca Lệ Thu
https://youtu.be/kgmZAtNhYKw
– Andrea Bocelli là ca nhạc sĩ người Ý- ông là người khiếm thị/ blind man từ 5 tuổi.
Bài tôi thích nghe ông hát là Bésame Mucho/ Kiss me a lot (nghĩa là “Hãy hôn em thật nhiều”)
. Andrea Bocelli – Besame Mucho
https://youtu.be/fTxcrjBGves
– Cesária Évora (1941 – 2011) là nữ ca sĩ nổi tiếng người Cabo Verde/ Cape Verde – Tây Phi, với biệt danh “barefoot diva” (“nữ danh ca chân trần”) vì khi biểu diễn bà không mang giày dép.
. Cesaria Evora – Besame Mucho
https://youtu.be/LLsg_Lk819s
– Yanni là nhạc sĩ người Hy Lạp – Greek, ông đang sống ở Mỹ với những album nhạc New Age rất hay.
. Yanni – “Until the Last Moment”
https://youtu.be/9WECMgGG8dg
. Yanni – Felitsa- Live
https://youtu.be/CN7y6FVBdR8

Nhạc các ông bà này bạn có thể search trên You Tube

VÀO VỚI THƠ

VÕ CÔNG LIÊM

hoa hong den

TRANH : VÕCÔNGLIÊM . MẶT TRỜI ĐEN / BLACK SUN

Nói về thơ có cần bàn thêm không? Thiết tưởng điều này thừa; mà chỉ phiếm đàm một cách khách quan như xem một vở kịch vậy; ‘khi vui thì đậu, khi buồn lại bay’ đó là ý tứ vô tư mỗi khi đi vào với thơ.
Vậy thơ là gì? Câu hỏi này đã có từ khi chưa lập văn tự, thơ phát sanh hồi tiền cổ, thuở hồng hoang khai thiên lập điạ đã có thơ đi theo. Thiên nhiên và tâm trạng hòa đồng trong một dạng thức vô cớ nhưng lại hữu hình, hữu tình chính điểm này đã xâm nhập vào hồn để thành thơ. Nói theo phân tâm học của Freud và Jung thì cho rằng: nếu mỗi khi tâm với não giao động hỗn loạn đưa tới bất bình thường và sinh ra ảo giác; nói thế có tính võ đoán cho người làm thơ; tâm tư lắng đọng, trí tuệ phát khởi, giòng thơ tuôn trào như tự nó. Nguồn thi hứng của thơ là nguồn vô biên, vô tận số (sát-na) nó bao trùm cả vũ trụ quan trong chuỗi hành tinh văn học. Thế giới của thơ, một nơi vô hình chung được gọi là ‘cõi thơ’. Thí dụ: đang làm một việc gì thì bỗng bắt gặp mùi hương hoa lài, mùi nước lợ, bóng dáng cũ xuất hiện trong tri giác, khứu giác nơi mà chung quanh chỉ là tiếng động xe cộ ồn ào, huyên náo. Đó là cảm thức bị đánh thức để hướng tới hoài niệm về một tiền đề xẩy ra trước đây, và; tự nhiên xuất thần thành những câu thơ, bài thơ bất hủ, xuyên thủng một tâm thức khác mà thành thơ-ca, nhạc-thơ. Từ đó ta gọi trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ hay trong thơ có họa trong họa có thơ -thi trung hữu họa, họa trung hữu thi- (Tô Đông Pha) là vậy. Nói cách khác; hồn thi sĩ bùng dậy dưới mọi môi trường của cảm hóa mà thành thơ, nhà thơ là một xúc cảm lớn. Vậy thơ đâu dành cho thi sĩ, thơ đã phát tiết từ lòng mẹ mà ra nhưng tư duy đó lại nằm trong thâm sâu cùng cốc (deeper) của tiềm thức; hơn thế nữa trí năng đang trong thời kỳ mở mang (development) để thành hình ngữ ngôn. Thơ khắp mọi nơi và khắp mọi người, thơ chẳng riêng ai giữa không gian và thời gian này. Cái xúc cảm lớn lao đó chính là cái mơ về, nhưng phải hiện thực để thơ đi vào tư tưởng thi ca: bài thơ hay hoặc dở là do yếu tố đó, nhưng thơ có những đòi hỏi lạ kỳ nghĩa là phải nằm ở giữa Hồn và Thức, phải đồng điệu, quyện vào nhau thì ta thấy được ‘thơ tức là người’. Đọc thơ Nguyễn Du, thơ Nguyễn Trãi cho ta nhận thấy một tri thức uyên bác ở người; bởi họ là ‘con nhà tông không giống lông cũng giống cánh’ có lớp lang, có phẩm trật lại là người học cao, hiểu rộng. Cho nên thơ đã thả vào đó những ý thơ bất diệt, những áng thơ tuyệt cú và đi vào miên viễn thanh cao. Thuở nào cũng thế; làm thơ hay làm văn nó đòi hỏi một tri thức thâm hậu thời mới thành thi văn trác tuyệt; cho nên chi người làm thơ dù trải dài cả một lịch sử làm thơ chăng nữa, giòng thơ đó vẫn ngân nga những giọng điệu xưa cũ không thoát ra được chất thơ vì rằng hồn và thức là một phản ảnh rõ nét. Thơ thật sự cần thiết cho cảm thức và có lợi cho lý trí là hai bề mặt cho đời và người; ấy là Đạo vậy và cốt tủy của thơ được trở nên hiện hữu tối thượng; ấy là Siêu Thoát vậy. Muốn tới con đường đó nhà thơ phải phá chấp hoàn cảnh ngoại giới để xâm nhập vào nội giới dưới một dạng thức dành cho thơ; tuyệt đối không vị ngã, ngay cả ngã mạn trong thơ; vì đó là ý thức Mạt-Na (tức là thức thứ 7 trong 7 thức Mạt-Na) : là bản chất so đo, hơn thua, phô diễn về cái ngã (moi/self/ego) hơn là xuất thần thơ; mấy thứ đó làm băng hoại hồn ‘thi sĩ’, dù có là gì đi nữa cũng thành tro bụi. Thơ là hồn; tức ‘hồn ai nấy giữ’ là vậy. Nhà thơ có uốn nắn con chữ, làm đẹp câu thơ cho bài thơ tràn trề thẩm mỹ quan thì cái hồn đó quẩn quanh trong cái trình độ thơ đó mà thôi. Khó để gọi là thơ siêu thoát. Như đã nói thơ là thức; dù cho thơ biểu hiện dưới hình thức nào hay ẩn tàng, ẩn dụ nét thơ vẫn chứa đựng một chất liệu thanh cao diệu vợi. Thức ở đây không phải là thức tĩnh mà thức là nhận biết (acknowledge of sence) của tri thức. Anh bửa củi đứng giữa rừng cảm tác thành thơ nhưng cảm thức đó là thức của vô-thức-thơ. Hiểu biết tới đó thì thơ tới đó; chớ không thể vượt qua tầm nhìn của tri thức. Hiếm khi mà nắm bắt được cái thức có trình độ. Dẫu có sở học chăng nữa nhưng ‘khí thế’ không phải con nhà tông thì nó cũng lộ ra trong thơ cái đặc chất đó. Suy xét như thế có tính chủ quan và phiến diện. Nhưng đi sâu vào vị thơ ít nhiều có cái chất thơ phản ảnh trong ấy: Nguyễn Bính là nhà thơ trữ tình nhưng nhìn sâu vẫn thấy được khí thế của con nhà thơ và nhiều nhà thơ khác cũng một trường hợp tương tợ cho nên thơ họ giàu là vậy. Thơ không đơn giản, Người ta chỉ liếc nhìn một đôi câu hay nhâm nhi cũng đủ thấy cái thực chất trong thơ một cách trọn vẹn. –Nothing simple. One glance, the repetition half aloud of a couple of verses sufficed (Hermann Hesse by On Poems)* .
Thượng đế cho mỗi người mỗi hồn khác nhau, mỗi mặt khác nhau nhưng phải biết phân bón, vun xới, điểm tô thì cái mầm đó mới phát tiết tinh anh; ngoại trừ thiên bẩm ngay cả hội họa cũng thế đều phải có hồn và thức. Dù có lột cho cạn cùng chất sắc đó nó vẫn còn nguyên trạng của tự nó (itself) trong thơ, trong tranh. Nói chung trên bình diện văn học nghệ thuật đều bao gồm một chất liệu của hồn và thức thời mới liên hợp vào nhau mới sáng tỏ ý và lời, nhất là nhu cầu của thơ. Văn thơ họa nhạc là tương thức.
Trở lại câu hỏi thơ là gì? Thơ là dạng tính của cõi phi. Thơ không là gì cả và chẳng có gì cả để đề xuất hay bình giải mà đi tới bí tỉ, sáo mòn, dẫn chứng lối cổ xưa không còn là hiện đại hóa (modernization) cho một nhận định hay phê bình về thơ. Thơ không đặc câu hỏi mà đã đặc câu hỏi thì không còn là thơ mà hoàn toàn phá vỡ hồn và khí thơ. Ngược lại; thơ là đặc quyền của cái gọi là bất khả tư nghị. Nói thế tất thơ đã khống chế một cái gì của riêng mình? Đành vậy; nhưng phải có tư duy thâm hậu chuyển hóa thành thơ thời mới mong có được ngữ điệu hay ngữ ngôn của thơ. Ở hoàn cảnh này không vì cõi phi mà phá ‘luật’ của giới hạn thơ. Thơ không đòi hỏi cầu kỳ mà đòi hỏi một cái gì như-nhiên trong suốt; có vướng lụy, phàm tục thơ cũng là trong suốt. Điển hình của hai nhà thơ đương đại Hàn Mạc Tử và Tố Hữu. Một chất thơ khoa học thơ và một chất thơ khoa học chánh trị thơ; thời xem cái nào là tồn lưu và cái nào là hủy diệt. Tuy nhiên; không vì quá lãng mạn mà làm cho thơ tắt nghẽn giữa dòng đời trôi chảy, thơ cần phải thông-hóa và không-hóa mới thành thơ. Đó là siêu lý của thơ có tính chất triết học, ngay cả trong thơ bình dân như ca dao, tục ngữ, hò vè đều hàm chứa một triết lý nhân sinh trong đó. Làm thơ là lấy cái tủy của thơ chớ đâu phải viết lên cái cảm thức đó là thành thơ của người thi sĩ. Ngày nay có nhiều nhà thơ đứng trên quan điểm đó; nghĩa là nhìn thấy mình nhiều hơn thấy người. Hẳn nhiên! Nhưng cần có một hòa đồng nhân thế thì thơ mới truyền lưu. Còn như thơ kể chuyện, thơ tự sự, thơ sức khoẻ, thơ ta bà, thơ thời sự vẫn cuộn vào đó cái hiện hữu chính mình, một ‘cái ta’ ẩn tàng trong đó. Thơ như thế khác chi lấy dao chém vào thơ. Kẻ bửa củi, thằng bé lên năm làm thơ là làm thơ. Lão Tử (Lao-Tzu) nói: ‘cho dù đất sét có thể nắn ra cái bình nhưng thực chất của cái bình là trống không’(though clay may be moulded into a vase; the essence of the vase is in the emptiness). Ngày nay thơ vượt bức tường âm thanh qua nhiều giới tính, phát huy qua nhiều thể loại khác nhau, phát sinh nhiều khuynh hướng: siêu thực, dã thú, đa đa, lập thể, thơ lắp, thơ sờ và thơ khối…, Chủ xướng giòng thi ca đương đại: tự do, không vần, thơ xuôi, hình thức, tân hình thức, thơ vô nghĩa và ngay cả thi ca trình diễn…Bất luận xây dựng dưới hình thức nào, thể cách nào. Mặc; ‘cái đặc quyền của cái nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không biện lý mà vẫn thu thập’ (J. M. Guyau) đó mới là thực chất của thơ.

Thơ thường là sự phơi mở hay bày tỏ một cái gì chất chứa trong tim; hầu như những nhà thơ trẻ muốn có một ‘thẩm quyết / verdict’ về cái gì mình muốn nói và muốn tìm đến nhà xuất bản để gởi gắm tâm hồn. Và; những thi sĩ trẻ luôn luôn muốn tạo ngạc nhiên và ‘ngộ’ được cái của mình. Có người; có kinh nghiệm do thiên phú hoặc họ thu lượm được từ bạn đồng song nếu không ấp ủ trong trứng nước của người mẹ họ -if not from their mother’s womb- nghĩa là sinh ra để làm thơ (born to poet). Miệt thị quá! có tài về thơ là một chuyện nhưng tài mà không trí (thức) thì cái đó gọi là thơ xuôi (plane); như đã nói ở trên phải song hành thì mới tuyệt xuất còn bằng không thi uổng công tạo hóa(!). Chân lý mà nói ở cái tuổi dậy thì đã chớm nảy ý thức yêu, đượm trong hồn một tinh thần lãng mạn của tự thức và từ đó xâm nhập vào tiềm thức cho tới khi kết tinh và linh hóa vào trạng huống của thơ và chính sự cớ đó đã chìm lắng vào tâm hồn ‘thi nhân’, do đó; ngàn bài thơ đều vướng tình, thể hiện dưới thể điệu khác nhau, đôi khi ngợi ca, đôi khi che giấu mà tưởng rằng khó có ai biết được nỗi lòng của mình, nhưng thơ tức là người; mà họ tưởng độc quyền trong cõi phi đó. Nếu tương phản được; thời đó là bài thơ hay, cảm hóa được, còn bằng không bài thơ đó không nhìn đó là thơ –if it resembled them; it was good , otherwise it was of no account.(Hermann Hesse / My Belief). Điều này không phải là mục đích càn dở. Nhưng ở đây chúng ta hướng đến nghệ thuật thi ca không những chỉ moi móc bài thơ dở để ‘vạch lá bắt sâu’ mà đào sâu vào cái lý của thơ; cái sự cớ này thường thấy ở những người làm thơ, ngoại trừ bài thơ đó làm ra cho chính họ mà mỗi đôi khi cái quan niệm đó hóa ra tầm thường không cần thiết phải làm, thế nhưng dòng chảy còn tồn tại và cứ nhìn mình là chính, là hay hơn người cho nên ‘posted’ được là nhu cầu của thi nhân. Và; dần dà nó trở thành thói quen (bad habit). Cho nên chuyện làm thơ không phải dễ và đơn giản, vì rằng thơ ai làm cũng được từ thượng vàng hạ cám nhưng phải nói một cách chân chính thơ có ba loại thơ: thơ có hồn, có chất thì gọi là nguồn thơ ‘lý tưởng’, loại này cực siêu để trở nên vô-ngôn-thơ còn hầu hết là loại thơ thường tình, phổ thông, đơn điệu có khi còn gọi là vô-thức-thơ. Có một vài sự cớ hiển lộ ở chính nó đưa tới mơ hồ tối nghĩa (nếu được coi là vô-nghĩa-thơ). Trường hợp như thế bài thơ trở nên tẻ, khô, héo và không có sinh khí; mà là một lỗ trống, như có cái gì bộc phá chống chế thơ.–it was at once boring, dry and lifeless; it was full of holes, something in the rebelled against it. Không chừng nhà thơ cho rằng nhận định như thế là thái độ không hợp thời trang (?). Một đôi khi sự cớ xẩy ra một cách đơn giản, ngẫu nhiên đối với người đọc cho là bài thơ dở và từ đó trở nên định kiến giữa tác phẩm và tác giả. Nhưng không lâu những gì cho là xấu (bad poems), đột nhiên tìm thấy mùi hương trong đó, một cái gì lạ lùng nhân thế, một cái gì hồn nhiên lạ, hiển lộ một cái gì dịu dàng và một cái gì lầm lở, sai sót đều được chạm tới một cách đặc biệt, bởi; tất cả là dấu hiệu thân ái, vui thích một lối bày tỏ trong thơ như một đối chiếu, so sánh của thuật ngữ thơ và làm cho bài thơ đẹp ý, đẹp tình. Gần như một lối chơi chữ có tính bông đùa mà nghe như bình thường. Sở dĩ có những dáng thơ như thế một phần chịu ảnh hưởng quá nhiều trào lưu tư tưởng mới; nhất là các khuynh hướng thơ, đó là nhu cầu đòi hỏi của thời đương đại, ngay cả những nhà thơ của những trường phái khác nhau. Những bài thơ nổi tiếng trước đây đều được coi là dòng thơ cổ điển và đứng sau trào lưu mới, gọi là tân thi ca (new-poetry) nó khống lĩnh toàn cầu để chế ra nhiều thể loại khác nhau. Thi vị hóa từ những nhà thơ trẻ, tâm hồn trẻ, sáng tạo một ngữ ngôn mới lạ, dù rằng đọc lên nghe ngủng ngẳng nhưng lại ăn hợp thời đại. Thi ca đó được gọi là thi ca đương đại, vấn đề của người làm thơ hôm nay là phá luật để tạo hiện tượng. Phỏng chừng như những gì họ sáng tác ra được là hợp tình, hợp lý. Ý thức chủ quan đã đánh đổ họ, nhưng không; đôi khi giòng thơ trẻ làm mới trong cách trình diễn mà không bắt gặp cái dở nằm trong thơ. Lý do dễ tìm thấy nguồn cơn cho một bài thơ: trải vào đó một vài cái không đều đặng như tiếng gào, tiếng dục, dáng điệu một tác động trong hồn sự sống như tìm cái thế phòng ngự cho chính nó hoặc để trở nên ý thức cho một cảm thức qua kinh nghiệm làm thơ. Có thể đó là một phát khởi từ tâm thức mà ra hoặc là chức năng quan trọng không còn là thơ mà là phán xét hay, dở của bài thơ. Có vô vàn ngẫu hứng thành thơ và có vô vàn lý do trong ngữ ngôn của thơ. Không có thi nhân nào hay hơn thi nhân nào, không có thi nhân nào là đúng hơn cả để yên vị vào đó –No one of them does better than the others, no one is more in the right than the rest (The Soul of Poems by Hermann Hesse).
Thời bây giờ; những bài thơ ‘đẹp’ tuồng như có nghi ngờ cái gì không thực trong đó và một cái gì lấn cấn trong đó, những thứ đó đã thuần hóa và thích nghi như chuyên môn và nghi thức.Và; tuồng như là thế giới riêng tư của nhà thơ, đỏm dáng tỏ ra hay chữ; cái đó hoàn toàn ngố ngáo đến người đọc và làm cho người ta nghĩ đến cái hay không còn nữa ở bài thơ đẹp (beautiful poems). Để rồi cùng nhau chấp thuận dễ dàng, tất cả thuần thục, tất cả giống như thân ruột, đăng đàn diễn tế một cách vô tư. Tư duy đó đứng lại ở người làm thơ, còn tư duy của người đọc là chạy cho tới khi đụng phải một vị thơ thực chất, trong sáng không chứa chất vị ngã. Chớ đừng nghĩ bài thơ xấu là dở; nó vẫn có cái tinh anh của nó .Từ đó người ta thấy cái đẹp trong cái xấu của thơ (beautiful ‘bad-poems’). Như thế không một bài thơ nào có thể cho là dở tệ. Cần phải chiêm nghiệm mới thấy được thơ. Ngay những bài thơ năm ba chữ là thể loại khó đúc kết, nếu chứa một bản ngã tự tại, vì; thơ hay văn mà có ‘cái đáng ghét’ trong đó thời thể loại đó coi như không phải là thơ. Loại đó chỉ là thể thơ trình diễn dưới một góc độ nào đó thôi. Bất luận là gì phải có hồn và thức mới kết duyên với thơ. Nhớ cho! Cảm hứng đưa tới thơ, chớ thơ không đưa tới cảm hứng. Thơ dễ cho mọi người nhưng thơ rất chướng khí và khó tính; được cái là giàu lòng vị tha. Ở điểm đó mà thơ mọc lên như cỏ. ‘Thượng đế đã sanh ra nhiều thi sĩ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

Giờ đây có một vài điều xẩy ra trong thơ với điều kiện giảm đi nỗi ưu tư, ràng buộc luật lệ hay cả nể mà cần buông thả để cho thơ được tự do, có thể đó là điều làm cho nhà thơ nhẹ nhõm tâm hồn cho mình và cho người khác, có thể là một linh động và một cảm thức trong thơ. Đó là một bài thơ đẹp! Dù cho đây là điều chắc chắn vô nghĩa (no means). Bài thơ ‘đẹp’ (ý và lời) làm cho nhà thơ yêu qúy, phẩm chất của thơ đã tạo được phần nào giá trị của thơ; đó là cái không cần phải chú ý đến ngọn nguồn thơ, thần thánh hóa hay vô tội của thơ; những thứ đó đi vào tâm của thi nhân bằng tất cả giác quan và ý thức, khêu gợi trong ký ức thâm sâu những gì khoái cảm tiền kiếp hay về một cõi xa mờ đã khuất. Vì thế thơ dở hay thơ hay chỉ đến trong một khoảnh khắc ngắn ngủi để rồi đánh giá một cách vội vàng. Vậy thì đọc thơ làm chi? Không một thi sĩ nào lại đi làm một hay nhiều bài thơ dở cho chính họ? Thử xem và sẽ thấy những dấu hiệu trong thơ dở. Nói cho ngay đôi khi trong cái dở nó đã làm cho mình thích thú, hơn là đọc những bài thơ hay có tính từ chương, qui luật vô hình trung tạo cảm giác lạ lùng, xa lạ không chừng lại chóng quên. Đứng trên lăng kính này không thể cho ta một định nghĩa xác quyết về thơ, trong hồn thơ nó bao hàm và chứa đựng cái ‘thánh thể’ ẩn tàng mà làm cho thi ca trở nên sinh động ngay cả bài thơ dở cũng có cái sinh động của nó. Cái sự diễn giải thơ tợ như diễn giải phim ảnh; nghĩa là có khúc cần phải giữ và có khúc cần phải cắt bỏ, cốt tạo một bố cục chặt chẽ. Tuy nhiên những bài thơ như thế vẫn liên hoàn. Cho nên chi dưới bất cứ dạng thơ nào đều có một giá trị tối thượng của nó. Phê bình thơ là một nhầm lẫn, là ‘tội ác’ đã khai chiến với thơ, nhưng cũng đừng vin vào thơ để tàn phá thơ; chỉ có những kẻ ngoại đạo đứng ngoài giáo đường thơ mới hành xử như thế, bởi; họ chưa đạt tới cái tinh anh hiển lộ trong thơ. Cũng không trách điều này vì thơ muôn vàn lý sự của nó. Nó có một cõi riêng, bởi; cái đẹp của thơ tạo nên cái nhìn khát vọng, tạo một vũ trụ thơ, vũ trụ của dự cuộc. Do đó thi ca có một quyền hạng tối hậu: bất khả thi và bất khả tư nghị. ‘thi thị khả giảng bất khả giảng chi gian’. Là thế đó!
Thi ca trong sáng và thực chất là thi ca thời thượng, qúy phái, trang trọng. Thơ siêu thoát là thơ không trói buộc, hệ lụy hay vị ngã mà trong đó phải có hồn và thức thời mới hòa hợp trọn vẹn lẫn ý và lời dù là thơ bình dân đi nữa. Thơ đời nào cũng vậy hay bất cứ trường phái, khuynh hướng nào, dưới mọi dạng thức trình diễn của thơ; việc yêu cầu tối thiểu là phải thoát tục và thực tướng của thơ thời mới thành thơ ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc 17/8/2014)

* Hermann Hess (1877-1962) Văn thi sĩ Đức. Nobel Văn chương 1946.

ĐỘC ẨM / SẦU QUÊ / CÔ ĐƠN

Nguyên Lạc

 

ruou va em

Trang Nguyen Trong Khoi

ĐỘC ẨM
.
Dallas tìm đâu người tri kỷ?
Để ngất cùng ta khúc Hồ Trường
Nhìn quanh nhìn quất cao ốc Mỹ
Rượu uống mình ên có đau không?
.

SẦU QUÊ
.
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu” [*]
.
Chiều xuống vời quê nơi nao hở?
Đèn Cali xanh đỏ phát rầu
Trên sông khói sóng nơi đâu tỏa?
Ở đây cao ốc dựng bóng sầu
.
Tri kỷ nhìn quanh … một tiếng thở!
Rượu uống mình ên có sao đâu?
………………
[*] Trời về chiều muộn, tự hỏi quê nhà nơi đâu?/ Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn! – Hoàng Hạc Lâu – Thôi Hiệu
CÔ ĐƠN

mua rungLất phất chiều mưa bay phố núi
Mắt vời xa. Ly cà-phê đắng… Ta chờ!
Chờ ai? Em? Người từ tiền kiếp?
Đến rồi đi! Tan rồi hợp? Huyễn mơ
.
Người đến nhé. ta vẫn chờ em đó!
Phố chiều nay mưa sợi nhỏ … rất buồn
Khói thuốc mờ. mắt đợi. mong manh
Người sẽ đến! Có. không? Mộng. thực?
.
Đừng vội vã nếu là có thật
Ta vẫn chờ
chờ mãi… đến lai sinh
Sẽ hạnh ngộ?
Nào ai biết được
Chỉ một điều… ta. vẫn mãi chờ em!
.
Lất phất chiều nay mưa phố núi
Khói thuốc cay. Ly cà-phê đắng… Ta chờ!
Chờ ai? Đợi chờ ai đây hở?
Chỉ một điều rất rõ … cô đơn!
.
Nguyên Lạc

 

Nếu một mai khi Tự Do đến

Khê Kinh Kha

peace-symbol

nếu một mai khi Tự Do đến trên quê hương
em nhớ về thăm giòng sông cũ
soi dùm anh bóng trăng sáng quê nhà
nhặt dùm anh cánh bèo non trôi dạt
hát cho anh khúc hát ngày được mùa

nếu một mai khi Tự Do đến với non sông mình
em nhớ về thăm quê làng của ngoại
em nhớ trồng lại cây bưởi nhe em
vì nơi đó anh đã bao lần trèo hái
hái cho em bông bưởi trắng như tình mình

và em nhớ về tìm lại tuổi thơ
chắc em sẽ khóc vì tuổi thơ đã qúa héo khô
ngôi mộ mẹ cha giờ chắc cũng tìm không ra
em đừng tủi đừng hờn em nhé
vì sự thật quê hương đã có qúa nhiều tan nát
qúa nhiều bạo tàn và tù ngục em ơi
và em hỡi đã bao người đã rơi lệ vì giặc Tàu xâm chiếm
và anh vẫn từng đêm nuốt lệ
lệ cho quê hương, lệ cho dân tộc
lệ cho người đã khuất và người còn lại
lệ cho trẻ mồ côi, cho mẹ gìa đơn lẻ
lệ cho non sông, cho tổ quốc Việt Nam

nếu một mai khi Tự Do về lại trên non sông
em nhớ về thăm quê nghèo em nhé
em hãy đốt cho anh vài nén nhang
bên ngôi mộ những người chiến sĩ VNCH xưa
bên ngôi mộ những người trẻ yêu nước hôm nay
và biết đâu trong trăm ngàn ngôi mộ đó
em sẽ thấy một ngôi mộ với cây bưởi vừa mọc
đó là mộ của anh em ạ
và đó là quà anh dành tặng riêng em
vì xác thân anh đã kiêu hùng tặng cho non nước
và máu anh đã tặng cho giòng sông

nếu một mai khi TỰ DO thật sự đến trên đất nước VIỆT NAM mình
hát cho anh bài tình ca non nước thanh bình
và bài tình ca lãng mạn anh đã soạn cho em
trong những ngày tháng mình yêu nhau
yêu nhau như sỏi đá trăm năm
và dạy cho con mình lịch sử oai hùng của dân ta
một Trưng Vương, một Triệu Ẩu
một Quang Trung, một Đinh Bộ Lĩnh
một Trần Hưng Đạo
và một Hồ Xuân Hương
một Bà Huyện Thanh Quan
một Nguyễn Du

nếu một mai khi Tự Do đến trên non sông Việt Nam mình
em hãy hít thật mạnh dùm anh những luồng không khí thanh bình
những luồng không khí tự do và đầy nhân quyền bình đẳng
và em nhớ mỉm cười bắt đầu làm duyên trở lại em nhé
để trong gió thoảng anh hân hoan hôn mái tóc đã bạc của em
anh sẽ mãi mãi bên em
trên quê hương VIỆT NAM mình
em ơi

Khê Kinh Kha
(Michigan 1969)

LỤC BÁT RU

ao dai hoa

Anh ru sợi tóc em dài
Làm duyên con gái miệng hoài dạ thưa

Anh ru giọt nắng đong đưa
Về giăng cánh mộng như xưa chốn này

Anh ru nỗi nhớ trong tay
Thả lên trời hóa mây bay trắng lòng

Anh ru đời với ước mong
Sẽ yêu thương mãi ở trong kiếp người

Anh ru, ru mãi, ru hời…
Tình yêu thêm đẹp những lời cho nhau.

Tịnh Đàm
(Sài Gòn)

CHIỀU LẠ NGÂU VỀ ĐÊM VỠ…

Đặng Xuân Xuyến

biển chiều VTV
CHIỀU LẠ
– Tặng L L –

Sợ đêm về quẩn gió xáo xác khuya
Cố vét vớt nắng chiều rơi trên lá
Chênh chao thể nụ cười nhòe áo lạ
Te tẻ chiều nhớn nhác nhón chân qua.
*.
Hà Nội, chiều 02 tháng 10.2016

NGÂU VỀ

Chiều nay thấy se se lạnh
Hình như gió lại chuyển mùa
Ngâu về loãng chiều nên lạnh
Người tình tối có ghé qua…
*.
Hà Nội, chiều 30.08.2017\

ĐÊM VỠ
– Tặng V yêu –

Đêm vấp em
Rỏn rẻn cười
Em cắn đêm vỡ
Mi huyền ngân ngấn hạt ngọc vương.
.*
Hà Nội, đêm 01 tháng 07.2018

ĐUỐI

Em khẽ cúi. Giọt buồn vương khóe mắt
Đốt lòng anh heo hút ánh em nhìn
Nghèn nghẹn đắng niềm đau anh chôn chặt
Nửa đời tàn. Đuối sức một niềm tin.
*
Hà Nội, 10 tháng 04.2018

CHIỀU
– Thân tặng nhà văn Lê Mai –

Bóng nắng xiên xiên
Đổ chiều vời vợi
Gió hiu hắt gió
Buồn lay lắt buồn.
*.
Hà Nội, 12 tháng 05.2017

MỘT TÔI
– Tặng cháu Đặng Hải –

Một chai. Một chén. Một tôi thôi
Một đêm gió quẩn chỗ tôi ngồi
Một bàn tay lạnh quờ vai lạnh
Một tiếng thở dài tôi với tôi!
*
Hà Nội, ngày 22 tháng 11-2017

ĐÒ CHIỀU

Chiều ghé qua bến cũ
Kìa, lầm lũi dáng ai
Tiếng gọi dồn, khắc khoải
Ơi đò … Ơi… Ơi đò…!
*
Hà Nội, 30 tháng 01.2018

CHƠI ĐÊM

Tự dưng lại muốn đi chơi phố
Nhặt tiếng ai cười khua vỡ đêm
Ờ nhỉ… lâu rồi quên chơi phố
Ai người năm đó có chơi đêm?
*.
Hà Nội, đêm 21 tháng 07.2019

BUÔNG
– Với N T N –

Chai rượu mừng tôi rót
Chén rượu buồn em bưng
Nào thì ta cùng cụng
Chuyện đời, thôi nhé, buông.
*.
Hà Nội, chiều 03 tháng 08.2018

CHÚT YÊU …

Có chút Thu về trong nắng say
Có mùi Sen dịu thoảng nhẹ bay
Có người trai ấy chiều hôm đấy
Vun một miền yêu nhẹ dâng đầy.
*.
Hà Nội, ngày 20.08.2018
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

CƠN MƠ VÀO ĐÔNG – ĐÔI MẮT SAU GỌNG KÍNH

Châu Thạch

hn2

CƠN MƠ VÀO ĐÔNG
Tuổi vào đông mộng xuân vẫn còn thắm
Trong chiêm bao ta thấy dáng em đi
Quả tim ta tha thiết khối tình si
Yêu như thể cả tinh cầu trăng gió!

Rôi em tan trong vườn sương hoa cỏ
Ta lang thang qua năm tháng hao gầy
Nhớ như thu, vàng lá úa trên cây
Đau như thể cả vành trăng khuyết tật

Em mang cả linh hồn ta biến mất
Xác thân ta rơi xuống cõi dại khờ
Ta đi hoài đi mãi giữa vu vơ
Tìm và gọi đến thơ thành thổ huyết

Đêm bỗng động như ai bung nắp huyệt
Ta tỉnh người, nghe thoảng ngát hương em
Em nguyên hình gần lắm, cạnh một bên
Ta vẫn thấy còn trong lòng hờn giận!
Châu Thạch

ĐÔI MẮT SAU GỌNG KÍNH
Đôi mắt ấy nhìn đời hai thế kỷ
Thấy tình yêu và thấy cả hận thù
Thấy mặt trời và thấy cả âm u
Thấy rằm sáng và thấy đêm trừ tịch

Đôi mắt ấy như trang ghi cổ tích
Vết thời gian hai bờ giấy xôn xao
Thuyền linh hồn trôi giữa giấc chiêm bao
Dòng ký ức có vô vàn biến động

Sau gọng kính màu đen ta mơ mộng
Mắt vẫn ngời trong buổi tuổi vào đông
Ta vẫn thấy em từ thuở xuân hồng
Ta vẫn trẻ như một thời si dại

Lột gọng kính cầm tay ta sợ hãi
Đời vắng tênh, hiu hắt giữa thời gian
Gió ban trưa thổi nóng xuống đại ngàn
Các em tắm, cười vang hồ tĩnh lặng

Ta rơi xuống một khung đời trống vắng
Thấy hư vô tay trắng, ngắm hồ trong
Có cái gì như băng tuyết trong lòng
Ta chán ngán bờ bên nầy sự sống

Ta ao ước bờ bên kia sống động
Đèn Ngôi Lời chiếu sự sáng thiên thu
Đời văn chương không gợn chút mây mù
Ta bỗng gọi, Chúa ơi con đã hiểu!!!
Châu Thạch

TẢN MẠN VỀ KHỔ ĐAU VÀ VƯỢT THOÁT KHỔ ĐAU

tản văn PHẠM NGA

khodau 1

“Đời người là bể khổ!”, sống ở đời đã là người thì ai trong chúng ta cũng đều ít nhiều từng trải qua những kinh nghiệm hiển nhiên, rất cụ thể về khổ đau. Nguyên từ ‘khổ’ cùng từ ghép ‘khổ tâm’thường được dùng để biểu thị những tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn về tinh thần, cảm xúc, như khi bị mất người thân, mất tài sản, thất tình, thi rớt, bị đuổi việc, làm ăn thua lỗ, tù tội…; còn từ ‘đau’ cùng từ láy ‘đau đớn’ biểu thị nghiêng về tình trạng xấu, tiêu cực, thương tổn nơi thể xác hay cảm nhận giác quan do báo động ‘đau’ từ hệ thần kinh, như khi bị thương tích trên người, bệnh tật, đau nhức ở một bộ phận cơ thể, giải phẫu…
Tuy nhiên, như cả phương Tây cùng phương Đông đều công nhân, con người tức TÔI/CHỦ THỂ từ căn bản là một thực tại duy nhất/thống nhất, có 2 phần TÂM lý và THỂ lý hoạt động song hành nhịp nhàng, luôn hỗ tương, ảnh hưởng nhau. Ví dụ: nói “Tôi khổ vì cái khớp vai đau mãi” là chuẩn nhất theo quan điểm ‘Tâm thể lý song hành’nêu trên, cho thấy cái tôi chủ thể đã cảm nhận mình bị khổ (thương tổn tâm lý) khi khớp vai bị đau (thương tổn thể lý). Tương tự, trong ngôn ngữ văn chương một chút thì có từ ‘đau thương’ thật hay, bắt đầu bằng chữ ‘đau’nghe nghiêng về thể xác nhưng chữ ‘thương’ đi kèm đã cho thấy ngay là chủ thể ‘tôi’ đang bị thương tổn nhất định cả về tâm hồn lẫn thân xác. Còn nói: “Răng tôi đau” thì ai cùng hiểu, nhưng chính xác hơn nên nói là “Tôi đau răng”, theo nghĩa ‘Tôi đau ở răng’.
Cũng chính con người chúng ta, khi rơi vào khổ đau thì cái khổ cái đau dù nặng nề, chua xót đến mấy, ta luôn tìm cách này cách khác để vượt thoát thảm trạng một cách gần như phản xạ tự nhiên Đó cũng là biểu hiện của bản năng tự vệ/sinh tồn bẩm sinh của loài người, vốn trong cuộc sống đã không ngừng chống trả lại khổ đau mỗi khi các dạng khổ đau xảy đến như những mối nguy đe dọa hay đã trực tiếp xâm hại nhân cách tâm lý hay sức khỏe thể xác.

1.
Đời người là bể khổ mênh mông, đối lại thì con người cũng có những phương cách chủ quan rất đa dạng nhằm vượt thoát khổ đau. Thật đơn giản như chuyện một đứa bé bị ngã, người mẹ có mặt lúc đó sẽ ngay lập tức ra tay giúp con mình thoát ra khỏi cảm giác đau đớn và sợ hãi. Mỗi bà mẹ đều có cách riêng để dỗ dành con mình, người thì vừa vuốt xoa chỗ đau vừa dịu dàng trấn an: “Không sao đâu con à. Nè không đau, không đau nghe!”, người thì ôm con vào lòng, hôn lên chỗ đau, thủ thỉ: “Cục cưng của mẹ hết đau nhé!”; có người còn giả bộ đánh nhẹ lên mặt sân, cho con mình thấy là đã trừng phạt ‘thủ phạm’ vừa khiến nó ngã, rằng; “Chết mày nè, dám làm cu Tí đau hả? Chết mày nè!”.
Tương tự những bà mẹ cố gắng trấn an con mình, trong một số trường hợp gay go người viết bài này cùng đã cố gắng tự trấn tỉnh bằng niềm tin tôn giáo, điển hình như cái lần đầu tiên không-thể-nào-quên bị BS làm nội soi ruột già trong bênh viện. Lần đó, bởi không được hướng dẫn trước chu đáo nên tôi không biết yêu cầu nội soi có gây mê, cách này dù có tốn tiền hơn gấp 2.5 lần so với không gây mê đi nữa cũng rất đáng làm, bởi khi thấm thuốc mê, thiếp đi thì mình không thể cảm thấy đau đớn gì, coi như ngủ một giấc dậy mọi việc xong xuôi hết. Đằng này, tôi đã phải chịu đau đớn khủng khiếp khi BS đẩy cái ống nội soi dần dần vào sâu trong ruột già mình và đau đến toát mồ hôi, muốn xỉu khi ống quẹo ‘cua’.Tôi đã mấy lần báo “đau quá bác sĩ ơi!”nhưng ông này chỉ trấn an tôi: “Chú ráng chịu đau chút đi, sẽ xong nhanh đây!”. Tôi cũng có nghe cô y tá nói nhỏ: “Thôi BS cho tạm ngưng, chích cho ổng một mũi giảm đau đi, cho ổng đỡ đau chút”, vậy mà cái ông thầy thuốc khó thương kia không rõ vì lý do gì đã không đồng ý… Trong cơn đau tôi chợt buộc miệng niệm, niệm liên tục: “Nam mô cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm bồ tát” như đã từng niệm trong một số hoàn cảnh ngặt nghèo, sinh tử trong cuộc đời. Kết quả theo tôi nhớ là cảm giác đau đớn có giảm bớt đôi phẩn, giúp tôi đã có thể tiếp tục chịu đựng cái đau cho đến khi thủ thuật nội soi kết thúc.
Trong cơn khổ đau, nhiều người trong chúng ta còn tìm cách chuyển hướng tâm tưởng mình từ cơn phiền muộn tối tăm sang các ý tưởng, hồi tưởng tươi sáng hơn, như: vừa mất người thân thì ôn lại quãng thời gian cùng nhau gần gũi, cùng sinh hoạt thật hạnh phúc với người ấy trong gia đình; đang thất tình, bị cách trở thì nhớ lại các kỷ niệm vui vẻ, ngọt ngào với người ấy; đang thất thế, bị ‘đì’ ở nơi làm việc thì nhớ lại thời được cấp trên quí trọng, đồng nghiệp nể nang bởi công lao, thành tích của mình…
Có điều là trong trường hợp đau khổ vì tình, coi chừng bị phản ứng ngược khi hồi tưởng những kỷ niệm vui vầy bên người yêu. Làm như vậy có thể sẽ nguôi ngoai nhung nhớ phần nào, nhưng ngược lại, cũng có thể ‘khó sống’ hơn khi bị dội ngược vào cảm giác cô đơn, hiu quạnh không thể chịu nổi, nhất là khi còn phát sinh nghi ngờ, oán trách.
Nhân đây mới thấy vai trò ‘hai mặt’ tráo trở ghê gớm của óc tưởng tượng. Cũng chính quan năng tâm lý này có thể giúp kẻ thất tình hay bị tình yêu trắc trở tạm thoát khỏi khổ đau một khi chìm đắm trong hình ảnh tưởng tượng rằng mai mốt đây làm lành, tha hồ âu yếm vui vẻ bên nhau…; nhưng ngược lại, cùng chính óc tưởng tượng có thể vẽ vời, tô đậm, bi đát hóa thêm thảm kịch, chẳng hạn tưởng tượng người mình yêu giờ này đã bôi bạc, đang tay-trong-tay với người khác.
khodau 2Rồi trong nỗi khổ tâm vì bị thua thiệt, mất mát quyền lợi, địa vị hay bị làm nhục, khinh rẽ, xua đuổi…, người ta có thể tự an ủi, như nghĩ: “Nhìn lên không bằng ai, nhìn xuống không ai bằng mình” hay nghĩ cụ thể đến một người/những người thua kém hơn mình nhiều về mặt này/mặt khác, đáng lý họ phải khổ tâm nhưng thực tế họ vẫn cứ đang vui sống bình thường, vậy mình tiếc nuối làm gì nhừng danh vọng, địa vị vừa mất? Nhìn chung, người khổ tâm vì bị thua sút, mất mát quyền lợi, địa vị, có thể dễ tìm cách cứu vãn, dễ nghĩ ra cách giải quyết thảm trạng, khắc phục những thiệt hại mất mát hơn một khi họ chịu tự ‘phá giá đồng bạc’, bằng lòng với điều kiện, thân phận hiện có. “Cái số, cái mạng của mình như vậy mà! Đành chịu thôi!”. Lúc này, niềm tin vào tín ngưỡng, tôn giáo có dịp lên ngôi, và Trời, Phật, Chúa sẽ được con người khổ đau khẩn thiết kêu cầu như những thế lực vô hình, siêu nhiên sẽ đứng ra độ trì, giải cứu cho họ thoát ra khỏi nghịch cảnh, thảm cảnh gây khổ đau.
Đáng suy nghĩ là có người lại vượt thoát khổ đau bằng cách, dù thực tế thảm trạng vẫn diễn ra y nguyên thế nhưng họ vẫn như nhắm mắt phủ nhận (với chính mình) giá trị của nguồn cội hay tác nhân gây khổ đau cho họ – tâm lý này được gọi là ‘ngụy tín’, làm liên tưởng đến con đà điểu, giống chim có thói cứ gặp điều gì nguy hiểm đe dọa quá thì chỉ rúc đầu vào bụi rậm, không chạy trốn nữa, bởi đà điểu “nghĩ” rằng khi mình không thấy mối nguy bởi đã rúc đầu vào bụi thì mối nguy sẽ biến mất thôi! Còn trong vở kich dân gian Nghêu Sò Ốc Hến, có cảnh thầy bói Nghêu bị lính của quan huyện chận đường tra xét, đã tát tai lão thầy bói mù mà miệng lưỡi rất ranh ma, xiêng xỏ cay độc này, lão Nghêu vẫn cười gằn, bảo tên lính: “Mày đánh tao, tao không đau gì cả, mày mới đau vì khác gì mày đã đánh bố mày!”.
Đỉnh điểm của tâm lý khổ nhục còn khiến người ta không những ngụy tín ‘hạ giá’, khinh bỉ đối phương như lão Nghêu mà còn nung nấu ý định đồng thời vạch ra kế hoạch trả đũa, trả thù người gây khổ đau cho mình.Hay khi đã tuyệt vọng, họ lại mơ hồ muốn tự vẫn cho rồi, như thể tin rằng chỉ có cái chết mới giúp họ vượt thoát được mọi khổ đau.

3.
Trong cơn khổ đau, bên cạnh những phương cách vượt thoát chủ quan khởi phát từ nội tâm, con người còn có thể ngẫu nhiên được giải thoát khỏi khổ đau nhờ tác động ngoại tại. Ví dụ như cơn phiền muộn có thể dần hồi nguôi ngoai khi ngoại cảnh thiên nhiên xung quanh ta bỗng có biến đổi hay ho, tích cực, như: cơn mưa hay làn gió mát mẻ thổi qua, ánh trăng mơ màng ló dạng, tia nắng mặt trời chiếu đến thật rực rỡ… Ngay trong tâm trạng bình thường, ai ai cũng đều dễ chú ý và thích thú hình ảnh của bầu trời xanh ngát, ánh trăng mờ ảo, bãi biển cát trắng ngần… Lại càng thu hút và tăng thêm hiệu quả xoa dịu niềm đau khi trong những khung cảnh thơ mộng ấy còn vang vọng tiếng hát, tiếng đàn, tiếng chim hót, tiếng sáo diều, tiếng tụng kinh gõ mõ, tiếng mẹ ru con, tiểng suối chảy róc rách hay sóng vỗ rì rào… Có lần, trong một cơn khổ đau trầm kha, tôi tìm đến một quán cà phê thật vắng vẻ ngồi gặm nhấm nỗi niềm, chợt trong câu chuyên trao đổi của hai người lạ ngồi bàn bên cạnh có nhắc đến Nha Trang, đất quê hồn hậu mà đã mấy chục năm tôi không có dịp quay về. Tự nhiên họ nhắc đến một vài nơi chốn ở thành phố này xa xưa, vốn đã rất quen thuộc, thân thương từ thời tôi còn niên thiếu đến tuổi thành niên, như: bãi tắm ở khu ‘Thông tin’ nhìn ra, cà phê Hân gần rạp Tân Tân, vườn dừa bên Kim Bồng… Tôi mê mãi lắng nghe chuyện-của-người-ta mà như trong chốc lát chợt được thoát khỏi hiện tại đau buồn này mà quay về với một chặng quá khứ thật êm đềm, để rồi nỗi buồn đau lặng lẽ thối lui tự hồi nào không hay…

3.
Do con người chủ quan tự suy lý hay do ngoại cảnh khách quan tác động vào thảm cảnh, thân tâm con người đau khổ sẽ có những chuyển biến khác nhau, nhưng nhìn chung, tiếc rằng kết quả hồi phục tâm lý hiếm khi toàn vẹn, kể cả khi nguyên nhân, tác nhân gây khổ đau không tồn tại nữa.
Do cách này cách khác, nỗi khổ tâm hay đau đớn dần hồi có thể giảm nhẹ đi, tâm trạng từ quay cuồng trong khổ hận có thề từ từ thăng bằng, tức bình tĩnh trở lại, vết thương trên châu thân có thể lần hồi giảm đau hay gần như hết đau hẳn. Hay ngược lại, khổ tâm quá sâu nặng tất nhiên sẽ rất lâu nguôi ngoai hay vết thương trên thân thể quá trầm trọng sẽ lâu lành, cứ đau âm ỉ mãi thôi.
Hẳn là khi nỗi khổ đau đạt đến cao trào, người ta thường chuyển từ bi hận sang dửng dưng, lạnh lùng, trong lòng không còn niềm vui nỗi buồn nào. Vâng, đã cạn dòng nước mắt, như một ca khúc xưa của The Rolling Stones muốn nói rằng khi ấy người ta chỉ ngồi yên, thấm thía sự bất lực của mình – có giàu có cũng không đánh đổi được gì và chỉ còn muốn được nghe con trẻ hát hay tiếng mưa rơi…
My riches can’t buy everything
I want to hear the children sing
All I hear is the sound
Of rain falling on the ground .
(AS TEARS GO BY, The Rolling Stones 1966)
Thực tế đã cho thấy khổ đau tột độ có thể khiến con người hóa điên hóa dại, la hét gây náo động hay chạy rong phá phách; ngược lại họ cũng có thể im lìm, bất động, như tâm hồn họ chợt trống rỗng, tê dại, vắng bặt mọi cảm xúc, nghĩ suy, dù là cảm nghĩ tiêu cực (chán sống) hay tích cực (hy vọng). Không còn “sóng gió trong lòng” gì nữa nhưng lại là một kiểu bình an đáng sợ!
Nguyên khoảng hơn 20 năm trước, người viết bài này có một người bạn thân đã rơi vào tâm cảnh tối tăm khủng khiếp này. Thời ấy gia đình chị ngụ ở thành phố Vũng Tàu, chồng chị là Việt kiều Mỹ về nước mờ công ty thiết kế – xây dựng ngành cầu đường. Biến cố khủng khiếp đã xảy đến, anh bị kết án từ hình về tội tham nhũng trong công trình (liên doanh) làm tuyến đại lộ lớn nhất thời đó cho Vũng Tàu, còn tên cán bộ cao cấp vốn chính là đầu sỏ chủ mưu tham ô thì chỉ bị án chung thân. Nhận xác chồng bị bắn ở pháp trường về chôn cất xong, chị bạn đã không nói một tiếng nào suốt 2 tháng, có nghĩa khổ đau, uất hận đã khiến chị tắt nghẹn tiếng nói…

PHẠM NGA
(tháng 6-2020)

SÂN GA ĐỢI NGƯỜI

chim sunset

.
Mình tôi chiều giữa sân ga
Đợi người. tôi đợi
Nhưng mà đợi ai?
Tàu qua vụt. tiếng thở dài
Cô đơn ghế lạnh. chiều phai. nắng tàn
.
Nghe hồn buốt lạnh sương tan
Mắt tìm nỗi nhớ…
Chỉ bàng hoàng đêm
Mắt đêm đèn khóc ga thềm
Về thôi! Chờ đợi chi thêm? Bóng sầu
.
Con tàu xưa ấy về đâu?
Bóng hình ngày cũ “trắng màu mây bay”
.
Ga đêm một bóng đổ dài
Đợi. Tôi vẫn đợi
Nhưng rồi đợi ai?
.
Nguyên Lạc\

CỤM HOA TRƯỚC GIÓ

VÕ CÔNG LIÊM

caysung4

NGỦ ĐÒ

sáng mồng một thả trôi con nước một mình
bóng hình em dài tay như chó ốm buồn
trăng chao động hồn ai khua thức dậy
em lột trần em cho gió bỏ hoang sơ

ĐOẠN CUỐI

tình yêu tắt thở hồi chiến sự
một nhánh đào non phơi trước ngõ
ngoảnh đầu về xưa ta cùng nhớ
hai đứa mình rất đổi ngạc nhiên

HƯƠNG THÀNH NỘI

em . nằm úp mặt khóc chiều giông tới
tôi . đút cô đơn vô bốn cửa thành

NGUYỆT

quỳnh nở hoang đêm tóc rối ngủ
bỏ lại đường xưa bóng ngã chiều

HOA PHÙ DUNG

thả cụm khói thỏa mãn
vào hư vô
ngắt cành hoa thù tạc
một mình tôi
nằm đơn chiếc ru buồn ngủ
một thoáng mơ hồ lạc ngả đường mưa

THƯ GỞI NGƯỜI TÌNH CŨ
tặng chị mộng nhiên

năm mười lăm trưởng thành trước tuổi để
tặng em chùm hoa dại trong nắng ban trưa
những gì xẫy ra sau đó em tròn hai mươi tuổi
cách năm tuổi đời bỗng nhớ buổi tròn trăng . em
ngả nghiêng cười đột ngột tắm nắng tháng hè sang
tôi . ăn trái cấm nguyên thủy đầu đời giọng nói u ơ
bỗng nhớ một cái gì chưa đạt yêu cầu để gọi tên em
hương-nguyệt-quế lần gặp gỡ cho đở khát giữa lúc
em gọi tên tôi con thú hoang suốt đời lang thang vô
thừa nhận giờ thứ hai lăm giới nghiêm cấm ngặt
tôi vẫn không tìm thấy em trong đó trước gương
soi đôi lưỡng quyền cao vời vợi nơi mặt trời ngã
xuống dòng sông trải dài tiếng chuông chiều gọi đò
qua bên kia mà tôi đang ngóng đợi một nụ cười
giao tình như lần gặp gở . lúc đó tôi muốn nhào tới
ôm vào ngực em để nghe thở từng khúc thêm kỉ niệm
và đọc lại những bức thư tình đến người thi sĩ trẻ của
rainer maria rilker như tôi gởi cho em bao nhiêu lần
gặp trên đường về từ sở thông tin thừa thiên huế
tôi đuổi mắt nhìn sau lưng em với đôi mông tròn no
hình như trong gió có tiếng nói thì thầm trên chiếc cầu gãy
làm cho đôi bờ sông nghẽn đục tiếng hò lơ mời gọi
tôi và em làm tình mưởng tượng trên sóng nước và hôn
lên má thắm giai nhân tợ như còn sót lại bên cầu vĩ tuyến
chúng mình là kẻ vong nô tình yêu không thể đổi thay mà
chấp nhận thương đau để đi vào đời thênh thang lộng gió
thổi ngang đầu và tóc em vuốt mặt tôi lần cuối cho tới
bây giờ chúng mình là cây san hô muôn màu dưới đáy biển
bây giờ chúng mình là rong rêu đu đưa những khúc tình
bây giờ chúng mình là tiếng sóng dương cầm theo sau đó
mãi mãi là tình yêu trăng sao như đã hứa ngày đầu mới gặp
em trên đường về . tôi chống nạnh bên chiếc xe đạp sơn màu
vàng thổ là quê hương mình đó có sắn ngô khoai thay gạo
đỏ nấu cháo với cá kho khô . nhớ không em . khi đã yêu
khó tìm thấy một mộng nhiên của thuở ban đầu trên đường
vào xóm ô lâu như chuyện thần thoại để nghe từng bước chân
âm thầm trên thềm gạch bát tràng in dấu hoang sơ một dạo
tôi hóa thân con thú dữ cắn xé mắt môi em
cho lệch đường ngôi . cuối cùng xin chiếc lá bàng làm
bằng chứng yêu em* (nhà em có nhiều cây bàng lá đỏ !)

trước khi treo mình trên ngọn cao
gió tạt mưa xan một kiếp giang hồ tận ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc đầu tháng 6/2020)

*nhại ý thơ Nguyễn Đình Toàn.

 

ĐẤT NƯỚC TÔI YÊU

PHẠM NGỌC THÁI

vn map

Ta nằm xuống thảm cỏ quê hương
Hát một bài ca về Đất Mẹ
Sông, núi, bầu trời qua bao thế hệ
Vẫn ngọt ngào như câu ca dao

Mẹ đã nuôi ta trong mưa nắng dãi dầu
Ta lớn lên thành người con đất nước
Dân tộc tôi gặp nạn nhiều và cũng nhiều tủi cực
Nhưng rất giàu yêu thương bao la

Việt Nam ơi!
Ta gọi tên hai tiếng của ông cha
Qua 4.000 năm dân vẫn còn nghèo đói
Hết giặc ngoại xâm. Lại lũ quan tham giày xới…
Đánh thắng bao quân thù mà mãi chửa “tròn Nhân”.

Ôi, đất nước ta yêu quí vô ngần
Thế kỉ XXI rồi, người ơi!
Chẳng lẽ cứ câu ca dao “ngày tám tháng ba” hát mãi
Hãy mở thật rộng cửa trời Mỹ, trời Âu
Vừa lấy thế chống giặc phương bắc tràn vào
Vừa mở mang kinh tế…
Cụ Phan Châu Trinh đã dậy rồi:
“dân trị tức pháp trị”
Không có gì bằng “khai dân trí”!

Ôi, đất nước tôi yêu!
Ta sống làm người của non sông. Chết làm ma đất nước.
Dẫu chưa theo được bước chân cường quốc
Hãy thương lấy ngọn cỏ quê hương
Đói khát, khổ nghèo lòng nguyện thủy chung
Không theo gót Tàu Bang hại giống nòi, dân tộc
Để con cháu muôn đời không ô nhục.

 

KẺ ĂN MÀY

Võ Công Liêm chuyển ngữ

vcl ke an may

Tranh Vẽ Võ Công Liêm “Kẻ Ăn Mày”

GIỚI THIỆU: Trong phạm vi phát triển về văn chương nước Nga. Anton Chekhov phá cách đường lối xưa cũ dựng vào đó một văn phong mới lạ với những truyện không có câu chuyện, nhưng được chú ý nhiều nhất. Giọng văn trung thực và có khuynh hướng nói lên vai trò làm người ở tk. mười chín là nhịp cầu đi tới tk. hai mươi. Những sự kiện rất mới lạ có từ những gì lớn lao mà ông đã gặp trong đời. Truyên ngắn ‘Kẻ Ăn Mày / The Beggar’ được xuất bản lần đầu có tên là ‘Nishchii’ đăng trên báo Petersburg vào ngày 19 tháng Giêng 1887. Những truyện của ông viết có tính chất năng động và thảm cảnh xã hội; ngụ ý hơn là miêu tả công khai, để lại cho độc giả nhiều hình ảnh bất ngờ. Chekhov sống và thấy đều được diễn tả dưới ngòi bút trung thực và chân tình với một chất liệu luân lý đạo đức có mục tiêu rõ ràng trong mỗi tác phẩm truyện của ông. (vcl).

***

‘Bẩm ngài, xin cho một chút tình thương, ngó tới kẻ khốn cùng này, một thằng đói rách! Ba ngày nay tôi không có một hột cơm. Cũng không có nổi năm xu để thuê một chỗ nằm. Tôi xin thề trước Chúa.
Ở tám tuổi tôi học với thầy giáo làng để rồi tôi mất luôn cái nơi cần tới nó. Tôi đọa ngoạ như kẻ bị oan. Suốt cả năm trời giờ đây tôi phải có việc để làm…’
Luật sư biện hộ Khavôsốp (Skvorsov) nhìn vào cái xác xơ bần cùng, mớ tóc nâu vàng, khoát bộ mặt thảm sầu, ngu si đần độn ở nơi hắn, đôi mắt lờ đờ như kẻ say lại thêm mụn đỏ trên gò má, hình như đã gặp hắn đâu đây; nếu thật là người mà tôi đã gặp .
Tôi hiện công tác của tỉnh hạt Kaluga. Kẻ ăn mày tiến lại: ‘nhưng tôi không có một xu dính túi. Giúp tôi đi, rũ lòng thương, tôi xấu hổ phải nói điều này, nhưng; tôi buộc lòng bởi đây là hoàn cảnh’.
Đôi mắt của Khavôsốp dòm xuống đôi giày bốt to tướng của người đàn ông, một chiếc cao, một chiếc thấp, đột nhiên y nhớ ra điều gì. Coi kià; việc này đến với tôi. Tôi đã gặp hắn trước một ngày hôm qua trên đường Sadovaya. Luật sư biện hộ nói. Nhưng; hình như anh đã nói với tôi anh là học trò đã bị tống ra khỏi đó mà không có thầy giáo làng. Anh nhớ không?
‘Không! không! không phải vậy’ Người ăn mày lẩm bẩm trong miệng, đoạn lại nói. ‘Tôi là thầy giáo làng, và nếu ông muốn tôi trình giấy tờ cho mà xem’.
‘Đừng đặt bày nghe! Anh nhớ lại đi, chính anh là học trò ở trường làng, ngay cả việc tống anh ra khỏi trường. Anh không nhớ sao?’
Khavôsốp đỏ bừng mặt, quay đầu về kẻ ăn mày mà nhìn ra vẻ bỏ ghét.
‘Đây là điều không thực, thưa ngài!’. Hắn vừa khóc vừa nói. Đây là hành động lừa gạt, bịp bợm. Tôi sẽ đưa anh tới cảnh sát. Rõ khốn! Cho dù anh là kẻ cơ hàn, đói rách, việc đó không cần phải gian dối một cách vô liêm sĩ và xấu hổ’.
Như kẻ thất hồn, thất viá đẩy cửa bước vào và nhìn lấm la, lấm lét quanh dinh thự tợ như kẻ trộm.
‘Tôi . Tôi không láo’ Hắn lẩm bẩm trong miệng. ‘tôi có thể trình giấy chứng minh thư cho ông xem’
‘Ai mà tin hắn cho được?’ Khavôsốp vẫn còn tức. ‘Anh không biết rằng điều này rất là hèn hạ, lừa bịp ảnh hưởng tới tình cảm, việc này chạm tới nhà giáo và học sinh trong xã hội? Coi việc đó như dấy loạn!’
Khavôsốp mất tính hòa nhã và bắt đầu quở trách không còn thương xót kẻ ăn mày. Sự khinh suất đó làm cho người đói rách giận dữ thêm ra. Khavôsốp đánh giá ở chính ông ta một con người tốt, tâm hồn dịu dàng, lòng xót thương cho tất cả những gì bất hạnh. Đặc nó trong một sự thử thách hàng đầu với một ít vấn đề cho ông ta, như thấy ở mình thái độ bất kính người nghèo; sự đó cần trải lòng đến người cùng khổ, cần có lương tâm ở nơi ông.Trước sự lãnh đạm của người thất thế tiếp tục phản kháng cái vô tội đó, nhưng; sớm muộn sự im lặng sẽ bùng dậy mà nghĩ tới thắt cổ trong cái việc thất bại này.
‘Thưa ngài’ Kẻ ăn mày nói. Hắn đặc tay lên trái tim. ‘Sự thể là thế! Tôi – đã nói láo! Tôi chẳng phải học trò mà chẳng phải thầy giáo.Tất cả là giả tưởng. Xưa tôi hát trong ca đoàn Nga rồi hất tôi ra cho tôi là thằng rượu chè, ăn chơi trác táng. Nhưng; không còn cách gì hơn? Tôi không thể dối trá’. Không một ai cho tôi bất cứ cái gì để tôi nói lên sự thật. Với sự thật người ta có thể đói mà chết hoặc chết lạnh vì thiếu ăn. Lý lẽ đó hợp lý, Tôi hiểu, nhưng; tôi có thể làm được gì?
‘Ông làm được gì?. Anh hỏi tôi làm được gì?’ Khavôsốp hét lớn, đến gần kẻ ăn mày. ‘Làm thôi! Những gì anh làm được! Anh phải làm!’.
‘Làm –vâng , tôi biết ở chính tôi, nhưng; ở đâu để tôi tìm việc làm?’.
Chúa ơi! Ông phán xét quá đáng. Quát lên!. Kẻ ăn mày mỉm nụ cười cay đắng.
‘Ờ đâu tôi có thể tìm ra việc làm bằng tay chân?’. ‘Thiệt là quá trễ cho tôi trở nên nhân viên thư ký; bởi trong cái việc trao đổi, giao thương người ta tìm đến những người trai trẻ; không ai lại đi nhận tôi cho làm phu khuân vác hay người gác gian, mà người đó chưa một lần vào đời, và; tôi biết là không ai thuê mướn tôi đâu’.
‘Vô lý! Ông luôn luôn đứng về phiá pháp lý! Thì làm thế nào anh bửa củi cho tôi?’
‘Tôi không thể từ chối việc đó, nhưng ngồi đây dù khéo việc bửa củi mà không có cơm ăn thì cũng như không’.
Hừ ! Anh có vòng vo trong cách nói nầy nói nọ. Quá lắm; thì cũng không cần đến anh mà anh đã từ chối. Việc bửa củi dành cho tôi phải không?’
‘Dạ thưa ngài; tôi muốn’.
‘Tốt lắm. Chúng ta sẽ tìm việc để làm. Tuyệt vời – chúng ta sẽ gặp lại’.
Khavôsốp lúng túng, đôi tay run run liên tiếp; không có cảm giác gì ác ý cả để rồi bỗng dưng nhớ bửa ăn gà ngoài trời.
‘Đây! O-gà (Olga) Ông ta nói: ‘đưa người đàn ông này vào trong chòi gỗ và để cho ông ta bửa củi’.
Người hắn trông như thằng bù nhìn áo quần rách tươm, quằn đôi vai xuống như thể là hốt hoảng, phân vân điều gì sau khi ăn uống, hẳn nhiên thấy được cái sự rề rề của hắn là biết hắn không ưa việc bửa củi, vì hắn quá đói mà lại bắt làm, dễ hiểu thôi, bởi; hắn tự trọng và cả nể đấy mà, chớ thật tình hắn kẹt mà không nói nên lời. Đúng thế, hắn luôn nghĩ tới thứ rượu trắng vô-ka, cái đó làm cho sức khoẻ của hắn yếu mòn và không còn cảm giác gì để nghiêng về việc làm ăn một cách cần cù, chịu khó.
Khavôsốp vội vã đi vào phòng ăn.Từ cửa sổ người ta có thể thấy cái chòi gỗ và mọi thứ khác đổ dồn vào trong sân. Đứng bên cửa sổ Khavôsốp thấy mùi khói nấu và kẻ ăn mày ra khỏi sân vườn với cửa sau, băng qua con đường tuyết dơ để đến chòi gỗ. O-gà, nàng nhìn xoi bói, phẩn nộ vào người làm thuê, lấy cùi chỏ đẩy hắn qua một bên, không cần khóa cửa và giận dữ đá mạnh cánh cửa chòi. Rồi bỏ đi.
‘Chúng ta có thể gián đoạn khi người đàn bà đi qua với tách cà phê’ – ‘cái gì gây ra giữa lúc này’ Khavôsốp nghĩ lung tung chả đúng lúc, đúng chỗ.
Kế tới hắn thấy mình là thầy giáo giả, học sinh giả ngồi cạnh hắn trên khúc gỗ dài và bỗng nhiên nhớ tới cái nhọt đỏ trên gò má hắn đã có từ lâu. Người đàn bà chặt phụp cái rìu xuống gần chân hắn, cải cọ hết sức giận dữ với những lời lẩm bẩm trên môi, bắt đầu quở trách hắn một cách vô cớ. Kẻ ăn mày rụt rè kéo miếng gỗ nhỏ về phiá hắn, đặc giữa đôi chân và vỗ nhẹ lên chiếc rìu. Lơ lửng như muốn té xuống. Kẻ ăn mày một lần nữa kéo miếng gỗ về phía hắn, thổi nhẹ lên đôi tay lạnh cóng và gõ nhẹ lên cái rìu một cách thận trọng, hắn sợ đụng lên đôi bốt của hắn hoặc vô ý cắt đứt mấy ngón tay. Đôi đũa gỗ rơi xuống mặt đất nghe nhẹ nhàng, hắn đưa mắt nhìn.
Cơn giận dữ của Khavôsốp đã biến mất, giờ đây cảm thấy có một chút ân hận và cả thẹn bởi chính ông, vin vào những gì hư hỏng, say sưa, những đau ốm đột ngột, đẩy người ta làm việc giữa mùa giá lạnh.
‘Được, không sao’ Ông ta nghĩ vậy. Đi tới phòng làm việc ngang qua phòng ăn ‘Tôi làm đúng mà’.
Một giờ sau O-gà đến và báo cáo với Khavôsốp củi đã chất đầy trong chòi.
‘Tốt! Đưa cho hắn nửa hào Nga’ Khavôsôp nói. ‘Nếu hắn muốn trở lại để bửa củi vào ngày đầu của mỗi tháng. Thời chúng ta tìm việc cho hắn làm’.
Ngày đầu của tháng hắn đến với cái vẻ túng thiếu thì tìm việc cho hắn làm với giá nửa hào Nga, dù hắn có đứng trơ người ra năn nỉ cũng thế thôi.
Từ đó về sau hắn thường có mặt ở sân vườn; cứ thế mà kiếm việc cho hắn làm. Bi chừ thì hắn lấy xên mà xúc tuyết, rồi kêu hắn sắp củi cho ngay ngắn trong chòi, đập bụi nơi mấy tấm thảm và nệm ngủ. Cứ thế hắn nhận từ hai mươi đến bốn mươi đồng Nga và mỗi khi như thế cho hắn một đôi cái quần cũ.
Cùng lúc đó thì Khavôsốp dọn tới một nơi khác, ông ta mướn hắn phụ giúp đóng gói và chuyển một số đồ đạc. Lúc này kẻ ăn mày không còn say sưa, không còn ủ dột mà trở nên ít nói. Hắn bưng vác những thứ quá nặng và đi theo sau chiếc xe thùng chất đầy đầu, thế mà không mấy bận rộn. Hắn chỉ rùng mình vì lạnh và trở nên bối rối khi đó tay lái xe nhạo báng cho hắn lười, gã quá yếu đuối, nói chuyện tầm phào không có chi lạ ngoài cái áo khoát đẹp muốn khoe. Sau đó chuyển hết đồ mà Khavôsốp đã giao cho hắn.
‘À nè; tôi thấy lời lẽ của tôi có hiệu quả’ Biện lý nói; trong tay cầm một đồng xu Nga.’ Đây nè cho cái nhọc nhằn của anh. Tôi thấy anh có vẻ lo ngại và không phản đối việc làm. Anh tên gì?’
‘Lư-kốp’ (Lushkov).
Được, Lư-kốp; bây giờ tôi cung cấp cho anh một việc khác, công ty vệ sinh. Anh viết được không?’
‘Tôi viết được’.
Ngày mai cầm thư này đến bạn tôi và họ sẽ cho anh biết việc để làm. Làm chăm, không rượu chè, hút xách và nhớ những gì tôi dặn anh. Chào!’
Đưa anh đến đúng chỗ rồi đó. Khavôsốp vỗ nhẹ vào vai Lư-kốp một cách thân mật, nói cho ngay giúp hắn một tay đở được phần nào. Lư-kốp cầm lấy bức thư và kể từ đó không còn làm sân nhà và chòi gỗ.
Hai năm qua. Vào một buổi chiều, thấy Khavôsốp đút tay lấy vé đi xem hát, hắn nhận ra một người nhỏ nhắn đứng bên cạnh ông biện lý với chiếc áo cổ lông thú cũ kỹ và cái mũ da hải cẩu đã bạc màu. Người đàn ông nhỏ thó rụt rè hỏi người bán vé cho một chỗ ngồi dành riêng, mỗi vé thêm hai đồng hào Nga.
“Lư-kốp, anh phải không?’ Khavôsốp thốt. Có nhận ra người đàn ông nhỏ thó này trước kia cũng bửa củi. Anh khoẻ mạnh không? Anh làm gì nơi đây? Thế nào công việc đến đâu rồi?’.
‘Tốt! Bây giờ tôi là công chứng viên vô nghạch và lương tôi một tháng ba mươi lăm đồng rúp-Nga’.
‘Cảm ơn Trời! Quá qúy.Tôi sung sướng cho việc làm của anh. Tôi hãnh diện, rất hãnh diện Lư-kốp. Trong nhận thức, anh biết, anh là đứa con yêu của Chúa. Tôi đưa anh vào con đường sáng, anh biết chứ. Ê! anh nhớ không những gì nung nấu trong tôi là dành cho anh. Đôi chân tôi như muốn chôn cứng xuống lòng đất ngày đầu gặp anh hôm đó. Cám ơn, cám ơn con người già nua này cho tôi không quên những lời lẽ của tôi’.
‘Tôi cũng cám ơn anh luôn’. Lư-kốp nói. ‘Nếu tôi không đến với anh thời chắc tôi cứ cho tôi là thầy giáo hay là học sinh của ngày nay. Đúng đấy; tôi như con chim lạc bầy nay bay đến để được anh che chở, tôi lôi tôi ra khỏi điạ ngục trần gian này. ‘Tôi quá sung sướng. Quả vậy’.
‘Cám ơn những tiếng nói chân tình và việc làm. Ông nói những gì trong sáng, tốt đẹp cho đời tôi. Tôi rất biết ơn ông và dạy cho tôi mọi điều kể cả nấu ăn. Chúa sẽ ban ơn và cho anh gặp một người đàn bà đôn hậu! Ông thốt lời hay ý đẹp và tôi sẽ là người chịu ơn ông cho tới ngày nằm xuống, nhưng; nói đúng ra, đó là những gì ông cho tôi ăn. O-gà, cô ta đã cứu giúp tôi’.
‘Cái gì thế?’
‘Như thế này. Khi đầu tôi đến nhà ông ngày đầu được giao việc bửa củi, O-gà cô ta thường bắt đầu bằng tiếng nói: ‘Ôi! anh say rồi hả anh’ Ôi ! sao anh tạo ra sự khốn đốn! Không có chi nơi anh chỉ còn lại sự tồi tệ’. Cuối cùng nàng ngồi đối diện với tôi và trở nên buồn, nhìn vào mặt tôi mà khóc. ‘Ôi! anh thật là người đàn ông xui nhiều hơn may. Không có gì làm anh hài lòng trong thế giới này và ở đây sẽ là không trong cái thế giới anh đến. Tất cả là không. Anh là thằng nghiện ngập! Anh sẽ xuống điạ ngục. Ôi chao! anh là thằng bất hạnh’. Và rồi nàng sẽ gánh vác hết thảy. anh biết rồi đó, nó nằm trong trạng thái căng thẳng. Tôi không nói cho nàng biết bao nhiêu bí ẩn và khổ đau, biết bao nhiêu nước mắt và mồ hôi nàng đã đổ xuống trong công việc của tôi. Những việc chính, nàng còn bửa củi cho tôi. Thưa ngài, ông có biết bửa củi tôi chẳng bẻ một que nhỏ cho ông, chớ đừng nói bửa? Nàng O-gà làm hết thảy. Tại sao nàng cứu giúp tôi, tại sao tôi thay đổi, tại sao tôi bỏ uống rượu, dưới mắt nàng tôi không thể giải thích. Tôi chỉ biết rằng, nợ nàng những lời ăn tiếng nói và việc làm cao thượng, một thay đổi chiếm cứ hồn tôi. O-gà đưa tôi đến con đường ngay thẳng và tôi sẽ không bao giờ quên. Để rồi; đến lúc bắt đầu đi; đi tới cái chuông đang dộng từng hồi. Lư-kốp cúi đầu chào và rời khỏi chỗ dành ưu tiên trong rạp hát ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . 1 tháng 6/2020)

*’Kẻ ăn mày/The Beggar’ Trong tuyển tập của Anton Chekhov (1860-1904). Nhà văn, nhà viết kịch sanh ở Nga và chết ở Đức.
Nguyên bản tiếng Anh của Joe Andrew by Wordworth Classics. Võcôngliêm chuyển sang Việt ngữ.
TRANH VẼ: ‘1943’ Khổ 15” X 25” Trên giấy cứng. Acrylics+India-ink+House-paint. Vcl#1552017.

1943

CHIỀU QUÊ TÍM ĐỢI CHUYỂN MÙA…

Đặng Xuân Xuyến

rain summer

CHIỀU QUÊ …

Nắng đẩy mây dồn phía đằng tây
Mưa bụi lạnh thêm những gót giày
Ngõ nhỏ gió về luồn run rẩy
Nhao nhác lưng chiều cánh vạc bay.
*.
Làng Đá, chiều 19.08.2018

TÍM

Mưa bụi giăng đầy trong mắt em
Hoa Xoan rơi kín tím góc thềm
Lời yêu bỏ lửng từ đêm ấy
Xao xác đến giờ hương tím say.
*.
Định Công, trưa 13.05.2019

ĐỢI…

Đợi xuân xuân chửa chịu về
Đợi tình tình lại mải mê xứ người
Nâng lên ly rượu tự mời
Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi?!
*.
Hà Nội, 24 tháng 04.2020

CHUYỂN MÙA

Len lén heo may trườn khe cửa
Vồi vội nắng chiều cuộn trốn mưa
Ngơ ngác lá vàng bung vào gió
Lật đật mây dồn hong hóng mưa.
*.
Làng Đá, chiều 13.10.2018

HOA ĐÊM

Áo trễ vai trần rảo bước nhanh
Nhũ hồng e ấp áo mỏng manh
Gió khuya cong cớn từng cơn lạnh
Nhợt nhạt môi hường lúc tàn canh.
*.
Giáp Bát, đêm 04 .10.2018

VẨN VƠ

Ta nếm em bằng lưỡi
Em nêm ta nụ cười.
Ta đã chiều rời bến
Em ngồi chờ hoàng hôn.
*.
Hà Nội, ngày 09-06-2020

BẾN CŨ CHIỀU MƯA

Bến cũ, chiều về, con nước động
Líu ríu mưa bay phủ kín dòng
Nước rộng chòng chành con đò nhỏ
Se sắt gió chiều nhuộm sóng xô.
*.
Chiều mưa, 01.08.2019

ĐỢI NGÂU
– Tặng út Hiền –

Nghiêng vành nón giấu buồn theo sóng gợn
Đã Ngâu đâu mà rưng rức chân cầu
Ngoái đầu lại bụi bạc màu hoa cải
Trăng rủ buồn vàng võ ngón tay thon.
*.
Hà Nội, 08 tháng 08.2017

LẮNG

Người về sũng nắng tháng Tư
Tôi hong gió lạnh suốt từ đêm qua
Ngậm ngùi mưa bụi trườn qua
Hoa Xoan nát cả tháng Ba đến giờ.
*.
Hà Nội, đêm 12.05.2019

CHỊ NGỒI VỚI NHỮNG XỬA XƯA
– Tặng nhà thơ Trần Mai Ngân –

Chị ngồi nhặt bóng nhặt hình
Nhẩn nha những chuyện của mình xửa xưa
Cuối trời tháng Sáu vần mưa
Chị se ngọt tiếng đò trưa ạ ời…
*.
Hà Nội, chiều 28.06.2019
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

 

CÒN THƯƠNG ÁO TRẮNG MỘNG MƠ

ao trang xe dap

Nhớ thời áo trắng mộng mơ…
Nghiêng che vành nón bài thơ dịu dàng
Bâng khuâng kỷ niệm…Hè sang
Còn vương ký ức rộn ràng đầy vơi

Thương sao xe đạp một thời
Con đường đến lớp phương rơi thắm hồng
Tóc mây gió nhẹ bềnh bồng
Theo sau bao gã trong lòng thầm yêu…

Nắng thơm vai lụa mỹ miều
Tuổi hoa đèn sách những chiều trường tan
Đùa vui bắt bướm, hoa ngàn
Giờ nghe nuối tiếc thời gian qua rồi

Luyến lưu lắm xe đạp ơi!
Còn trong giấc mộng bồi hồi…vấn vương
Nhớ thời áo trắng mà thương
Giỏ xe đạp chở ngát hương phượng buồn.

Nhật Quang

THƯ CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC VIGANO CỰU SỨ THẦN TÒA THÁNH TẠI HOA KỲ GỬI TỔNG THỐNG TRUMP

Trần Mỹ Duyệt chuyển ngữ

trump and bishop vigano

Ngày 7 tháng 6 năm 2020, Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi

Thưa Ngài Tổng Thống,

Trong những tháng gần đây, chúng ta đang chứng kiến sự hình thành của hai chiều đối nghịch mà tôi gọi theo Thánh Kinh (Bibilical): con cái sự sáng và con cái sự tối tăm. Con cái sự sáng là thành phần đa số rõ ràng nhất của nhân loại, trong khi con cái tối tăm đại diện cho một thiểu số nhất định. Và thật vậy, thành phần trước là chủ đề cho một hình thức kỳ thị. Nó đặt họ trong một tình huống trở thành thiểu số về luân lý so với những kẻ đối đầu của họ, thường là những người nắm giữ những vị trí chiến lược trong chính quyền, trong chính trị, trong kinh tế, và trong truyền thông. Một cách hiển nhiên, trong một cách thức không thể giải thích, sự thiện lại bị giữ làm con tin bởi sự ác và bởi những người giúp họ hoặc thoát khỏi sự sợ hãi hay lợi ích cá nhân.

Hai thái cực này, chính là một bản chất Phúc Âm, theo sau bởi sự phân chia rõ ràng giữa dòng giống của Người Nữ, và dòng giống của Con Rắn. Mặt khác, có những người mặc dù họ có hàng ngàn những khuyết điểm nhưng được thúc đẩy bởi ước muốn làm điều thiện, chính trực, nuôi dưỡng gia đình, chăm chỉ trong công việc, đóng góp phát triển cho quê hương họ, giúp đỡ những người cùng khổ, và, tuân giữ lề luật Thiên Chúa, đáng hưởng Vương Quốc Nước Trời. Ngược lại, có những người chỉ phục vụ cho chính mình họ. Họ không nắm giữ bất cứ nguyên tắc đạo lý nào. Họ muốn phá vỡ gia đình và quốc gia, khai thác các nhân công để làm họ trở nên phúc lợi một cách thái quá, khuấy động những chia rẽ nội bộ và chiến tranh, và thu tích quyền lực, tiền bạc: với họ, – nếu không sám hối – về ảo tưởng giả dối của hạnh phúc tạm thời, thì một ngày nào đó, họ sẽ hứng chịu số phận khủng khiếp đang chờ họ với sự nguyền rủa đời đời trong hỏa ngục, xa khỏi Thiên Chúa.

Trong xã hội, thưa Ngài Tổng Thống, hai thực thể đối nghịch này cùng hiện hữu như những kẻ thù muôn thuở, giống như Thiên Chúa và Satan là những kẻ thù muôn thuở. Và việc này xảy ra là con cái của tối tăm – những kẻ mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra trong quốc gia ngầm mà ngài đã đối đầu một cách khôn ngoan, Nó đang thực hiện một cuộc chiến quyết liệt chống lại ngài trong những ngày này – đã quyết định giới thiệu những biểu hiện, đã nói, và bây giờ đang cho thấy những chương trình của họ. Họ xem như chắc chắn rằng mọi việc đang dưới quyền kiểm soát của họ đến nỗi họ đã đặt ở bên sự tính toán mà cho đến giờ đây đã có ít nhất một phần được tiết lộ những ý đồ thực sự của họ. Những cuộc khảo cứu đã thực tế hé mở trách nhiệm thực sự của những kẻ chế ngự tình trạng khẩn cấp Covid không chỉ trong lãnh vực sức khỏe nhưng còn cả trong lãnh vực chính trị, kinh tế, và thông tin. Chúng ta chắc chắn tìm ra những điều này trong việc khai triển rộng rãi của tính cách chuyên nghiệp xã hội, ở đó có những con người đã định đoạt tương lai nhân loại, cho phép mình được quyền hành động ngược lại ý muốn của dân chúng, và những đại diện dân sự của họ trong chính quyền của các quốc gia.

Chúng ta cũng sẽ khám phá ra rằng các cuộc bạo loạn trong những ngày này đã bị kích động bởi những người, cho rằng virus là sự dối gạt hiển nhiên, và rằng sự báo động xã hội về cơn dịch bệnh đang giảm dần, vì thế, họ quyết tâm xúi dục những rối loạn dân sự, bởi vì họ biết rằng việc dùng sức mạnh khống chế người khác, điều mà tuy mặc dù hợp lý, cũng bị lên án như một sự xâm phạm không chính đáng ngược lại với quần chúng. Một điều tương tự cũng xảy ra tại Âu Châu một cách đồng điệu chính xác. Một cách rõ ràng rằng việc dùng những cuộc xuống đường như một dụng cụ cho những mục đích với những người mà họ muốn nhìn thấy được trúng tuyển trong những cuộc bầu cử tổng thống sắp tới, người đại diện cho những mục đích của thể chế ngầm, và người biểu thị những mục đích ấy một cách trung thành và với xác quyết. Không ngạc nhiên gì nếu trong một vài tháng nữa, chúng ta học được một lần nữa rằng những gì ẩn dấu đằng sau những hành động phá hoại và bạo động là những kẻ hy vọng hưởng lợi từ sự lật đổ trật tự xã hội để xây dựng một thế giới không tự do: Solve et Coagula, theo ngạn ngữ của Tam Điểm.

Mặc dù nó có thể xem như không gì xáo trộn, những hành động chống đối mà tôi đã diễn tả cũng đã tìm thấy trong tổ chức tôn giáo. Có những vị chủ chăn trung thành, những vị chăn dắt đoàn chiên của Đức Kitô, nhưng cũng có những kẻ bất tín đáng thương luôn tìm phân tán đoàn chiên, và trao chiên mình để bị cắn xé bởi những con sói háu đói. Không ngạc nhiên gì những kẻ làm công kia lại thỏa hiệp với con cái sự tối tăm, và thù ghét con cái sự sáng: giống như một thể chế ngầm, thì cũng có một giáo hội ngầm gồm những kẻ bội phản trách nhiệm của mình, bỏ qua những lời hứa của mình trước mặt Thiên Chúa. Chính vì vậy, Kẻ Thù Vô Hình , kẻ chống lại các lãnh đạo tốt trong những công việc chung, cũng chống lại những mục tử tốt lành trong phạm vi giáo hội. Nó là trận chiến tinh thần, mà tôi đã nói đến trong Kháng Thư gần đây của tôi được phổ biến vào ngày 8 tháng Năm.

Lần đầu tiên, Hoa Kỳ đã có một Tổng Thống chiến đấu một cách can trường cho quyền sống, một tổng thống không ngần ngại công bố sự bắt bớ của những Kitô hữu trên khắp thế giới, vị tổng thống nói về Chúa Giêsu Kitô, và quyền người dân được tự do thờ phượng. Sự tham dự của ngài trong buổi Diễn Hành Cho Sự Sống (March for Life) và lời tuyên bố gần đây nhất của ngài về tháng Tư là Tháng Toàn Quốc Ngăn Chặn Sự Ngược Đãi Trẻ Em (National Child Abuse Prevention Month), là những hành động mà nó xác nhận điều gì ngài muốn tranh đấu. Và tôi dám tin tưởng rằng cả hai chúng ta cùng chung một chiến tuyến trong trận chiến này, mặc dù có những khí giới khác nhau.

Vì lý do đó, tôi tin rằng sự chống đối mà ngài đang phải gánh chịu sau lần viếng thăm Đền Thánh Quốc Gia Thánh Gioan Phaolô II là một phần trong bài tường thuật của dàn hợp xướng truyền thông. Nó tìm kiếm không chỉ để chiến đấu cho nạn kỳ thị, mang lại trật tự xã hội, nhưng là những cung cách tồi tệ; không mang lại công lý, hợp pháp hóa tội ác và bạo loạn; không để phục vụ sự thật, nhưng thỏa mãn một đảng phái chính trị. Cũng không nhầm lẫn gì có những Giám mục – giống như những vị gần đây tôi đã lột mặt nạ – người, do những lời nói, chứng minh rằng họ đứng chung phe đối lập. Họ giúp cho thể chế ngầm, cho chủ nghĩa đại đồng, cho tư tưởng đã được định hình, cho Trật Tự Thế Giới Mới mà họ cầu xin một cách thường xuyên hơn nhân danh tình huynh đệ đại đồng nhưng lại không có người Kitô hữu trong đó, đến từ những ý tưởng Tam Điểm của những người muốn thống trị thế giới bằng cách loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi các tòa án, trường sở, gia đình, và có lẽ ngay cả các thánh đường.

Người dân Hoa Kỳ trưởng thành hôm nay phải hiểu như thế nào về truyền thông dòng chính khi không muốn thông tin về sự thật, nhưng chọn im lặng và làm sai lạc nó. Vì thông tin gian dối là cách có lợi cho những mục đích của họ. Tuy nhiên, điều quan trọng vẫn là sự thiện – là những thành phần chính – hãy thức tỉnh khỏi tính ươn lười và không để mình bị lừa bịp bởi một thiểu số thiếu ngay chính với những mục tiêu không thể chấp nhận. Cần thiết là những người tốt, con cái của sự sáng, đoàn kết lại với nhau để làm cho tiếng nói của họ được lắng nghe. Còn cách nào ảnh hưởng hơn là làm thế, thưa ngài Tổng Thống, đó là lời cầu nguyện. Xin Thiên Chúa che chở ngài, nước Mỹ, và toàn thể nhân loại khỏi sự tấn công khủng khiếp của Kẻ Thù. Trước sức mạnh của lời cầu nguyện, những dối trá của con cái tối tăm sẽ bị sụp đổ, những mưu toan của chúng sẽ bị phơi bày, sự phản bội của chúng sẽ được công khai, quyền lực đấu tranh của chúng sẽ phải chấm dứt trong hư vọng, mang lại ánh sáng và tiêu diệt những gì nó là: một sự dối trá của địa ngục.

Thưa ngài Tổng Thống, tôi hằng cầu nguyện không ngừng cho đất nước Hoa Kỳ đáng yêu, nơi mà tôi đã có vinh dự và hãnh diện được Đức Bênêđíctô XVI sai tới như một Khâm Sứ Tòa Thánh. Trong thời khắc đau thương và quyết định này của toàn thể nhân loại, tôi cầu nguyện cho ngài, và cho tất cả những ai cùng với ngài trong chính quyền Hoa Kỳ. Tôi tín chắc rằng người dân Hoa Kỳ rồi sẽ hiệp nhất với tôi và với ngài trong lời cầu xin lên Thiên Chúa toàn năng.

Hiệp nhất chống lại Kẻ Thù Vô Hình của nhân loại, tôi chúc lành cho ngài và đệ nhất phu nhân, cho đất nước Hoa Kỳ mến yêu, và cho tất cả những người thiện tâm.

+ Carlo Maria Viganò
Titular Archbishop of Ulpiana
Former Apostolic Nuncio to the United States of America

From LifeSite News

CÔNG LÝ CHO GEORGE FLOYD

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh

g floyd

Câu chuyện một người da đen như George Floyd bị chết vì cảnh sát không phải là lần đầu tiên xẩy ra trên đất Hoa Kỳ. Và việc đòi công lý cho nạn nhân bằng biểu tình rồi đi đến đập phá, đốt các cửa tiệm, cướp của, đốt xe cảnh sát, xe người thường và làm cản trở lưu thông, không cho nhân viên công lực thi hành nhiệm vụ đã và đang xẩy ra tại Minneapolis, nơi xẩy ra vụ chết người và trên hầu hết các thành phố lớn ở Hoa Kỳ cũng không phải là lần đầu tiên. Chính phủ đã phải dùng tới vệ binh quốc gia, và có thể cả quân đội để vãn hồi an ninh trật tự và bảo vệ sinh mạng cùng tài sản của người dân.

Đến hôm nay bạo động đã qua ngày thứ 7, chính gia đình nạn nhân ông G. Floyd đã phải kêu gọi biểu tình ôn hòa, không nên bạo động. Vậy thì tại sao lại có bạo động trong khi chính phía nạn nhân không muốn. Phải chăng có những kẻ muốn nhờ gió bẻ măng, lợi dụng cơ hội để đánh phá đối thủ của mình hầu đoạt phần thắng.

Chắc chắn chẳng ai dám nghĩ là chính quyền hiện tại, TT Trump lại tạo nên tình trạng rối loạn này. Vậy thì ai đây đã cố tình làm cho xã hội, đất nước Hoa Kỳ trở nên rối tung, khiến chính trị bất ổn, kinh tế sa sút, lòng người hoang mang…?

Người quan sát có lương tâm công chính và công bằng chắc có thể biết được ai là thủ phạm. Đối thủ của Trump hay ai khác? Nhưng chắc chắn những kẻ chủ mưu phá rối an ninh quốc gia, phá hoại tài sản nhà nước và của dân chúng là có tội và là kẻ thù của đất nước.

Mấy ngày gần đây, trên đường phố biểu tình / bạo động và trên truyền thông báo chí và truyền hình thấy xuất hiện danh từ ANTIFA. Vậy Antifa là gì?

Antifa là một phong trào chính trị đối kháng gồm những nhóm người tự phát có liên hệ với phe đối lập chống lại chủ nghĩa phát xít và những hình thức cực hữu cực đoan. Phong trào này ra đời vào thập niên 1940 tại Đức trong thời gian và ngay sau thế chiến 2. Antifa là chữ viết ngắn lại từ chữ Antifaschismus / anti-fascism hay antifaschistisch / anti-fascist.

‘Cuộc biểu tình hôm thứ bảy và chủ nhật đã được sự hỗ trợ bởi nhóm ANTIFA mà kẻ thù sinh tử của chúng là phe cực hữu’. Cảnh sát chìm trà trộn trong đám phá rối Antifa đã vồ được tại trận những tên biểu tình gây rối mặc đồ đen.

Nhóm Antifa này đã từng gây bạo động tại các khuôn viên trường đại học trên toàn quốc. Gần đây chúng đã chiếm các đường phố ở downtown Portland, CA và hiện đang trực tiếp gây rối giao thông. Antifa gồm nhiều nhánh rải rác khắp nơi. Chúng thường hành động theo chỉ thị trực tiếp. Ba thành viên Antifa đã bị bắt tại trận trong khi phá phách. Hôm thứ bảy, khi chúng đến hiện trường đã đến gặp đồng bọn để nhận lệnh, không ngờ đồng bọn này lại chính là nhân viên chìm giả dạng người biểu tình phe Antifa.

Trên TV chúng ta đã nhìn rõ giữa quang cảnh chiến đấu có liên hệ đến Antifa, cảnh sát bắt tại chỗ và đè ra còng tay những tên mặc đồ đen từ đầu xuống chân, lưng đeo túi.

Chính những thành viên Antifa và các tên liên hệ với chúng hiển nhiên là làm việc theo chủ đích của chúng. Lật đổ chính quyền, thay đổi nước Mỹ, hủy bỏ cả một hệ thống dân chủ tuyệt vời nhất thế giới. Người dân lương thiện chắc chắn không ai lại muốn đất nước xáo trộn.

Những người bạn da đen, nạn nhân của áp bức nên khôn ngoan, đừng để những kẻ gian lợi dụng xác chết của G. Floyd, nhân cơ hội nước đục béo cò, lợi dụng các bạn làm bàn đạp bước lên cho tư lợi phe nhóm của chúng. Chúng chẳng thương mến gì các bạn đâu, bởi lẽ ngay trước mắt, các bạn đã bị chúng bôi nhọ rồi đấy. Chúng đốt nhà cướp của, làm rối loạn xã hội rồi tai tiếng, tội lỗi các bạn lãnh. Các bạn là người thiệt thòi nhất cả về tinh thần lẫn vật chất.

VÀI LỜI KẾT

Giờ này không phải là lúc chúng ta chê trách Trump thế này thế nọ, như trốn xuống hầm trú ẩn. Nghĩ như vậy qủa là trẻ con, không phải tư cách của người lớn và có học. Vào địa vị mình gặp tình trạng rối tung như vậy thì làm sao khi mà tứ bề thọ địch. Trump đã công khai chính thức ra ngoài Tòa Bạch Ốc, đứng trên đường phố cùng với cả bộ tham mưu để nói chuyện với đồng bào và những người biểu tình. Ông yêu cầu biểu tình ôn hòa, không chấp nhận bạo động…. Ở hậu phương, đào ngũ không thể nói là ta tài giỏi, chiến đấu oai hùng! Hãy công bình mà nhận định rồi có thể thì góp ý xây dựng, bằng không biết thì nên yên lặng. Ngoài ra nên nhìn sự việc với tâm hồn ngay thẳng và công bằng công chính, không nên dựa quá nhiều vào báo chí nhất là trong những thời gian này. Buổi sáng tin tức thế này, buổi chiều lại khác. Ngay cả tin tức về khoa học / y khoa, hôm nay Dr Fauci nói thế này mai lại nói thế khác, nói chi những tin liên quan tới chính trị thời sự. Cứ nghĩ đến câu nói (quên mất tác giả): “Khi chính trị đi vào tòa án thì công lý đội nón ra đi” thì đủ biết. Tin vào báo chí thì có ngày đổ thóc giống ra ăn.

Trên đây, người viết chỉ nêu lên cái tổ chức / phong trào Antifa để làm bằng chứng và thí dụ về cuộc bạo loạn. Còn biết bao tên “ma đầu” ghét Trump nhảy vào ăn có hay nằm ngay trong đám Antifa, ai mà biết. Quí vị tự suy nghĩ.

Có ai ngờ đâu, chỉ cần lên xe bus và được chở đến một địa điểm chỉ định đốt phá hôi của rồi lảnh $200.00. Tại New York thì có một xe SUV xịn chở đến một nơi với cung cấp búa, dao kìm và chìa khóa mở cửa để thi hành công tác phá hoại….

Đòi hỏi công lý thì phải có công bằng. Không thể một chiều được.

Ít lời chia sẻ. Nếu có sai trái xin sửa chữa. Rất cám ơn

NTC

June 1, 20

HÃY KHÓC LÊN ĐI PHƯỢNG

Nguyên Lạc

hoa phuong vi

(Cảm tác khi được tin những cây phượng bị đốn hạ hàng loạt trong các ngôi trường ở Việt Nam) [*]

1.
Màu huyết phượng. màu máu tim tôi đó
Màu yêu thương tuổi thơ dại học đường
Ôi! màu hoa phượng đỏ … rơi tóc em thương
Màu mực tím. màu giấy hồng. ngại ngùng thư ngỏ
.
Màu huyết phượng của một thời son trẻ
Đã theo tôi suốt cả kiếp đời
Đường đón đưa cánh phượng rơi rơi
Màu tim đỏ thắm tình tôi một thuở
.
Màu mực tím. màu hoa phượng đỏ
Tàn lá xanh che mát sân trường
Che mát ngại ngần thơ dại tay run
Trao lưu bút ép cánh hoa. kèm thư. hè nhung nhớ
.
Mãi trong tôi vẫn màu hoa đó
Vẫn phượng thẫm màu máu đỏ tim tôi
Vẫn tiếng ve reo. cánh phượng rơi nhung tóc mây người
Dù rất biết phôi pha tháng năm. tuyết sương màu điểm
.

2.
Sẽ còn không đỏ màu phượng vỹ
Sẽ còn không mượt mà hoa rơi tóc ai nhung
Vì mất lương tri nhỏ nhen ích kỷ
Vì những mưu toan tư dục. đoạn đành đốn gốc yêu thương
.
Thôi chắc sẽ rồi mù dấu thiên đường
Thiên đường tuổi thơ thư hồng mực tím
Khóc lên đi ngôi trường. phượng sẽ rồi mất biến
Bởi ai đó vô tâm muốn xóa bỏ tình người
.

3.
Rồi sẽ tìm đâu phượng đỏ ngôi trường?
Rồi sẽ tìm đâu điêp khúc ve thương?
Tàn lá xanh che những chờ đợi ngại ngần
Mực tím. thư hồng. tương tư tình ngỏ
.
Hãy khóc lên đi những người tuổi trẻ
Hãy khóc lên đi bụi phấn bạc đầu
Đường về tuổi thơ sẽ rồi cấm cửa
Phượng thắm sân trường … cổ tích đời sau!
.
Không phượng. ngôi trường còn có gì đâu?
Mực tím. thư hồng. lưu bút? Tim đau!
.
Nguyên Lạc
………
[*] Mời đọc những đoạn văn này:

1. Người ta chặt Phượng không thương tiếc, biến nó thành phong trào. Coi việc chặt Phượng như là phong trào ba không đã từng rầm rộ diễn ra cách đây chưa lâu.
Thưa ông bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ, đồng kính thưa chính phủ cao quý. Nếu không ra tay ngăn chặn “phong trào” chặt Phượng, nếu vẫn hăng máu “đào tận gốc, đốc tận rễ” với Phượng, thì dòng tộc Phương chúng tôi sẽ bị tuyệt chủng. Dòng tộc Phượng chúng tôi, có đời sống như mọi loài vật, ngoài ra còn có tâm tính, có linh hồn của nó. Nếu nhẫn tâm hủy diệt dòng tộc Phượng, các ngươi phải trả giá, con cháu các ngươi cũng bị vạ lây. Trời không tránh được luật nhân – quả, chứ đừng nói kẻ phàm tục như các ngươi.
(Nguồn: Bá Tân – Báo Tiếng Dân)

2. Với việc các trường VN chặt cây phượng vỹ, xã hội hiện nay nói chung và nền tảng giáo dục nói riêng, cái tính vô trách nhiệm nó quá lớn, nó làm mất lương tri của những người đang đứng trên bục giảng và kể cả các cán bộ quản lý trong Bộ GD&ĐT.
Cây phượng nó là thơ, là nhạc, là tâm hồn học trò bao nhiêu thế hệ VN.
Tại nhiều trường học, cây phượng đang bị ‘thảm sát’ oan uổng vì bị coi là mối đe dọa đối với tính mạng học trò, chẳng lẽ một cây gãy đổ thì cả giống loài bị kết tội?
Tuy nhiên thay vì cắt tỉa, tìm phương pháp ngăn chận những cây nguy hiểm, nhiều trường học lại đốn hạ toàn bộ những cây phượng đang có. Nếu trường nào cũng áp dụng cách này, loài cây được mệnh danh là hoa học trò sẽ hoàn toàn bị trục xuất khỏi môi trường của học trò. Và khái niệm sân trường sẽ không còn gợi nhắc đến một nơi rợp bóng mát của cây xanh mà trở thành khoảng không gian trụi lủi chỉ có sàn bê tông và nắng gắt.(Chặt nhầm còn hơn bỏ sót – Báo Mới)

CÓ NGƯỜI HỎI TÔI?

Phạm Phú Nam

flag america

Mấy ngày nay, bắt đầu bước vào thế giới facebook tôi mới có cơ hội đọc được nhiều suy nghĩ, mối quan tâm, và quan điểm của nhiều bạn hữu. Có người trong sự tín nhiệm hỏi, ý kiến của tôi ra sao?
Thật sự, tôi rùng mình khi nhìn thấy hình ảnh một viên cảnh sát da trắng có 3 đồng đội vũ khí đầy mình đứng cạnh mà vẫn cứ thản nhiên dùng đầu gối dí cổ một nghi can da đen không bạo động, mặt mũi bị dí sát mặt đường nhựa đầy đá vụn sắt nhọn, và dí sát cạnh một chiếc bánh xe hơi như sắp bị cán ngang, trong một thời gian khá dài gần 9 phút khi anh phải thì thào để nói một lời như van xin “I can’t breath”.
Dù là đứng trên góc độ nào chăng nữa, hình ảnh kể trên thật là một hình ảnh ghê rợn rất đáng lên án.
Da trắng và da đen ở Hoa Kỳ từ 300 năm qua đã luôn luôn là một vấn đề nóng hổi và hết sức nhạy cảm. Hình ảnh kể trên đã làm sống lại cả một lịch sử dài của đất nước này, nơi có người da trắng đày đọa nô lệ da đen hết sức tàn nhẫn nhưng cũng là nơi có người da trắng chấp nhận để 360,000 thanh niên con cháu họ phải chết trên các chiến trường đẫm máu trong cuộc nội chiến 1861-1865 để giải phóng người da đen.
Cũng ở đất nước này, là nước duy nhất trên thế giới mà mọi mầu da, mọi sắc tộc, mọi con người đều được bình đẳng, đều được tự do mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình, và không hề bị đòi hỏi phải hy sinh ngược lại cho đất nước này. Vì thế, mới có Tổng Thống da đen Obama, có Đại Tướng da đen Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ Colin Powell, có Ngoại Trưởng da đen Condolezza Rice, hay có thần tượng bóng rổ da đen Michael Jordan, có đại biểu “black live matter” Colin Kaeparnick, có thần tượng ca nhạc Michael Jackson, hay có khuôn mặt truyền hình nữ tỷ phú da đen cả nước biết mặt biết tên Oprah Winfrey.
Những nhân vật da đen lừng danh hoàn vũ đó cần phải đứng lên làm nhân chứng sống thực cho một nước Mỹ bao dung đã hết sự kỳ thị từ rất lâu rồi.
Chúng ta cần phải liệt kê một danh sách còn rất dài những người da đen làm nên danh nghiệp vĩ đại như thế mới hiểu được đất nước chúng ta đang sống. Đúng, làm sao hết được tư tưởng kỳ thị trong mỗi con người, da trắng, da đen, da vàng, ..v..v.., và chúng ta nên tự hỏi một cách thành thật với chính mình rằng bản thân mình có chút máu kỳ thị không? Nhưng, nếu có, cũng chỉ là một cá nhân kỳ thị, và nếu có nhiều hơn, cũng chỉ là một nhóm như tổ chức KKK kỳ thị trắng đen. Còn cả nước Mỹ hiện nay, từ ngôn ngữ, văn hóa đến luật pháp, hoàn toàn không có sự kỳ thị trong đó.
Khi chúng ta vẫn kêu gào rằng nước Mỹ có da trắng kỳ thị da đen là chúng ta chưa học hết lịch sử Hoa Kỳ. Người da trắng là nhân tố chính trong mọi cuộc tranh đấu chống kỳ thị.
Khi chúng ta nói rằng nước Mỹ không công bằng, đối xử không tốt với người thiểu số, chúng ta đã phớt lờ đi biết bao phúc lợi mà chúng ta đang được hưởng- ngay từ ngày mới đến Mỹ đã có cash assistance, food stamps, medical cho cả toàn gia đình con cháu, đi học được miễn học phí còn mang được tiền về ăn tiêu như ý muốn, sau 5 năm được vào công dân quyền lợi chính trị như mọi người Mỹ trắng khác, được bảo lãnh cả đại gia đình sang Mỹ, tự do ăn, học, vui chơi theo ý thích, và được quyền chửi bới tổng thống hay ngay cả đốt cờ Mỹ công khai cũng chẳng ai bắt bớ. Khi vui chơi, chúng ta có phất cờ Việt, cờ Mễ, hay ngay cả cờ Iran, nước Mỹ cũng có làm gì chúng ta đâu.
Lên án nước Mỹ kỳ thị là chúng ta quên lời thề nguyền trong tâm khảm khi còn đang lang thang làm con người vô tổ quốc trong các trại tị nạn, từng chỉ có một lời cầu xin duy nhất được nước Mỹ đón nhận mà thôi.
Nước Mỹ với những chính sách xã hội welfare, chính sách giáo dục ưu đãi người nghèo và thiểu số, chính sách nhân quyền nhân phẩm, không nước nào sánh bằng. Có người tị nạn Việt Nam chăm chỉ làm việc nào mà nay không giàu có? Có người tị nạn Việt Nam cần mẫn học hành nào mà nay không là bác sĩ, kỹ sư, hay doanh gia tài giỏi? Vậy nếu chúng ta có nghèo khó thì cũng phải xin một lần nhìn lại tại sao chứ? Tại chính mình hay tại chính sách của nước Mỹ.
Nước Mỹ thật không toàn hảo nhưng chắc chắn nước Mỹ không phải địa ngục trần gian, nếu không nói rằng, nước Mỹ là thiên đàng trên thế giới hiện nay.
Khi nước Mỹ chọn ông Obama làm tổng thống, cũng có gần một nửa nước Mỹ không thích, nhưng vẫn phải tôn trọng. Nay nước Mỹ chọn ông Trump làm tổng thống, một nửa nước Mỹ rõ là không thích, nhưng cũng cần phải để cho ông ta làm việc.
Tổng thống Trump là một tổng thống tệ hại chăng? Có thể chứ. Tổng Thống Obama có phải là một tổng thống giỏi chăng, chưa chắc. Có nhiều sự kiện nhìn từ hai góc, đều khác nhau, có khi khác hoàn toàn. Và, hay hay dở, nước Mỹ cũng chỉ cho ông tổng thống 8 năm tối đa, và nước Mỹ vẫn vững tiến như thường.
Nếu một viên cảnh sát da trắng có máu kỳ thị làm sai, anh ta đã làm sai, nước Mỹ không tạo cơ hội cho anh ta kỳ thị người da đen bao giờ. Khi viên cảnh sát da trắng làm một chuyện sai trái dù cả thế giới thấy rõ như thế, nước Mỹ không thể lôi anh ta ra bắn, hay lôi ra đánh một trận nhừ từ được, bất kể cả nước 300 triệu người muốn anh ta phải chết, phải bị hành tội, nước Mỹ không thể làm chuyện như vậy.
Nước Mỹ có luật pháp và luật của nước Mỹ đang được thực thi qua từng thủ tục- tạm giam, tại ngoại, khởi tố, biện hộ, rồi mới nghị tội kết án bởi người dân qua định chế bồi thẩm đoàn. Luật của nước Mỹ phức tạp với một mục đích rõ rệt, bảo vệ nghi can để tránh kết tội lầm một người. Thà tha lầm hơn kết tội lầm.
Anh cảnh sát da trắng đó cũng như những người da đen phạm tội khác, đều nhờ vào luật của nước Mỹ mà không bị đem ra ném đá, chém đầu, treo cổ, đánh đập, hay bị nhục mạ khi dân chúng nổi giận.
Nhìn lại đoạn video hay hình ảnh anh cảnh sát da trắng đè cổ một người da đen, thật là một hình ảnh hãi hùng. Nhưng nếu quý vị hay các bạn hỏi, Ý kiến của tôi là xin quý vị cùng các bạn bình tĩnh, chỉ có vậy thôi. Bình tĩnh chờ công lý được thực thi.
Hãy tin tưởng vào đất nước của chúng ta, một quốc gia vĩ đại không vì dân số cao, không vì đất nước to rộng, cũng không vì thị trường chứng khoán, lại chẳng vì ông Bill Gate hay anh facebook Mark Zuckerberg, và chắc chắn không vì ngài Obama hay ngài Trump, mà vì tiền nhân, những người dựng nước, đã lập ra một hợp chủng quốc, da trắng, đen, vàng, đỏ, hay nâu, đều có thể sống chung trong hòa bình và thịnh vượng trên căn bản tôn trọng luật pháp.
Việt Nam ta hay nói, chén dĩa trong rổ còn va chạm kêu loảng xoảng, huống chi một đất nước có hơn 150 sắc dân chung đụng.
Cảm ơn quý vị và các bạn xa gần chịu đọc ý kiến này.
Phạm Phú Nam
(dansinhtelevision@yahoo.com)

MỘT MÌNH / KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

 Châu Thạch

bienvang
MỘT MÌNH!
Một mình
Ngồi giữa đêm khuya
Không trăng
Chỉ có sao lìa trời xanh
Sầu sao
Chùm tối trên cành
Con chim không hót
Đêm đành lặng yên
Thương mình
Bao nỗi truân chuyên
Thương cây
Không gió đứng yên giữa trời
Đêm như
Thầm lặng bao lời
Ta như
Ghế đá
Một đời công viên
Thuyền hồn
Trôi giấc cô miên
Một mình
Ta với ưu phiền trần gian
Nhớ ơi
Là nhớ địa đàng
Còn đâu trái cấm sông vàng
Chúa ơi !!!

KHI NÀO TA BỎ THẾ GIAN

Khi nào
Ta bỏ thế gian
Em ơi
Đừng để hai hàng lệ rơi
Ta đi
Đi thẳng về trời
Bỏ trăng
Bỏ gió
Bỏ đời khổ đau
Ta còn
Để lại phía sau
Câu thơ nhuộm ướt
Một màu lệ trong
Bia ta
Em vẻ một vòng
Một vòng như bóng
Đêm rằm tròn trăng
Thơ ta
Em gởi lên hằng
Lửa hồng thiêu giấy
Tro tàn gió bay
Trên trời
Ta ở cùng mây
Mây đi
Đi đó đi đây phiêu bồng
Em ơi
Sắc sắc không không
Em ơi
Đừng sá chi lòng ta đau!!!
Châu Thạch

NHỮNG NĂM THÁNG ẤY

aodai xe dap

Hong mùa lên cỏ xanh rêu
Buồn giăng nghiêng vạt nắng chiều Hạ phai
Gió buông hương tóc mây dài
Cánh hồng phượng vỹ em cài bâng khuâng

Nghe sầu phiến lá ve ngân
Giọt buồn man mác bao lần biệt ly
Trăng vơi nuối mộng xuân thì
Còn xanh lưu bút mực ghi tuổi hồng

Mưa mùa Hạ tím mênh mông
Ướt mềm ký ức…hoài mong một thời
Gió đùa cánh phượng lả lơi
Những năm tháng ấy…còn chơi vơi lòng.

Nhật Quang

SÀI GÒN TRONG NỖI NHỚ

khê kinh kha

saigon mua
phố Sài Gòn chiều nay mây ảm đạm
mưa giăng đầy thành phố lạnh co ro
vai cóng lạnh hay lòng mình đang lạnh
xa cách hoài nỗi nhớ thêm xác xơ

xa cách hoài, tháng ngày buồn cúi mặt
nhớ nhung nhiều chen giữa giọt mưa bay
ôi mưa bay cho phố thêm vắng lạnh
lạnh ướt cả trời – lạnh ướt tim ai

ai ngậm ngùi và ai đang hờn tủi?
ngày quạnh hiu và nắng có âu sầu?
đêm hiu hắt vầng trăng chắc đơn lẽ?
giọt sương mềm chắc thao thức canh thâu?

mình xa nhau phố có buồn, phố khóc?
khóc cho tình non nước giữa tim ai
ôi cuộc tình mong manh như bọt nước
vỡ tan tành theo vận nước nổi trôi

Sài Gòn hỡi từ nay tình đôi ngã
xa cách này mòn rữa bao ước mơ
trời đổ mưa hay lòng tôi mưa đồ
cuối đời rối đăng cay vẫn bao la

khê kinh kha

MƯA CẦN THƠ

Nguyên Lạc

muamua 1
Phố người thảng thốt mưa rơi
Sầu luồn ngất ngất một thời xa xưa
.
Mưa tình góc khuất ru mơ
Nhung thơm tóc xỏa nghiêng bờ vai tôi
Nồng nàn một nụ hôn môi
Ngọt ngào câu nói “anh ơi thương hoài”
.
Mưa ướt má mưa ướt môi
Cần Thơ một thuở có tôi yêu người
Con đường lất phất mưa rơi
Tung tăng chân sáo em cười giòn tươi
.
Mưa trong mắt. sầu trong tôi
Đón đưa trễ hẹn lệ đầy ngây thơ
Ly chè tạ lỗi ngày xưa
Trường Đoàn Thị Điểm như vừa hôm qua
.
Em lên đại học Văn khoa
Cái Răng một thuở cúc hoa áo dài [*]
Đường về vàng cả chiều phai
Trong tôi rạng rỡ hình hài dấu yêu
.
Mưa thương nhớ biết bao nhiêu
Rộn ràng bến chợ Ninh Kiều lang thang
Tay trong tay. quán đèn vàng
Mắt trong mắt. nhạc “Em tan trường về”
.
“Em tan trường về đường mưa nho nhỏ
Em đi dịu dàng, bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường, nằm im dấu mỏ
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay”
.
“Em tan trường về, mưa bay mờ mờ
Em tan trường về, anh theo ngọ về
Anh trao vội vàng, chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở muôn thuở còn thương” [**]
.
Mưa. lữ khách. nỗi nhớ quên
Làm sao quên được mà quên đây người?
Những cơn mưa của một thời
Cần Thơ yêu dấu có người tôi yêu!
.
Phố người một bóng hắt hiu
Mưa đêm lất phất nghiêng xiêu ngăn đời
Ngoài trời. mưa mãi không thôi!
Trong tôi. mưa nhớ một thời có em
.
Nguyên Lạc
………………
[*]. Trường đại học Văn Khoa trên đường về Cái Răng, Cần Thơ
[**] Lời nhạc Ngày Xưa Hoàng Thị – Phạm Duy
Attachments

KHOA HỌC VÀ TÔN GIÁO

VÕ CÔNG LIÊM

image002

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : ‘Biến dạng / Metamorphosis’

Là hai lãnh vực thuộc lịch sử khoa học nhân văn (human sciences). Hầu như kinh nghiệm tuyệt vời nhất, chúng ta có thể coi là một sự bí truyền –The most beautiful experience we can have is the mysterious. Đó là điều xúc cảm trực tiếp, nó là cái mốc của thứ nghệ thuật sống thực (true art) và một thứ khoa học thực chứng (true science). Bất luận ai chưa một lần trải nghiệm về cuộc đời đang sống, có thể cho đó là chuyện thường tình chả có chi mới lạ lâu dài và cũng chẳng có chi là kinh ngạc trước một sự dũng cảm hay một hoàn cảnh đã xẩy ra : -chết tốt hay chết xấu /good dead or bad dead- sống chết trở nên bí mật cũng có thể là sáng tỏ, bởi; ngày nay sanh có ngày có tháng biết được và chết bất hạn kỳ không biết được; dẫu cho khoa học đã tìm thấy ở nó. Trong sự lẫn lộn giữa đau đớn và sợ hãi là khơi nguồn cảm tính phát sanh ra tôn giáo (that engendered religion). Khoa học và tôn giáo không còn bở ngỡ mà sự cố tự nhiên. Một đằng ra sức lùng kiếm, một đằng cho là cái họa mà con người gánh chịu. Cả hai phương diện đang đứng trước một tầm nhìn giữa cố vị và khai phá; người ta đang chứng thực những gì có tính chất nghệ thuật của trào lưu khoa học thực nghiệm. Thế nhưng giữa hai quan điểm đó nó đòi hỏi ở chúng ta một nhận biết về sự hiện hữu tồn lưu nhân thế, chúng ta không thể xuyên qua hay thâm nhập vào giữa lúc này một cách tự nhiên mà phải hội nhập để nhận ra đâu tà đâu chính, đâu phải đâu trái, cái đó chính là ý niệm cơ bản nhận thức của những gì có lý do sâu rộng với kết quả rực rỡ và tốt đẹp của hai chiều hướng mà chúng ta nhìn tới. Điểm nóng của thời đại mà chúng ta đang sống, không những chỉ dành cho công thức ngoại lệ hay hình thức toán học mà cần có từ trí tuệ của chúng ta. Với tôn giáo thì đây là một nhận thức hiểu biết và một linh cảm đặc biệt; đó là bản chất thực sự của tôn giáo: trong sự cảm nhận này và trong sự đơn phương này –it is this knowledge and this emotion that constitute true religiosity: in this sense and in this alone. Là hai nhân tố kết thành trong sinh vật học để đánh giá về mặt khoa học và tôn giáo; bày tỏ một chân lý tối hậu mà con người phải nhận nó như một chứng cứ sống động của thời đại. Tuy nhiên trong chứng cứ nào con người vẫn nghĩ rằng sự đó là cái ‘họa trời giáng’ cho những ai cả tin để tôn thờ / religiosity nhưng; đứng trên khiá cạnh chủ quan mà xét thì không thể tin rằng đó là ý Trời (Thượng đế) ban ơn hay hình phạt hoặc cho đây ý tốt để tìm thấy qua kinh nghiệm sống của con người. Với khoa học, nhất là khoa học hiện đại phủ nhận mọi sự lý xẫy ra bất cứ hoàn cảnh hay thời gian nào đều nằm trong phát triển mở mang (development) và dâng hiến (donation) là nghĩa vụ của con người đối với con người. Đó là qui trình chung để tiến hành cho hai phương diện khoa học và tôn giáo. Không những một người mà ngay cả tập thể rộng lớn đều cùng một nhận biết như nhau mà không một ai thoát khoải chu kỳ của ‘sanh lão bệnh tử’ đấy là nguyên nhân đưa tới sự sống và sự chết với nhiều lý do khác nhau: bởi; do linh hồn yếu đuối mà ra, có từ sợ hãi mà ra, hoặc có từ bản ngã ngu xuẩn (absurd egoism) mà ra, hoặc ôm ấp trong một suy tư ẩn tàn hay cố vị mà ra. Dữ kiện đó đã làm suy thoái tinh thần đến thể xác một cách nguy hại.
Từ chỗ đó cho chúng ta an tâm thỏa dạ với những gì là bí hiểm của vũ trụ vô biên, của những gì ẩn tàng của cuộc đời. Với nhận thức và với trải nghiệm củng cố của những thiết kế kỳ công đem lại một thế giới hiện hữu tồn lưu nhân thế, nghĩa là trong hợp tác xa hay gần đều đi tới nghĩa vụ chung trong việc thành lập hay xây dựng, đặc biệt khoa học thực nghiệm là yêu cầu cần thiết, bên cạnh những thiết bị khác với mục đích phục vụ để đem lại kết quả tốt nhất cho nhân loại, không còn coi là nghĩa vụ quốc gia mà là nghĩa vụ quốc tế là thái độ của con người đứng trước tình huống khẩn trương và góp phần để cùng nhau cọng hưởng với hiến dâng trọn vẹn của lý do và nguyên nhân ; một biểu lộ chính đáng ở tự nó trong lẽ tự nhiên. The Reason and Cause that manifests itself in nature. Thực hiện được chính là vai trò cần thiết của con người có ý thức trước hoàn cảnh; một con người có lương tâm chính đáng không bị tha hóa.
Vậy thì Tôn giáo và Khoa học làm gì để phù hợp hoàn cảnh giữa lúc này? Đòi hỏi của con người là thực thi hơn lý thuyết, dẫu có chứng minh như một sự kiện sống thực chăng; sự kiện này vẫn chưa hội đủ điều kiện ắt có và đủ để lãnh hội trọn vẹn trong khía cạnh tôn giáo và khoa học. Kinh điển một phần, công thức một phần, đòi hỏi chính đáng là nhập tâm để hoàn thành là thực chứng đi vào đời, bởi; như thế này: Mọi thứ mà con người đang chạy đua đã tới đích, ý nghĩ đó đưa đến một cảm giác sâu lắng tình người, làm vơi đi nỗi đau và sợ hãi. Con người phải củng cố trí năng nếu con người hiểu biết và mong muốn trong một tinh thần phát huy khả năng và phục vụ. Cảm nhận và mong muốn là động lực đứng sau tất cả nỗ lực của con người và sáng tạo của con người –Feeling and longing are the motive force behind all human endeavour and human creation; đó là những gì chúng ta cảm thấy được. Nhu cầu đó chính là chúng ta cần có người lãnh đạo: -tinh khiết và trách nhiệm- nghĩa là không vướng, không tham, không vọng tất cả yếm thế đó không phù hợp với lời yêu cầu. Chúng ta cần sự trong sáng và minh bạch trong tôn giáo và khoa học là một hợp tác song phương để dựng vào đó một thế giới đại đồng, tất chúng ta đi tới ý thức nhất thể không còn chứng tỏ hay theo luận cứ của phép nhị nguyên. Giờ đây; chỉ có một không có hai để đi tới hợp thông là đi tới nhất quán luận. Nghĩa là không lấy tôn giáo làm giáo điều và không lấy vũ trụ khoa học để chứng minh. Song phương là vai trò và nghĩa vụ của việc làm, bởi; Tôn giáo và Khoa học là ý nghĩ và niềm tin trong một cảm thức khôn ngoan của lời nói –to religious and science thought and belief in the widest sense of the words; Lời nói ấy mới sự thật chân chính để dựng nên cho lý thuyết đã được đề ra.
Như vậy chúng ta đã đi tới ý niệm liên quan của khoa học, còn đến với tôn giáo là điều rất khác biệt từ những gì thông thường về con người. Viễn cảnh đó là vấn đề có tính chất lịch sử. Khuynh hướng được nhìn tới giữa khoa học và tôn giáo là tương phản không thể hòa hợp được, đó là lý do minh bạch. Con người là người hết sức bén nhạy, uyên thâm, hiểu rõ và nhận biết những gì vận hành thuộc vũ trụ. Dĩ nhiên; cung cấp những gì lấy ra từ giả thuyết của luật nhân quả (law of causation) là điều xác thực và đúng đắng theo tư tưởng tôn giáo, nó không là lời nói đơn phương mà là trải nghiệm có từ nơi con người: giữa tốt và xấu; gần như định đề cố hữu không thể thay đổi mà là qui trình đối xử của con người. Thành ra khoa học và tôn giáo là hai mặt tâm lý xã hội, nó không còn là vai trò đơn phương; hai lãnh vực này tuy khác nhau nhưng trong cùng một mục đích ‘hòa giải’ giữa vật chất và tinh thần : -vật chất phải thực chứng đúng nhu cầu mong muốn, nhất là khoa học phải sáng tỏ: không pha, không chế, không giả tạo mà tác động là thái độ của nền khoa học văn minh.Với tôn giáo duy trì một tinh thần trong bóng: không vị, không tham và không-hóa để đi tới toàn thiện, toàn mỹ. Cả hai được nhìn nhận là tình thật (true-love) và mang tính chất thẩm mỹ (aesthetic). Đạt được nó tất chúng ta đạt tới một thẩm mỹ quan (conception) là ý niệm dành cho con người trong cùng một quan niệm của khoa học thực dụng và khoa học tôn giáo; có nghĩa rằng con người đã vượt ra khỏi ‘xích hóa’ tư tưởng, không còn phi thực, trong khi tôn giáo yêu cầu chân-thiện-mỹ để đi tới nhất thể của ‘giáo ngoại biệt truyền’ như đã nói ở trên là phát tâm. Tuy nhiên; sắc thái và ý nghĩa khác nhau ‘bất lập văn tự’ mà đòi hỏi ở đó một nhận thức hiểu biết (acknowledgment) để thực hiện những gì đã lãnh hội được một cách trung thực và hiệu quả đúng qui cách tu / tập ngày nay.
Thượng đế người đã ban ơn và trừng phạt là siêu lý không thể nghĩ tới, bởi; nó có cái vô hình nhưng hữu hình trong chức năng vô biên; đó là lý do giản đơn tác động vào tâm linh con người là điều cần thiết.Thế nhưng khoa học đã phải gánh chịu với những gì chưa định rõ ở đó là đạo đức luân lý –Science has therefore been charged with undermining morality, nhưng; sự gánh vác đó bất hợp pháp –but; the charge is unjust. Trên phương diện đạo đức luân lý của con người thứ phẩm hạnh có thể coi là cơ bản phù hợp: tôn giáo, giáo dục và xã hội là nhân tố kết hợp vào nhau. Cơ bản của tôn giáo đòi hỏi niềm tin hơn những thứ cần thiết khác. Như vậy con người thật tội nghiệp phải cam chịu nỗi sợ hãi của hình phạt và chỉ có niềm tin hy vọng được bù đắp sau cái chết. Khoa học không thực thi những điều ước ấy mà tác động vào sự thật như một hành vi đối xử của con người để đi tới cái chết ‘hạnh phúc’ hơn sống trong đau khổ. Vậy thì lấy gì để xác tín một cách sâu xa sự hợp lẽ của vũ trụ và sự gì để cảm thông –What a deep conviction of the rationality of the universe and what a yearning to understand. Nói ra như chất vấn nhưng đó là sự phản ảnh yếu ớt của trí tuệ, bộc lộ xung quanh một thế giời đa nghi và ngờ vực, bởi; chưa thực lòng tin. Với khoa học tin hay không tin là một thử thách để tìm kiếm trong một sáng tạo mới cho nhu cầu cần thiết. Tôn giáo là giáo điều, là đòi hỏi cố chấp, buộc tội hay được tha để tạo vào đó niềm tin mà xưa nay con người chấp nhận như một nhận lãnh làm người, nghĩa là luôn luôn có tội và luôn luôn được tha. Nhưng nhớ cho; Thượng đế không có luật điều đối với con người, bởi; con người là con cái của thượng- đế. Giữa Thượng đế và con người chỉ có lời răn để đi tới giác ngộ là dấu hiệu vĩnh cửu. Nói chung mọi thứ đều để tâm là yêu cầu cần thiết. Chỉ có Người hiến dâng cuộc đời trong hành động cuối cùng một cách giản đơn; một hiện thực chói lọi của cái chết là truyền đạt đầy cảm hứng và cho những gì của sức mạnh còn lại một cách trung thực; mặc dù đối đầu với vô số lỗi lầm gây ra. Chỉ có một thứ tôn giáo vũ trụ (cosmic religious) may ra chúng ta ý thức cái gì tạo ra sức mạnh (strength) vô biên. Từ đó con người mới nhận ra quyền năng của đấng vũ trụ. Đó là vấn đề đặc ra hôm nay giữa sống và chết, giữa tốt và xấu là hai mặt phân tâm có tính chất tâm thần (mental) hơn là bệnh lý (disease). Đứng trên phương diện khoa học y khoa cho đây là triệu chứng của xác và hồn trong mỗi con người của chúng ta. Đồng thời có người cho rằng lý lẽ ấy chưa hẳn phải là hợp pháp, cái đó nó nằm trong thời kỳ duy vật biện chứng của thời đại khoa học mà chúng ta đang sống và làm việc, nó chỉ nằm trong thâm sâu cùng cốc của những người mộ đạo mà thôi; chớ trên thực tế như lời Nietzsche nói: ‘Thượng đế đã chết / God is dead’ hoặc ‘không có Thượng đế / there is no God’ là lý luận phản đề đối với tôn giáo. Khoa học hiện đại không nhìn nhận sự có mặt hay không có mặt của thượng-đế và coi đó là mệnh lênh mà đó chỉ là mặc khải giữa con người và Thượng đế. Khoa học không có ‘luật điều im lặng’ mà bày tỏ thực chứng giữa khoa học xã hội và con người. Thành ra quan điểm để nhìn thấy của khoa học và tôn giáo là niềm tin chính đáng cho một tâm thức trong sáng.

Nietzsche phủ nhận thượng-đế đó là cái nhìn cảm tưởng / opinion , quan điểm đó chưa hẳn phải là một dữ kiện cả quyết và cũng không đợi Nietzsche nói tới sống còn hay đã chết của thượng-đế. Trong vũ trụ loài người đã nghĩ những gì như Nietzsche nói hôm nay. ‘sự sống còn của chủ chăn là tiêu chuẩn tối thượng / the survival of the herd is the ultimate standard’. Đó là lời rao cho một niềm tin có trách nhiệm với loài người, nhưng; trên thực tế mức độ đòi hỏi sự thật không vin vào cơ bản hợp lý của việc làm, mà đòi hỏi ở đó một nhận thức sâu đậm của nghĩa vụ: vai trò và trách nhiệm. Chẳng qua đó là lý luận căn bản phát xuất từ cảm tưởng, chớ thực tình trong lời chối bỏ vẫn còn có một niềm tin tiềm ẩn trong trí tuệ; cái đó gọi là nguồn gốc của trí tuệ hiện đại đã tìm thấy trong bước đầu ở tk. mười bảy và tk. mười tám những gì khám phá trong tư tưởng của khoa học, ngược lại thời điểm đó tôn giáo gần như đối đầu trước những biến động xã hội… Lúc này chính là bước đầu trong toán học vả khoa học tự nhiên (natural sciences) để sắp xếp lại ý chí của con người đang nhìn tới vũ trụ: là nơi sống / chết của con người. Thế hệ mới ngày nay đã tàn phá những việc đã làm (wrought-havoc) với mẫu thức tập truyền của xã hội và tư tưởng chậm tiến để lại, đều có một sự phản kháng chống trả tất cả những gì xưa cổ của khoa học và ngay cả tôn giáo với giáo điều đông cứng cục bộ; đấy là điều cho chúng ta khám phá thực hư của sự kiện trong kinh nghiệm tự do để mọi người có một cảm thức mới hơn (new sense) có mục đích. Lạc quan chắc chắn cho ta lớn dần trong những gì bi quan yếm thế. Trong lúc khoa học kỹ thuật là cuộc chạy đua hàng đầu để đi tới một kết quả không tưởng. Tôn giáo chủ nghĩa ở thế thụ động giữa thượng-đế và con người là bước đi tiệm tiến trong tiết điệu hài hòa của lòng tin, nhưng; có chắc rằng con đường đi tới la trực chỉ nhân tâm hay vẫn là thứ giáo điều chưa gặp gỡ?. Đấy là điều quan trọng để tìm thấy trong thời đại chúng ta đang sống ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc .cuối tháng 5/2020)

ĐỌC THÊM: ‘Thượng đế đã chết Nietzsche’ của võcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/c đã ghi.
TRANH VẼ: ‘Biến dạng / Metamorphosis’ Khổ 15” X 25”” Trên giấy cứng. Acrylics+house-paint+Mixed. Vcl#262017.

GIỚI NGHIÊM

VÕ CÔNG LIÊM

corona virus

ôn dịch
đại họa phủ sóng khắp nơi
bế môn tỏa cảng ăn chơi cọ mình
ngồi buồn . gải háng dái lăn tăn
nhớ xưa truyền hịch chống xâm lăng
ngày nay truyền dịch tràn lan mọi người
em . trốn dịch cho đời không thấy mặt
tôi . trốn dịch như trốn lính đầu quân ngày nào
có đánh nhau đâu mà thua thiệt
kẻ thù bất cộng đái thiên
tại trời hay tại nhân gian
hay là có kẻ chơi trong giấu ngoài ?
giới nghiêm
cuộc chiến đã tàn chưa
cho tôi đi lại thênh thang giữa đời
hát vu vơ hát điên cuồng
cho em dắt chó giữa đường cái quan
sống chỉ một lần chết mãi nghìn sau
giới nghiêm
sáng dưa
trưa muối
túi cà
ăn chay niệm phật một thời hư ăn
làm thân tế độ kiếp này được tha
để cho mai mốt không còn có chi
ôn dịch
đại họa
toàn cầu
sống chết bất thường chả sợ ma trơi
cá chết không thúi sông
cọp chết để da
người ta chết để tiếng
mộ chí ghi tên
chết cho ôn dịch thần sầu
một đời
khó quên
giới nghiêm
với chuyện ta bà
thuở xưa có dịch
mà đâu cấm đường
chết vô tư
chết bình thường
không sợ dịch
chả sợ ma
hề ! giới nghiêm

thằng bé
buồn cười
hơn
buồn khóc ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch covid-19 / cuối tháng 5/2020)

Hoang Tưởng Ngày Thiếu Nhi 1 – 6

Phạm Nga

1.
tre nam duongMột sáng chúa nhật, một anh bạn hẹn tôi uống cà phê gần cổng Nhà Thiếu nhi thành phố mà không phải chỗ nào khác vì trúng bữa anh phải đưa con đến đây học vẽ. Lâu rồi, từ hồi chưa xây tòa nhà mới thật hoành tráng thì cái trung tâm sinh hoạt lớn nhất thành phố  này vẫn đã dành riêng cho trẻ em đến vui chơi, học tập các môn có tính năng khiếu như hội hoạ, âm nhạc, võ thuật.v.v… Có một dạo, dù còn phải kiếm sống khá chật vật, tôi cũng ráng đưa con gái mình đến học vẽ trong dịp hè. Con bé thích học đàn dương cầm hơn nhưng học phí môn này thì cao mà phần thực tập, ngồi vào đàn thì khá ít ỏi. Đành tránh qua một bên môn chơi quí tộc này thôi!
Nắng đã lên cao, tôi dắt xe ra về thì tình cờ gặp một phụ nữ đang chờ rước con ở cổng. Chị cười, gật đầu khi cháu bé khoanh tay chào mẹ. Chợt chị ngăn con mình lại, nói nhỏ:
“Nè, con có thấy ông đứng ở gốc cây kia hôn? Mẹ con mình cũng khó nhưng ông còn đang khó hơn mình nữa con à. Ông không có con cháu nuôi dưỡng ở nhà nên già yếu như ngoại con rồi mà còn phải ra đường… Con thấy ông tội nghiệp hôn? Vậy thì con tới giúp ông đi há?”.
Chị đưa con một tờ 5000 đồng, chỉ về phía một cụ già ăn xin đang đứng, gần như ẩn núp ở một gốc cây to trên vỉa hè. Đứa bé ngoan ngoan “dạ”, đĩnh đạc bước đến trước mặt cụ già, nói lí nhí gì đó rồi hai tay kính cẩn đưa ra tờ bạc…
Tôi chợt cảm thấy xốn xang. Chị phụ nữ, với chiếc “cánh én” rách yên, bộ đồng phục công nhân chị đang mặc cũng không lành lặn gì, vậy mà không hiểu sao chị đã tránh dùng từ “nghèo”, chỉ dùng từ “khó” khi dạy con mình? Hay “nghèo” nghe có vẻ quá ức chế, như rất nhiều người nhất định cho là mình nghèo là do số mạng trói buộc, còn “khó’ thì có thể chỉ là tạm thời, còn có hy vọng vượt qua, như người ta vẫn thường vẫn an ủi nhau với cách nói “khó khăn trước mắt…”?
Nhưng dù đang thuộc phía người nghèo, chị phụ nữ khả kính vẫn dạy cho con mình – dạy cả cho tôi nữa, đã thầm lén chứng kiến nãy giờ – một bài học về lòng nhân ái, thói quen làm việc thiện, một cách tuyệt vời!
Rõ ràng điều đáng quí không phải ở số tiền cho mà ở cách cho, như em bé đã học được từ mẹ mình. Thật tình tôi không chắc là tôi, xuất thân nhà giáo – có thể cả cái bà phấn son lòe loẹt vừa dừng chiếc xe hơi bảng số xanh mới tinh hảo để rước cậu con béo phị – biết cách dạy con mình về lòng thương người bằng một phương pháp giản dị nhưng đầy tính thuyết phục như vậy.
Nhìn theo hai mẹ con người-tốt đi xa, tôi lại có một thắc mắc khác từ hình ảnh cụ già ăn xin.Trên vỉa hè vắng người đang có một thanh niên bày bán các loại báo chí trên mặt đất. Tôi mua đại một tờ rồi hỏi: “Chắc cháu đã bán ở đây lâu rồi hả? Có thấy dân ăn xin được vô trong nhà thiếu nhi không?”. Cậu ta vừa dáo dác nhìn về phía cuối đường – chắc sợ công an đến hốt – vừa đáp: “Dạ đâu có được, bảo vệ đuổi hết. Chỉ có người tàn tật bán vé số thì may ra, nhưng bữa nào đông các em quá thì cũng khó được cho vô…”. Tôi mới nhớ ra rằng trong cả tiếng đồng hồ ngồi cà phê, chuyện vãn với anh bạn vừa rồi trong căn-tin, đã không thấy bóng dáng người ăn xin nào. Hèn chi, lúc nãy cụ già cứ đứng hoài ở gốc cây bên ngoài nhà thiếu nhi, tưởng là cụ trốn nắng.
2.
Tôi chạy xe về phía dinh Thống Nhất thì bệnh “khó tiêu” nặng nề trong tâm tưởng lại tái phát. Đó là mấy em bé, không rõ là người Campuchia hay người dân tộc thiểu số nào khác, đang xin ăn quanh quẩn ở một ngã tư cách nhà thiếu nhi chừng ba, bốn trăm mét. Dưới nắng bụi, đứa nào cũng đen nhẻm, hôi hám, áo quần rách nát. Một đứa nhỏ xíu được chị nó bế trên tay thì ở truồng, mũi dãi lòng thòng. Tất cả đều thảm thương, tơi tả. Chỉ có mấy cái gáo nhựa, tô nhựa màu xanh màu đỏ mà các em đang chìa ra xin ăn là mới tinh, sáng lòa, nổi bật một cách kỳ cục, không hiểu nổi.
Dân thiểu số kéo về thành phố Sài Gòn xin ăn là một hình ảnh đã quá quen thuộc trước mắt mọi người, nhưng lòng tôi cứ bâng khuâng. Vừa rồi, tại nhà thiếu nhi, các em bé đứa nào đứa nấy trông cũng sạch sẽ, khoẻ mạnh, thậm chí béo phì – đúng là mẫu khách quí được chào đón, chăm sóc, dạy dỗ ở một tòa biệt thự đồ sộ, khang trang, thoáng mát. Hơn thế, hẳn để bảo vệ khung cảnh sang trọng của mình, nơi đây cấm cửa dân ăn xin.
Tôi tự hỏi: “Có thể suy đoán là do sợ mất trật tự, mất vệ sinh, mất cắp đồ đạc… nên Nhà thiếu nhi cấm dân ăn xin. Nhưng nếu người ăn xin là thiếu nhi thì sao? Nhà thiếu nhi là dành cho thiếu nhi cơ mà, và trong nội qui Nhà thiếu nhi đâu có điều khoản đặc biệt nào qui định việc cấm cửa thiếu-nhi-ăn-xin?”.
Rồi tôi mơ hồ cầu xin ai đó, rằng: “Thưa ban giám đốc Nhà thiếu nhi, nếu quý vị trả lời là chưa nghiên cứu về thiếu-nhi-ăn-xin thì xin quý vị cũng nên linh động, uyển chuyển mà cho phép…”. Một giọng lạnh giá bác ngay thỉnh cầu của tôi: “Không thể! Chức năng chúng tôi là đón nhận, phục vụ thiếu niên – nhi đồng vào sinh hoạt, nghĩa là vui chơi, tập luyện, nâng cao năng khiếu. Còn về phần các em ăn xin, nếu có vào đây cũng đâu có sinh hoạt gì mà chỉ có… xin ăn, nên không thuộc chức năng của Nhà thiếu nhi mà thuộc ngành thương binh – xã hội. Chỉ có một trường hợp duy nhất có thể được xem xét là, nếu các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt, tức phải giống các thiếu nhi khác khi đến đây…”.
Cắt! Tôi lập tức tự bật qua OFF.
Nãy giờ, mọi hỏi-đáp, thỉnh cầu gì đó chỉ là do tôi hoang tưởng nhưng tôi đã muốn điên lên thật sự vì cách lý giải dài dòng rất “công chức” của ai đó, cứ “sinh hoạt” rồi lại “xin ăn” rối tung cả lên. Nhưng tôi “cắt” không phải vì đã tỉnh cơn điên, mà vì… Trời hỡi! Có người bình thường nào mà tưởng tượng ra nổi chuyện một ngày nào đó, các em bé ăn xin dơ dáy, hôi hám kia quăng mấy cái gáo nhựa xin ăn để hiên ngang bước vào Nhà thiếu nhi, rồi đường bệ lựa chọn môn sinh hoạt – học tập, điền vào phiếu đăng ký, đóng tiền học, như học đàn piano, học hội họa, học múa ba-lê…? Con cái nhà lao động nghèo và cả một số gia đình trung lưu còn không dám mơ đến những môn “quý tộc” cao sang này nữa là!
Nhận trọng trách quản lý Nhà thiếu nhi, ban giám đốc khả kính của chúng ta – nhất định cũng là người bình thường, thì nhất định họ có yêu mến trẻ em, ít ra là theo chừng mực của bất cứ con-người-có-trái-tim nào khác trên đời này. Vậy làm sao quí ban giám đốc lại có thể giả định một trường hợp là “các em ăn xin vào đây không phải để xin ăn mà là để sinh hoạt”, hoàn toàn có thể khiến các em ăn xin nghe mà vô cùng tủi nhục?
Ngay điều giả định đầu tiên trong thỉnh cầu mê muội của tôi, là “Ban giám đốc linh động cho phép trẻ em ăn xin vào… xin ăn trong Nhà thiếu nhi!” thì đã là hoang tưởng rồi vì chuyện này may ra chỉ có thể có trong loại truyện cổ tích thời hiện đại dành viết về những ông tiên, bà tiên tự nhiên mà xuất hiện trong giới quan chức quản lý. 
3.
Tôi đã có phần tỉnh táo trở lại nhưng hoang tưởng trong tôi vẫn lì lợm, không-biết-tiếp-thu, vì nó nhất định “sinh hoạt” theo phạm trù cảm xúc mềm mại của riêng mình, chứ không theo cùng những phạm trù lý luận duy lý, duy hệ thống cứng ngắt, lạnh lùng của những nhà công chức chuyên nghiệp.
Hoang tưởng vừa xúi tôi trình ra một thỉnh cầu vớt vát: “Vậy thì vào ngày Quốc tế Thiếu Nhi hằng năm, như sắp tới ngày 1 tháng 6 rồi kìa, thì sao? Vâng, thưa ban giám đốc, đúng rồi, đó là ngày lễ lớn, tầm cỡ quốc tế, thuộc nguyên con vào chức năng của quí vị chứ không phải của ai khác. Ngày mà toàn thể nhân loại, đứng đầu là Liên Hợp Quốc, đồng loạt dành tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời này cho thiếu nhi, nhất là trẻ em thuộc các nước nghèo, đang phát triển như Việt Nam ta. Vậy ban giám đốc có hạ cố, uyển chuyển cho phép các em xin ăn vào Nhà thiếu nhi sinh hoạt, chung vui cùng với mọi thiếu niên – nhi đồng khác hay không? Xin một lần duy nhất này thôi cũng được. Hay quí vị cứ cho phép các em vô để “sinh hoạt” thôi, “xin ăn” thì vẫn cấm tiệt cũng được…”.
Cắt! Lại phải cắt.
Hoang tưởng ơi, nếu không thể làm khó dễ người khác chút nào đó thì cũng không nên làm khổ chính mình. Có điều này là dễ dàng nhất đây. Hãy tưởng tượng về đoạn đường từ cái ngã tư có các em bé ăn xin đến cổng Nhà thiếu nhi thì riêng đối với các em bé đang sống bên lề xã hội ấy, đoạn đường này không phải chỉ dài có vài trăm mét, mà phải dài tới bằng đường… lên trời! 
4.
Vừa rồi, từ chuyện chị phụ nữ nghèo dạy con làm việc thiện cho đến chuyện các em bé xin ăn, sống nhờ vào lòng từ thiện của mọi người, chuyện nào cũng khiến cho tôi xúc động sâu xa nên tôi rơi vào hoang tưởng. Buồn nhất là khi tôi “dựa hơi” ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1 tháng 6 để cầu xin ai đó một cách vô vọng.

Đúng ra, không cần ai phải dạy đời cho ai, cũng như không cần phải chờ đến ngày 1 tháng 6 hằng năm, chúng ta mới suy gẫm về cách dạy con trẻ về lòng nhân ái. Bao lâu trong cuộc sống vẫn còn những người lớn, những đứa trẻ vô cảm trước tình cảnh nghèo khó, khổ sở của người khác thì đó vẫn là một món nợ lớn lao, thuộc trách nhiệm của toàn xã hội và mỗi gia đình. Riêng về chuyện những em bé ăn xin thì vấn đề người lang thang, bụi đời, xin ăn.v.v…, ở mọi lứa tuổi và sắc tộc, trước hết là trách nhiệm, phần hành của ngành thương binh – xã hội. Tiếc là hiệu quả công tác của ngành này còn quá hạn chế nên trên đường phố còn quá nhiều dân ăn xin, lang thang đầu đường xó chợ.
Nhưng “Đừng tuyệt vọng, tôi ơi, đừng tuyệt vọng…” (Tôi tự biết mình còn có một cái tật khó ưa, hay bị bạn bè cười mà tha thứ cho, đó là thỉnh thoảng tôi cứ lấy nhạc Trịnh Công Sơn mà minh họa cho nỗi niềm của mình). Xung quanh ta vẫn còn nhiều điều tuyệt diệu để có thể sống và hy vọng vào cuộc đời.
Vào những dịp lễ Quốc tế Thiếu nhi, Tết Trung thu, Giáng sinh, Tết nguyên đán.v.v…, từ lâu đã có những nhà hảo tâm, những nhà hoạt động xã hội, những nhà tu hành, những chị tiểu thương ở các chợ, những thanh niên nam nữ tình nguyện trong nước hoặc đến từ những đất nước xa xôi, có cả những nhân viên – người Việt cùng người nước ngoài – của những công ty nước ngoài, liên doanh, tư nhân…, cả khách du lịch ba-lô nữa, họ chia nhau tìm đến những vĩa hè, những gầm cầu, những công viên trong thành phố. Tại những nơi tạm-trú-khỏi-đăng-ký này của dân lang thang, bụi đời, cơ nhỡ, những con người tốt bụng ấy đã tặng quà – chủ yếu là thức ăn và quần áo, giày dép – cho các trẻ em kém may mắn, không phân biệt dân thành phố, dân các tỉnh, người kinh, người Thượng gì cả. Giữa đêm tối – phải là đêm hôm khuya khoắc mới gặp đông đủ các em đi kiếm ăn trở về “nhà” – họ còn chơi trò chơi, kể chuyện, hò hát, hớt tóc, cắt móng tay, sứt ghẻ… cho các em. Và không chờ đến các dịp hè hay lễ tết, đã có những lớp học tình thương do những người tình nguyện mở ra, đôi khi ngay trên các vỉa hè thiếu ánh sáng, để dạy chữ, dạy nghề cho trẻ em bụi đời, cùng những hoạt động ngày càng mở rộng của những Nhà Mở , Làng Thiếu nhi SOS… do các tổ chức thiện nguyện nước ngoài thành lập và các cơ sở bảo trợ, nuôi dạy trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật, cơ nhỡ của các vị sư, các nữ tu, nhà giáo về hưu… Đơn giản là họ chỉ biết ngày đêm hoạt động với mục tiêu “Tất cả vì thiếu nhi” mà không cần ai đó ghi cho thành tích nhì nhằng này nọ, rằng là tổ chức công hay tư, cá nhân hay tập thể, hoạt động thường xuyên hay nhất thời, do tiền túi riêng, tiền quyên góp hay tiền tài trợ.v.v…
Tất cả những việc làm của những người-tốt nói trên đều có ý nghĩa cao đẹp, ít nhiều đều góp phần cải thiện tình hình nghèo đói trong cộng đồng xã hội. Đó là cách mà những con người tốt kia đã làm, đã đến với các trẻ em nghèo khổ, lang thang.
Ngược lại, cái cách mà các em bé ăn xin có thể đến, có thể được bước vào một nơi chốn có treo bảng là dành riêng phục vụ trẻ em, thiếu niên – nhi đồng, thì vẫn chỉ là trò vẽ vời trong hoang tưởng vớ vẩn của riêng tôi…

Phạm Nga

ĐỌC “CHÂN DUNG TỰ HOA 34” CỦA LÊ THIÊN MINH KHOA.

Châu Thach

flowers
Thơ Lê Thiên Minh Khoa tự họa 34:
VÀ EM…
Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua
Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi
Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm
Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…
Nhà sáng tác Đà Lạt – 8.2006
LÊ THIÊN MINH KHOA

Lời Bình: Châu Thạch

Có lần tôi đã viết một bài cảm nhận về “Thơ Ngắn Lạ Đời Lê Thiên Minh Khoa”. Ngoài những bài thơ ngắn lạ đời đó, nhà thơ Lê Thiên Minh khoa còn có nhiều bài thơ “Chân Dung Tự Họa” cũng rất lạ đời. Hôm nay tôi xin bàn đến một trong những bài thơ ấy. Đó là bài “Và Em..”

“Và Em…” là một bài thơ mà Lê Thiên Minh khoa không tự họa chân dung của khuôn mặt mình. Nhà thơ tự họa chân dung của tâm hồn mình. Đọc “Và Em…”, ai mến Khoa thì gọi nó là thơ, ai ghét khoa thì gọi nó không là thơ cũng được. Bởi vì “Và Em …” như lời vu vơ của một tên khùng. Ngược lại “Và Em…” cũng như lời cao vời của một thi nhân:

Và em.
Và tôi.
Và thơ.
Và lung linh rượu.
Và chờ đêm qua

Em, tôi, thơ và rượu được hòa điệu trong nhau là những thời khắc hạnh phúc tuyệt vời. Chữ “Và” cho ta cảm nhận sự hội ngộ của 4 nhân vật đem đến niềm vui trác tuyệt. Em là một nhân vật, tôi là một nhân vật, thơ và rượu ở đây cũng được nhân cách hóa thành hai nhân vật để đáng ra, cuộc vui tồn tại thâu đêm.
Thế nhưng lạ thay, nhà thơ xuống một câu thơ nghịch lý vô cùng: “Và chờ qua đêm”.

Chờ ai qua đêm và vì sao phải chờ qua đêm?

Đọc câu thơ nầy tôi bỏ bài thơ xuỗng. Không hiểu! Ngày hôm sau đọc lại câu thơ nầy, tôi lại bỏ bài thơ xuống. Không hiểu! Rồi bỗng một lúc nào đó, sáng tỏ bừng lên trong đầu tôi khi đọc tiếp khổ thơ thứ hai của Lê Thiên Minh Khoa:

Và Không.
Và Phật.
Và Ma.
Hội nhau trong cõi ta – bà
Rong chơi

Hóa ra “Và em, và tôi, và thơ” chỉ là chữ “Sắc” trong đạo Phật. “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chữ “Sắc” nầy biến thành chữ “Không” ngay trong tâm hồn vô thường của nhà thơ: “Và không”

Hình như trong khổ thơ thứ nhất chỉ có rượu là thật, còn tất cả chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh ấy diển biến trong tâm trí nhà thơ mà thôi. Nhà thơ đang cô đơn giữa cuộc đời, đang bơ vơ lạc lõng trong hố thẳm trí tuệ, đang mất định hướng về đời, về thơ, về tình và về chính bản thân mình.

Đi với linh hồn Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, ở trong đầu Lê Thiên Minh Khoa lúc ấy, không những chỉ có bóng em, bóng thơ mà còn có bóng ma và bóng Phật. Tất cả các bóng đó chập chọa, ẩn rồi hiện, có mà không, không mà có. Những hình bóng đó cùng Lê Thiên Minh Khoa “Hội nhau trong cõi ta-bà/ Rong chơi”. Đúng ra, tất cả những bóng ấy ám ảnh trong tâm hồn nhà thơ, đích thị là chân dung của “tâm hồn Lê Thiên Minh Khoa” đã tự họa cho mình. Một tâm hồn đang khắc khỏi với những nan đề của tình yêu và của tâm linh khó giải trong cuộc sống.

Đọc hai khổ thơ trên ta thấy nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa không rong chơi bình an bao giờ. Tác giả mang nặng trong tâm tư mình sự dằn vặt, thắc mắc, chạy đi tìm kiếm nhiều sự thật còn mập mở. Nhà thơ đang đuổi theo những bóng chân lý về đời, về tình, về thơ, về đạo và về cái “tôi” của chính nhà thơ. Có lẽ nhà thơ chỉ có thể rong chơi được trong rượu để “chờ qua đêm”. Chờ qua đêm để trông mong hội ngộ cái chân lý mình tìm kiếm. Chân lý ấy như bóng ma, chỉ chập chờn trong tư duy mà chẳng bao giờ lộ diện nguyên hình để nhà thơ bắt được nó trong trí óc của mình. Bởi thế nhà thơ “Chờ qua đêm” và sẽ còn “Chờ qua đêm” mãi mãi…

Và khi hoài nghi trong đầu lên đến độ cao, thật và ảo làm mờ đôi mắt tuệ, nhà Lê Thiên Minh Khoa không đi tìm cứu cánh trong đạo, trong thiền để định được tâm linh mình. Nhà thơ đi tìm cứu cánh trong thơ và rượu thì dễ lắm tinh thần tẩu hỏa, cái nhìn trở nên bấn loạn:

Và em.
Và tôi.
Và ai.
Và trăm năm
Vẫn nhớ hoài ngàn năm

Bây giờ Lê Thiên Mình Khoa không biết em, không biết tôi, không biết cả thời gian dài hay ngắn. Khổ thơ cho ta thấy sự nghi ngờ, sự lẩn lộn xảy ra trong tâm hồn tác giả. Mọi sự nhà thơ dồn vào trong một chữ “Và”. Chữ “Và” đó chứa em, chứa tôi, chứa ai nữa không biết, chứa nỗi nhớ gì không biết, chỉ biết là nhớ 100 năm cho đến 1000 năm còn nhớ.

Sau phút loạn thị đôi mắt của tuệ, những tưởng nhà thơ tẩu hỏa vi căn thẳng tư duy trong rượu. Nhưng không, Lê Thiên Minh Khoa còn tỉnh táo để cho ta biết nỗi nhớ trăm năm, ngàn năm, hay chính ra, là nỗi nhớ trải qua bao kiếp người. Bao kiếp người ấy nhà thơ đã nhận chịu những nỗi đau vật chất và tinh thần phi lý:

Và ngàn năm
Nhớ xa xăm
Và xa xăm nhớ lầm
Than kiếp người!…

Hóa ra cũng chỉ là nhớ nỗi đau của “Khổ Đế”, một chân lý trong bốn chân lý mà Đức phật tìm ra dưới gốc cây bồ đề. Đức Phật tìm ra nguyên nhân của sự khổ, Ngài ngộ được nhưng Lê Thiên Minh Khoa không ngộ được. Nhà thơ có thấy chăng cái nguyên nhân đó, thì cũng như sự thấy của triệu triệu sinh linh trong cõi ta bà nầy, nghĩa là thấy mập mờ hình bóng mà thôi, thấy như thấy vầng trăng Đức Phật chỉ, nhưng nó ở ngàn vạn xa không bao giờ đến được.

Là một thi nhân còn trong cõi tục lụy, mang nỗi đau của kiếp nhân sinh, con tim nhạy cảm, rung động trước hoan lạc và trước nỗi buồn, tìềm tàng trong linh hồn mập mờ hình ảnh những nhánh sông đời trong tiền kiếp, nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa bật lên trong thơ tiếng kêu của mình, như tiếng con nai vàng lạc trong rừng rậm. Nhà thơ tự họa bằng thơ chân dung của linh hồn mình, như một con thuyền bơ vơ trôi giữa hư và thực, kể cả ngọn hải đăng của đời, của Thiên Đường hay của địa ngục cũng không có. Em và tôi và ma và Phật, và trăm năm đều nằm trong ly rượu. đó là thứ đạo chân lý mà Lê Thiên Minh Khoa làm giáo chủ, để vơi đi nỗi nhớ xa xăm, để quên đi những bài toán khó của cuộc đời không giải được như thần linh, như ma quỷ ám ảnh nhà thơ mãi mãi ./.
Châu Thach

KHI CHỢT GẶP NGÔI TRƯỜNG

Nguyên Lạc

ao-dai-6
Tưởng rằng quên được một thời
Khóa trong tiềm thức lâu rồi … xưa xa
Ô kìa! Cuối phố phải là …?
Không đâu tôi nhé!
Chỉ là nhớ thương
.
Ve reo. huyết phượng con đường
Dáng em trắng cả ngôi trường tuổi mơ
Có tôi run ngất tờ thơ
Mắt ai lá trúc nhung tơ tóc thề
.
Môi hồng vẫn thắm đam mê?
Khổ đau có đã …?
Đi về chung. riêng?
.
Vẫn tôi. vẫn nỗi muộn phiền
Trường xưa. lối cũ. hiện tiền đó sao?
Không đâu! Chỉ xót xa nào
Ngôi trường lạ lẫm. cớ sao lại buồn?
.
Thời gian bóng vụt qua song
Làm sao níu được xuôi dòng nước trôi?
Thôi đành thôi nhé. đành thôi!
Phượng hồng tình đó một đời riêng mang!
.
Bể dâu cùng với điêu tàn
Bao giờ hạnh ngộ?
Ly tan đang là
Vô thường lời Phật dạy ta
Lục Như kệ tụng chắc là tâm an? [*]
.
Tịnh không điệp khúc muôn trùng
Lắng khuya. tích tắc. nhịp buồn thời gian
Tiếng chim cô lẻ vọng âm
Chong đêm nến lệ
buốt căm nỗi hoài!
.
Cố nhân? Một tiếng thở dài
Mù sương cố lý đoạn đoài …
Biết chăng?
.
Nguyên Lạc
……………..
[*] Kệ Lục Như – Kinh Kim Cang: Như mộng, huyễn, bào, ảnh/ Như lộ diệc như điện (Như mộng, huyễn, bọt, bóng/Như sương, như chớp loé)

TÌNH CHUNG/THÔI…

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

tinhvat

TRANH VẼ Võ Công Liêm: ‘Tĩnh vật Hoa trái’

TÌNH CHUNG

Mới hẹn mới thề nhất nhất tôi
Kiếp này, kiếp nữa chỉ yêu tôi
Thế mà tấp tểnh theo họ vội
Vất tuột hẹn thề bỏ sông trôi

Thì chữ chung tình rớt đầu môi
Biết rồi nên chỉ tự trách tôi
3 xu kiếm được duyên vài tối
Hà tất thở than đứng với ngồi.

Thế nhé, chữ tình chỉ vậy thôi
Đừng ví sông kia lúc lở bồi
Đừng than gió lạnh run chiều tối
Đừng mượn sao trời biện với tôi.
*.
Hà Nội, sáng 23-05-2020

THÔI..

(với G)

Mình chia tay lâu rồi
Sao còn tìm nhau trong mơ
Níu dài cuộc tình đã vỡ

Giờ mình không cùng hướng
Giờ mình cũng lạc giường
Thì thôi
Giường ai nấy lo ủ ấm
Đừng nữa đêm tìm trong mơ
Mỏi mòn ngày nỗi nhớ
Giận hờn mãi chi
Nào ai biết khôn biết dại

Thôi
Em cứ nằm giường lạ
Cứ ủ ấm người ta
Đêm nay… Và đêm nay nữa
Buồn nào rồi cũng sẽ qua.
*.
Hà Nội, 04 tháng 02.2020

Ngày Chiến Sĩ

Nam Lộc

Ngày Chiến Sĩ Trận Vong và
“Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”!

linh1
Vietnam Veterans Memorial Wall in Wash. DC

Hôm nay là ngày “Memorial Day” hay còn gọi là “Ngày Chiến Sĩ Trận Vong” ở Mỹ. Cả đất nước Hoa Kỳ hầu như đều chìm trong tiếng kèn thống thiết tưởng nhớ đến những chiến binh đã hy sinh trong cuộc chiến để bảo vệ quê hương của họ cùng thế giới tự do từ bao năm qua.

lunh2

Vietnam War Memorial in Westminster, California

Hình ảnh người dân Hoa Kỳ, kể cả tổng thống, các vị dân cử, thống đốc tiểu bang, cho đến các cựu quân nhân hay dân chúng Mỹ cặm cụi cắm những lá cờ nhỏ trên ngôi mộ của các tử sĩ của họ, chắc chắn ai trong chúng ta, những người Việt lưu vong, mà không khỏi chạnh lòng nghĩ đến sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ QLVNCH, những người đã anh dũng chiến đấu bên cạnh “người bạn đồng minh”, để không những bảo vệ nền tự do dân chủ của miền Nam Việt Nam, mà còn giữ vững thành trì chống chủ nghĩa Cộng Sản mạnh mẽ nhất của thế giới tự do trong vùng Đông Nam Á, cho đến ngày họ bị…bỏ rơi!

linh3

Trong nỗi ngậm ngùi đó, tôi chợt nhớ đến bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” mà một số anh chị em nghệ sĩ chúng tôi vừa chung tay cùng đài SBTN thực hiện để tưởng nhớ và vinh danh QLVNCH, để chia sẻ niềm uất hận của những người lính bị bỏ rơi, và nhất là để tưởng niệm các tử sĩ VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến.

linhban
Tường An và các bạn ở Pháp (May 25, 2020)

Đọc những bức điện thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về cho chúng tôi và nhất là nhìn tấm hình mà chị Tường An và quý vị đồng hương ở Pháp phổ biến sáng nay, hay của anh Thắng Cảnh cùng cộng đồng người Việt ở Đan Mạnh, của BS Mỹ Lâm, chủ tịch Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Đức cùng nhóm thân hữu của chị Bích Thủy. Hội Cựu Quân Nhân VNCH Ontario cùng đồng hương ở Toronto, các thành viên của Phong Trào Giới Trẻ Thế Giới Vì Nhân Quyền, cộng đồng cùng đồng hương người Việt ở Úc Châu, ở Ý, Anh, Bỉ, Pháp, Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hòa Lan, Canada, ngay cả tại Việt Nam. Hội Người Việt Calgary…, anh chị Dương Phục, đài Sài Gòn Radio Houston giúp phổ biến một cách vô vụ lợi và hăng say tại TB Texas v..v… Tất cả, tất cả, đối với tôi đều tiêu biểu cho hình ảnh của những lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đang được những người Việt tỵ nạn âm thầm cắm trên mộ phần của những tử sĩ VNCH trong ngày Chiến Sĩ Trận Vong năm Quốc Hận thứ 45.

linh bo quen

Chiến Sĩ Trận Vong và “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi”

Và cũng trong ngày “Memorial Day” hôm nay, tôi đã đem một bộ DVD “Những Người Lính Bị Bỏ Rơi” đến Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster, California, xin đặt ở đó như một nén hương lòng, thay mặt cho tất cả các thân hữu cùng những người đã bỏ công thực hiện, đã tham dự, cũng như góp phần phổ biến hoặc trân trọng đón nhận, như một biểu tượng tri ân công lao cùng sự hy sinh của những người Lính VNCH qua hình ảnh và dòng nhạc của một tác phẩm nghệ thuật mang nhiều ý nghĩa nói trên.

linh tuong niem
Tưởng niệm ngày Chiến Sĩ Trận Vong, nhưng chúng ta đã không quên những người Lính bị bỏ rơi.

Nam Lộc
Westminster, California
May 25, 2020

Tiếc Thương

thơ Willam Wordsworth
IanBui chuyển ngữ

flag america

Ngơi nghỉ đi anh, chiến hữu
Trên đồng võ khí đã câm;
Sẽ không còn ai quấy nhiễu—
Đối phương, giọng súng giữa đêm…

Anh từng nằm quen trên đất
Nửa khuya chợt tỉnh bất nhân:
Rập rền rung rinh đại bác,
Bập bung trống trận xuất quân!

Sẽ không còn ai đánh thức
Trong trại binh của Tử thần;
Sẽ không còn đau với nhức,
Không còn sốt bởi vết thương.

Tất cả nằm im, bình thản,
Cỏ không ai giẫm đạp lên.
Tiếng hò reo giờ đình bản—
Cuộc hưu chiến của Bề trên!

Ngủ đi các anh, yên giấc
Trong tâm thức của mọi người;
Dựng chòi canh tôi sẽ gác
Không cho ai xỉa xói bươi.

Bao chiếc lều xanh nín lặng
Sẽ được trang trí bằng hoa:
Các anh giành cơn đau nặng,
Tiếc thương là việc của ta.

-ianbui
Memorial Day (2020.05.25)

oOo

Decoration Day

Sleep, comrades, sleep and rest
On this Field of the Grounded Arms,
Where foes no more molest,
Nor sentry’s shot alarms!

Ye have slept on the ground before,
And started to your feet
At the cannon’s sudden roar,
Or the drum’s redoubling beat.

But in this camp of Death
No sound your slumber breaks;
Here is no fevered breath,
No wound that bleeds and aches.

All is repose and peace,
Untrampled lies the sod;
The shouts of battle cease,
It is the truce of God!

Rest, comrades, rest and sleep!
The thoughts of men shall be
As sentinels to keep
Your rest from danger free.

Your silent tents of green
We deck with fragrant flowers;
Yours has the suffering been,
The memory shall be ours.

-William Wordsworth (1807-1882)

Yêu Nhau Kiếp Này

* Nhạc Khê Kinh Kha

* HNMinh Hát

\

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
Hãy yêu anh kiếp này nhé em yêu
vì đời này còn trăm nghin gian khó
không có em đời sẽ mãi quạnh hiu

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
kiếp này đây anh mơ ước dài lâu
cùng bên em quá tháng ngày yêu dấu
Tình nồng say mình thề ước bên nhau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn mãi
hẹn trăm năm trong kiếp nầy nhé em
trọn đời này anh nguyện yêu em mãi
đời không em hoảng vắng như bóng đêm
tình không em giá lạnh cả đời anh

Chắc gì có kiếp sau mà em hẹn
hẹn thề đi kiếp nầy mình có nhau
dù tình ta có nghìn trùng cách trở
mình yêu nhau cho đến mãi nghìn sau

Chắc gì có kiếp sau mà hẹn ước
dù kiếp này em có là thế nào
anh cũng nguyện không thay lòng bội ước
kiếp nầy đây em nhé mình yêu nhau

kiếp này đây…em hỡi…mình yêu nhau

Khê Kinh Kha

CHIỀU NGỒI BÊN CỬA SỔ

VÕ CÔNG LIÊM

beach-and-sunset

thu về chưa nhỉ ?
mà nắng đợi trên cành
tóc bay từng sợi nhớ
nghe nhẹ tâm hồn đau
một sáng buồn dâng hương
và . hoa gãy trên tay
những đóa hồng lẻ loi
để nắng thu về trong mắt trong
những bước chân xưa níu kéo trời dĩ vãng
chiều khoanh tay bên cửa đợi gió bay về
sáng rực rỡ hồn đi vào tịch mịch
cho lang thang ngày qua mau trên bước đường tùng lộ
đôm đốm sáng trời đêm mở hội dọc bờ hương lau lách
tháng năm còn lại rủ bóng theo nhau sóng cuốn xa bờ
đêm trầm mình trôi theo sông trôi ngày lệ ứa trong tim
tình tôi đầu ngọn gió
một trời biền biệt xa
đợi trăng về giữa chốn tịch liêu
mưa dội bùn cong khung nhớ
mà nắng vẫn phả vào mắt môi em long lanh
cho tôi về một mình trong nỗi nhớ
tháng tư . tháng năm . đầu hạ chợp chờn mưa rụng
thêm bao la trên từng ngón thon dài thuở măng non
tôi . lêu bêu như gã điên khùng
vườn khua thức để hoang mang đụng phải thân gầy
mấy độ thu về cho mưa thở dài đau nhói tình tan
và . trong bất chợt thấy mình du đãng
giữa cõi đời tay trắng trắng tay
lửa tắt rồi cho tâm tư chợt nhớ
ngày ốm bệnh căng con chữ trên tàn lá
vàng xưa ngồi chẻ tóc trắng bay
cho đá nghe kinh ngậm sầu nhân thế
âm u vọt nhảy từng giọt sương mù
tiễn đưa người cho trọn kiếp đời sau

chiều ngồi bên cửa sổ
nghe ngóng tin vui . tôi
khẽ chạm vào hồn . em ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. mùa dịch 5/2020)

NHỮNG BÀI THƠ VỀ MƯA

Nguyên Lạc

muamua 1

I. Mưa
.
1.
Tôi hứng giọt mưa rơi
Nếm thử … mùi đăng đắng!
Lòng hình như … nằng nặng?
Quê hương hạn mưa chưa?
.
Trời bên đó đã mưa?
Anh nhớ em nhiều lắm
Nhớ mưa lăn má thắm
Môi em ướt anh hôn
.
Xuân nơi này mưa luôn
Mưa … mưa … như trút nước
Không mưa êm … lất phất
Ngày anh biết yêu em
.
Những cơn mưa thân quen
Thuở nao giờ đã mất
Nụ hôn mưa có thật?
Mưa ướt tóc em tôi
.
2.
Ngoài trời mưa … mưa rơi
Mưa như ai trút nước
Dội hồn tôi lạnh buốt
Biết nơi nào trốn đây?
.
Mưa ơi! Thôi ngưng rơi
Tôi nhớ môi xưa lắm
Mưa êm … ướt má thắm
Không dị hợm mưa đây
.
Mưa. mưa … suốt cả ngày
Mưa ngập đường xe chạy
Mưa mù mịt … tương lai!
Mưa ngăn đường ngăn lối
.
Chỉ chừa lại một lối
Lối hướng về em tôi
Lất phất nhẹ mưa rơi
Ướt tóc … hôn bối rối
.
Mưa ơi! Ngừng đi thôi
Mưa buốt lạnh lắm rồi
Tôi ơi! Ngừng đi thôi
Nhớ thêm chi? Đủ rồi!

II. Câu Nói Trong Mưa

Nhớ câu em nói trong mưa
“Em nào có biểu thương vừa thôi nha!”
.
Nhớ em quá xá quà xa
Mưa đang trút nước … em và câu xưa
Bao năm cứ ngỡ hôm qua
Tình yêu anh giấu bây giờ còn thơm
.
Tận sâu ngăn kín tâm hồn
Lâu lâu mở khóa … tay ôm tim mình
Nhớ mưa ướt tóc em xinh
Lăn tròn má thắm … uống tình môi ngoan
.
Bây giờ vẫn nhớ mùi hương
Cơn mưa câu nói có còn không em?
“Em nào có biểu anh thương?”
Thương chi cho lắm? Để vương một đời!
.
Mưa chi? Mưa mãi không thôi!
Mưa rơi có biết động tôi một trời?
Ngưng đi!
Tôi lạy mưa ơi!
Để tôi đừng nhớ …
câu người trong mưa

III. Lời Em Mưa Đó
.
Mưa ngoài đó vẫn còn mưa mãi
Mưa vẫn hoài có xóa được tình ai
Có xóa được dấu chân gót nhỏ
Mắt môi người hương vẫn khôn nguôi
.
Mưa ngoài đó vẫn mưa … mưa mãi
Ta một mình lần nữa sầu ai
“Thương lắm chi? Hôn vừa thôi nhé”
Lời tình vui mưa lất phất bay
.
Có chút buồn tiếng mưa ngoài đó
Có chút giận hờn người đã xa ta
Nhưng thương rất nhiều lời em mưa đó
Làm sao bây giờ? Nhớ có phôi pha?
.
Gió cứ thổi và mưa cứ mãi
Từng hạt sầu dòng chảy xót xa
Giận. buồn. thương trong ta quyện mãi
Biết khi nào…?
Gió táp mưa sa!

Nguyên Lạc

 

CUỘC ĐỜI Và SỰ LỚN DẦN Của TRÍ TUỆ

VÕ CÔNG LIÊM

image001

TRANH VẼ VÕ CÔNG LIÊM : Người đội nón đen / Man with black hat..

Sự đó nghe qua như bài bản (test) cũ kỹ, chả phải mới, bởi; con người và thời gian là một trải nghiệm rộng rãi, nó phát ra từ suy tư để hình thành cho một văn bản, điều đó quả như thông thường cho một thế hệ đã qua –it was quite a generation ago giữa cuộc đời đang sống; một thiết kế dàn dựng để trở thành văn. Nói ra có tính triết lý: giả như văn bản gởi đi, thì sự đó như biết trước rằng nó sẽ biến mất và chắc chắn trong tiến trình nó sẽ không để lại những gì chứng minh cho sự việc;‘test’ trở nên lời nhắn gởi. Nhưng thực ra đó là một chuẩn bị qua kinh nghiệm thâu tóm để thành văn bản. Điều này là một thực hành thông thường và phổ biến qua những gì gây ra từ trí tuệ: của khôn ngoan hay ngu xuẩn. Thực tế nó chỉ là bài bản không cần thiết. Nhưng; đứng về mặc khác thì nó là một diễn trình của cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ -the Life and Growth of the Mind- trong mỗi con người khi hành động. Cho nên chi cuộc đời là một biến động dữ dội, nhưng trong tiến trình của lớn dần có khi tưởng tượng mà trở nên kỳ quái và không thực, trong khi chúng ta đang trực diện trước một hoàn cảnh thử thách, bởi; trong thử thách là đe dọa đến tính mệnh con người. Người ta thành lập hàng rào phòng thủ cho một bệnh lý tâm thần và thể xác; dựng vào đó những gì có tính cách ‘huyền thoại’. Nhưng; nó hẳn là không thực? –But is it actually so unreal? Chúng ta không nghĩ vậy. Bởi; thực chất của sự kiện vốn đã xẫy ra, những gì đã cảnh báo là quan tâm trước một hiện tượng liên đới giữa người với người. Nó đã trở thành văn bản hiện thực, nếu thực sự có mặt ở đó, thế nhưng; người ta vẫn theo đuổi và tìm hiểu nguồn cơn tự sự do đâu mà có và đến từ đâu, người ta phớt lờ về điều này mà ngấm ngầm trong phương hướng khác giữa kinh tế và chính trị; đấy là sự lớn dần có qui mô bên ngoài của sự lý. Một dữ kiện lạ lùng về trí tuệ của con người, mà sự kiện hoàn toàn khác lạ một cách đột ngột thấy rõ (sharply) có từ thân thể con người mà ra. Dấu hiệu khác cho thấy rằng những gì ở đây là định vị một cách chính xác việc tăng trưởng trong sự ngay thẳng để phát triển bén nhạy, khéo léo và thanh cao. Trên thực tế những thể xác của con người đã bắt đầu đi tới suy giảm bởi thời gian –in fact; many persons’ bodies have begun to deteriorate by that time.

Dẫu là gì trong tình thế biến đổi bất thường hoặc đứng trước một viễn cảnh suy thoái mà ảnh hưởng đến tinh thần và thể xác, nhưng không phải vì thế mà làm ‘cụt hứng’ trong tư thế phát triển; khoa học võ trang một thứ vũ khí mới để chinh phục, nhưng; nhớ cho điều này không có giới hạn để đưa tới một tổng số của sự lớn dần và phát triển; cái đó trí tuệ có thể chế ngự được –But there is no limit to the amount of growth and development; that the mind can sustain. Trí tuệ không thể ngưng phát tiết ở bất cứ tác nhân nào hay tuổi tác. –The mind does not stop growing at any particular age. Phát triển theo mức độ thời gian, chính vì thời gian đã đưa tới một tác động suy thoái / deterioration qua từng ngày tháng…
Trí tuệ có thể teo rút giống như cơ bắp; nếu nó không dùng tới hay vận động. Teo rút trí tuệ cơ bắp là hình phạt, là những gì chúng ta bỏ quên việc tôi luyện. Sự đó là chứng cứ của việc hao mòn trí tuệ là con bệnh cực kỳ ghê gớm –atrophy of the mind is a mortal disease. Cho nên chi ‘động não’ là một tác động thực hành cho cơ não (trí tuệ) được cân bằng, hấp thụ thứ ánh sáng mới đầy chất sáng tạo hơn.
Như đã giải ở trên, con người và thời gian là một trải nghiệm nó phát ra từ suy tư để thành văn bản, dữ kiện đó trở nên thông thường; bài bản không còn là sáng tạo mà nó đi qua kinh nghiệm thiết kế để thành văn, một lối hành văn thông thường không mang tính đặc thù trong khi viết về văn chương. Và; đây là hình phạt thê thảm –And; this is a terrible penalty; là một thứ bài bản, chả phải mới mà rút tiả để dàn dựng cho ra văn, một thứ văn chương gần như nhắn gởi hơn là lý giải, lấy chứng từ để chứng minh, sự đó làm hao mòn của trí tuệ -that atrophy of the mind- Bởi nó chỉ nói lên cuộc đời trong một hạn hẹp nào đó và sự lớn dần của trí tuệ gần như thói quen không thể là văn bản (text) chính thức. Thí dụ: văn nhân Trần Dụ Ân chuyên viết phóng sự hay ký sự thường mô tả những quan hệ bình thường của thi văn nhân là viết theo dạng ‘feuilleton’ của thời báo chí miền Nam giữa thập niên 1960; gần như tìm chuyện để viết thành văn qua từng loạt (serial) chớ chẳng phải là truyện /chuyện mà hóa ra ‘xe cán chó, chó cán xe’ là chuyện bình thường tợ như thông tin thời sự, nó chẳng đánh động như một dữ kiện mà là chuyện nghe qua rồi bỏ, bởi; giữa khách thể và chủ thể cùng một tâm trạng bi đát như nhau, nó không dính gì đến lịch sử của văn chương mà tuồng như chuyện đọc đêm khuya, hò ru con. Ký sự như thế mất tính nghệ thuật sáng tạo, vòng vo trong ao tù nước đọng. Tương tợ những trường hợp khác kéo dài cho tới ngày nay của những văn sĩ, thi sĩ quen tên thường xử dụng ‘bài bản’ phê bình thơ / văn trong lối diễn trình xưa cũ, rập khuôn của những tác giả thời tiền chiến và hậu tiền chiến; tất cả bài bản (test) trở thành văn nhắn gởi. Không tác động mà duy trì thứ văn, thơ cổ lỗ sĩ không đổi mới tư duy để tạo cái ‘matière’ vào đó!
Đấy là những gì đã ghi nhận được về sự sống hiện hữu của con người (human beings) và nó sẽ có thể là điều chính đáng khác biệt giữa trí năng khôn ngoan của con người (homo sapiens) và những loài động vật khác; cho dẫu đó là một thứ siêu vi (virus) đi chăng. Vậy thì những gì xẫy ra là khám phá mới của nhân loại, khám phá từ thể chất đến tinh thần, từ tập thể đến cộng đồng là ý thức tình nhân loại, là đối tác giữa khoan dung và hài hòa; dấu hiệu của sự lớn dần phát sinh từ ý thức của trí tuệ. Mỗi khi con người cần có bên nhau, không còn biên giới thời gian và không gian, không một đối tượng nào là cố hữu; sự lý này không là tâm trạng để vượt ra khỏi giai đọan trong sự phát triễn mở mang này. Nhưng đó là dấu hiệu tiên phong lớn lao hơn bao giờ, là tiến trình mang lại sự lớn dần của cuộc đời, lớn dần của trí tuệ. Cái đó gọi là hiện tượng dung thông giữa thần và xác; con người là một hiện hữu sống thực, xung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày là nguồn năng lực trợ vào nhau và coi đó là kỳ diệu, những ấn tượng đậm nét đó là trí tuệ của chúng ta làm nên hay không làm nên, nó dựa trên cơ sở nhận thức hiểu biết, dựa trên trình độ để thành thơ /văn là những gì phản ảnh trung thực. Giả như không hiểu lý thuyết về Nietzsche, quan điểm của Hermann Hesse thì không cần phải dẫn chứng một cách hàm hồ; vô hình chung lộ hẳn cái không thực của trí tuệ, đó là mấu chốt đưa tới ‘atrophy’ một cách trầm trọng và nguy hại đến sinh mệnh văn chương cho hôm nay và mai sau. Bất luận viết gì phải là thực chứng. Dẫu là ký sự đi chăng nó có một tác động đả thông hơn là tán dương một cách vu vơ. Nói cho ngay sự đó có một ít hoặc không có hiệu năng –Eventually; they have little or no effect. Từ đó suy ra cuộc đời và sự lớn dần của trí tuệ là đi theo nhịp bước của tiến trình trau dồi và thực hành để cho cơ bắp toàn thể (corpse) phát tiết một trí tuệ trong sáng và lưu lại một giá trị lâu dài giữa cách viết và đọc, nó không hao tổn tinh thần và thể xác, ngược lại tồn lưu nhân thế. Hai lãnh vực này là vai trò chính để thành hình cho một trí tuệ sáng suốt và độc lập trong tư duy hành văn.Có nghĩa rằng độc lập trong tự phát (spontaneous) có thể là hành vi đưa tới sáng tạo hơn những gì nhai lại hay rập khuôn, thời tất không cho đó là phát huy của cuộc đời đang sống và sự trưởng thành của trí tuệ, bởi; ước lệ chính là rào cản con đường đi tới phát triển, dù phát triển trong hạn hẹp cố hữu là đưa văn chương vào con đường bế tắt mà cuộc đời là biến đổi theo thời gian; văn chương song hành cùng nhịp thở là dấu vết của đổi mới tư duy. Có thể có một vài động lực của cấu tạo văn bản -Some dynamics of textuality- là điều kiện của từng con chữ trong văn bản hoàn toàn khác biệt từ khi phát thành lời (văn hay thơ). Viết thành lời là độc lập và đầy đủ ngữ cảnh của mạch văn trong những gì nói thành lời đến cùng trong một hiện hữu. Chữ nằm trong thế tự nhiên của nó, viết thành chữ là một phần của sự thật –the words in its natural, written word is a part of a real. Còn thốt (utterance) là một tỏ bày sống thực (không pha chế hay phiạ). Chữ luôn luôn bổ nghĩa cho một tổng thể tình trạng mà lại có nhiều nghĩa hơn cả lời nói (verbal). Chữ nghĩa không bao giờ xuất hiện đơn độc mà nằm trong ngữ cảnh giản đơn của những con chữ (words). Từ chỗ đó được đánh giá cao về mặt vật lý và tâm lý của dòng tư tưởng phát tiết từ trí tuệ bằng sự phân tích rút từ nhận định của não thức mà trong cơ (muscle) của não chính là cơ quan đầu não phát sinh ra trí tuệ. Thành ra cuộc đời song hành với sự lớn dần của thời gian mới cấu thành một trí tuệ độc đáo trong tư thế vững chãi.Là văn chương mới ngày nay.

-Khoảng cách -Độ chính xác -Lựa chọn cách viết -Văn phong chỉnh đốn: Là cấu trúc cách viết có ý thức –Writing restructures consciousness trong một khoảng cách (distance) mà cách viết có tính chất khai phá, mở mang một thể loại mới chính xác hơn (precision) trong lối diễn đạt hóa cách viết (grapholecy verbalization) để cho văn phong được chỉnh đốn (magnavocabularies) bằng cách di chuyển nó đi tới một nghĩa cử phong phú, nhưng; chao đảo, lộn xộn là sự thường có trong ngữ cảnh của mỗi khi thốt thành lời hoặc viết thành văn (như văn thi sĩ LTTV và nữ văn sĩ Mỹ Anais Nin) đã huỵch toẹt, phá rào , phơi mở cho thể loại văn chương dâm ô, tục tĩu không còn thấy ở đó một sự chọn lựa cách viết mà trong lối diễn đạt hóa cách viết, có thể hợp nhãn người yêu dục và không hợp nhãn người yêu đạo đức (giả) nó nằm trong ngoặc kép riêng tư; thế nhưng nó tỏ ra ở đó cái khoe khoang, bộc bạch chung của trí tuệ khôn ngoan, khéo léo, như lối kể chuyện hoặc vắn tắt như trong tục ngữ -can be impressive in their magniloquence and communal wisdom, as in formal narrative or brief, as in proverbs- của chính tác giả. Hẳn nhiên sự khôn ngoan trí tuệ phải là cái gì với một tổng số và sự tương quan dễ đổ gãy ở phạm vi xã hội –Yet wisdom has to do with a total and relatively infrangible social contex. Chuyện kể là vận dụng ngữ ngôn và tư tưởng không ghi chép cho một phân tích chính xác, gần như tự phát để thành văn, nhưng đây không phải là điều thông thường hay dễ dàng diễn đạt, nó có ‘chất xám’ đặc biệt nằm cuối của não bộ; cho nên chi cái sự bộc phát (spontaniousness) nó trở thành văn/thơ một cách tài tình và độc đáo; tục mà thanh. Dĩ nhiên; tất cả ngữ ngôn và tư duy là có mức độ phẩm trật của việc phân tích từ con chữ cho tới văn phong; cả hai nó cuộn vào nhau nên văn là ở chỗ đó. Viết hay kể nó đòi hỏi cái độ giao tiếp trong ngữ cảnh như đã dẫn. Nhưng nhớ cho viết từ con chữ để thành lời là một dẫn độ sắc bén và tế nhị của cá tính, là tạo ở chính mình một cái gì trong sáng: không yểu điệu thục nữ, không dương (facial expression), không cường điệu, không một nghe ngóng tin ai mà phải thấy trước, biết trước của ngữ thuật, tất cả có thể bao trùm cả ý nghĩa, chứng từ có thể có cho từng đối tượng trong mọi tình huống khác nhau. Cho nên chi viết ký sự không phải là phóng sự mà cô đọng một văn phong thoát tục giữa khách thể và chủ thể ký mới trở nên linh động và tích trữ ở đó một tâm hồn khách quan hơn chủ quan. Vì vậy ký-sự phải tách ra khỏi khách thể và chủ thể thì ký mới linh động và thoát tục bằng không như tự khoe mình giữa chủ thể và khách thể cùng một ‘trời lận đận’. Cốt tủy của viết là sáng tạo và độc lập là đưa văn chương tới đỉnh cao. Ký không gây chú ý lớn như truyện ngắn, truyện dài, tùy bút hay tản văn, ký chỉ giữ vai trò ‘kể chuyện’ ghi lại hoài niệm cũ mới (chronicle memory).Thoạt kỳ thủy tác nhân được kể đến trong ký dần dà chìm sâu vào quá khứ mà chỉ thấy tác giả ký-sự ở đó mà thôi. Buồn tệ!

Dĩ nhiên; mỗi lần bắt đầu đặc bút xuống viết là cảm thấy có một sự gì ngay thẳng, đúng đắng và phân giải sự lý một cách chính xác là đem lại bên trong một sự tự nhiên để cảm thông sâu đậm trong lời văn như lời phát biểu hiện thực. Dù cho tư tưởng của Plato đòi hỏi con chữ phải rõ ràng trong thể thức đối đáp; mới là đúng nghĩa đưa tới hiệu năng của viết lách trong sự tiến trình của trí năng (neotic), bởi; nói, viết hay thốt là trong ý thức để hành văn; ngay cả Socrates và Plato họ đã thừa hưởng một tổng thể hóa của chữ nghĩa: không cần lý giải, phân tích, thuyết minh qua một thể thức đối đáp mà tự nó đã giải thích để thành văn trong tác phẩm của văn chương trí tuệ -the works of a literate mind- như đã có.
Thế giới của trí năng (trí tuệ) đã mở cửa bằng một sự tái tục chính xác là một sự bày tỏ thấy được và một thông tin hết sức tương xứng đúng nghĩa của lời nói được miêu tả (verbal description), là những gì thuộc tâm lý có thực. Hiệu năng không những chỉ khoa học mà hiệu năng ngay trong văn chương đã có ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 1/5/2020)

 

quàng vai thơ đi giữa đời

khê kinh kha

bienvang

đã hơn 30 năm rồi
ba mươi năm lòng ta ơi
nhìn quanh
             vẫn thấy đất trời lạ ghê

đã bao lần
          chân mỏi quì
bao quị ngã
           lòng mệt, mê
bao nhiêu tâm sự
             tình quê muộn phiền

cầm tay thơ – chỗi dậy nhìn
tựa lưng thơ – đứng vững, yên
tựa lưng thơ, an ủi mình, lòng ơi

chút tình quê –chút tình người
tháng năm trôi – lệ xót, rơi
quàng vai thơ đi giữa đời
                                        cô liêu

 

NHỮNG BÀI TỨ TUYỆT

Nguyên Lạc

khoang cach

1. Tím Cả Đoạn Trường
.
Sương rơi trắng cả con đường
Em rơi tím cả đoạn trường trong anh!
Tinh đầu sương khói mong manh
Nhân sinh dâu bể nỗi lòng trăm năm

2. Nụ Cười
.
chợ đời gom nhặt sân si
lên chùa vấn Phật có gì đổi cho
mĩm cười hai chữ âu lo
về nhà mẹ hỏi … Cười to thế à
.

3. Căn Bệnh Tình Yêu
.
Tình yêu căn bệnh lạ lùng
Ai mà nhiễm phải không khùng cũng điên
Điên thì ta hãy cứ điên!
Yêu thì ta cứ! Không tình sống chi?
.

4. Tội Cho Qua
.
Gió lay rụng trái mù u
Giận ai bậu nói đi tu cho rồi?
Tội cho qua lắm bậu ơi!
Bậu đi tu chắc sự đời qua xong!
.

5. Cuộc Tang Thương
.
Chim quyên khản cổ khóc trùn
Anh hùng mạt vận lên rừng đốt than
Khói than che mất trăng vàng
Nhân sinh thống hận cuộc tang thương nào
.
.
6. Đêm Độc Ẩm Bên Hồ
.
Huơ tay khuấy bóng trăng vàng
Sao nghe tâm buốt vô vàn nỗi ai
Ngâm câu “đoạn thuỷ ” vẫn hoài [*]
Nghiêng bầu uống cạn thở dài hư không!
………..
[*] Trừu đao đoạn thủy thủy cánh lưu/ Rút dao chém nước, nước càng chảy mạnh (Lý Bạch)
.

7. Tiếng Vọng Chiều
.
Hắt hiu trĩu nặng tà huân
Ngút xa não vọng lũng ngàn câu thơ
“Nghìn năm mây trắng hững hờ”
Có không tâm động bến bờ tử sinh
.

8. Hoa Tím Bằng Lăng
.
Bằng Lăng hoa tím tôi về
Tìm em chỉ thấy lời thề đã phai
Đâu xưa áo trắng tóc dài …?
Mùa hè sao lạnh tím ai nỗi lòng!
.

9. Quỳnh Mơ
.
Đêm em về với tôi
Đóa quỳnh mãn khai đợi
Hương quỳnh ngọt đẫm môi
Để ngày đừng mong đợi
.

10. Quên Chưa?
.
Níu tay người hỏi thu phai?
Thưa em thu đó vẫn hoài thu xưa!
Níu mây trời hỏi quên chưa?
Xuân thu hương sắc đủ vừa trăm năm!
.
Nguyên Lạc

HẠ VÀNG

Nhật Quang

aovang

Giọt Hạ vàng rớt mênh mang
Vương bờ vai lụa mượt làn tóc mây

Sân trường trống giục chia tay
Phượng rơi lác đác, gió bay hương nồng

Bằng lăng tím lối mênh mông
Bồi hồi…lưu luyến tuổi hồng sách thơm

Nhặt vần thơ mộng ủ ươm…
Ép trang lưu bút nhẹ vương vấn lòng.