*** GIỜ ĐÂY MẸ KHÓC

Featured

GIỜ ĐÂY MẸ KHÓC

 

 

Bao nhiêu năm qua mẹ sống gian nan
Mồ hôi thấm ướt núi sông
Màu da phơi nắng phong sương
Lời ru hiu hắt đêm trường
Đời mẹ như lá tàn đông
Giờ đây, giờ đây mẹ còn khóc nữa
Tháng năm rồi cũng tàn phai ơ hờ
Mình mẹ vẫn ngồi trông chờ đàn con

2.
Bao nhiêu năm qua mẹ sống âm u
Giờ đây mẹ vẫn xót xa
Vì quê hương vẫn phong ba
Đàn con thơ ấu chưa về
Chờ mong đã héo lòng Mẹ…
Giờ đây, giờ đây mẹ còn khóc nữa
Đá xanh còn có nhiều khi than thở
Mà riêng bo’ng me can trường nghìn thu

3.

Bao nhiêu năm qua mẹ đã đau thương
Nhìn con thơ ấu chết oan
Nhìn tương lai cháy trên non
Từng đêm nghe súng vang rền
Lòng mẹ se thắt từng cơn…
Giờ đây, giờ đây me còn khóc nữa
Trái tim mẹ đã thành bông hoa nở
Từng đêm gió về ru mẹ nằm mơ

4.
Bao nhiêu năm qua mẹ đã nuôi con
Bàn tay vun xới trái tim
Lời ru nhân ái mênh mông
Lòng mẹ như nước trên nguồn
Nghìn năm chan chứa tình thương…
Từ đây, từ đây con buồn trông ngóng
Thế gian dù có tàn phai âm thầm
Tình yêu với mẹ sống hoài đời con

giodaymekhoc_nhac

*** ‘cấm kỵ trong ăn uống’ của Khổng Tử

Nguyễn Xuân

 

Nhà nho Khổng Tử nổi tiếng với quan điểm “thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế”, tức gạo xay càng kỹ và thịt xắt càng mỏng càng tốt.

Không chỉ là nhà Nho học có sức ảnh hưởng lớn trong lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử còn nổi tiếng với những lời dạy về ẩm thực và chế độ ăn uống có lợi cho sức khỏe mà ngày nay vẫn còn được lưu truyền.

Theo Sohu, thời nhà Chu trước công nguyên, Khổng Tử đã đưa ra quan điểm “thực bất yếm tinh, khoái bất yếm tế”, có nghĩa là gạo xay càng kỹ càng tốt, thịt cắt càng mỏng càng tốt. Câu nói này về sau đã trở thành tiêu chuẩn trong nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa. 

Trong cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử nhắc đến nguyên tắc “bát bất thực” (8 nguyên tắc cấm trong thức ăn) Cụ thể: không ăn thực phẩm ôi thiu, không ăn thực phẩm có mùi hôi, không ăn thức ăn được nấu chín quá, không ăn thịt nhiều, không uống rượu nhiều, không ăn đồ sống, không ăn thực phẩm có nhiều gia vị, nói không với đồ trái mùa.

Tranh vẽ Khổng Tử. Nguồn: Wikipedia.

Tranh vẽ Khổng Tử. Nguồn: Wikipedia.

Ngày nay, theo quy định quản lý lưu thông thực phẩm, các sản phẩm dự trữ khi xuất kho phải thông qua thủ tục kiểm tra chất lượng. Chỉ thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh mới được đưa ra thị trường tiêu thụ còn không đạt sẽ bị tiêu hủy hoặc làm thức ăn chăn nuôi. Trên thực tế, thịt cá không tươi không chỉ mất dinh dưỡng mà còn dễ gây ra những vấn đề sức khỏe như ngộ độc.

Ngoài ra, các nhà dinh dưỡng khuyến cáo không nên cho nhiều gia vị vào trong món ăn vì sẽ làm mất một lượng dinh dưỡng nhất định trong thực phẩm. Khi đó, các cơ quan bài tiết phải làm việc nhiều, dẫn đến các bệnh về thận như suy thận, sỏi thận.

Nguyễn Xuân

*** Sao Đổi Ngôi

Trương Thị Thanh Tâm

1anhve 
             
Một người tôi mãi gọi tên 
Mà tim chất chứa bao nhiêu muộn phiền 
Yêu người chưa thỏa chí nguyền 
Thế sao đắng chát nỗi buồn dâng cao 
Một lần và chỉ lần thôi 
Vẫn không quên được mắt môi của người 
Dù xa vạn, cách ngàn ngày 
Trái tim nhưng nhức, như đày đọa tôi 
Nơi đây những buổi tối trời 
Nhớ cành son đỏ…mòn soi lối đời 
Nhớ nhau, sao đã đổi ngôi 
Mà không giữ được, xa trôi thoát nguồn 
Bây giờ lặng đếm thời gian 
Đèn soi bóng ngã, xoáy mòn lối đi 
Người đi biệt cánh chim di 
Bước chân mỏi mệt, ai soi ngõ vào.
              Trương Thị Thanh Tâm 
                          Mytho

*** MƯA KHÓC

 

VÕ CÔNG LIÊM

 

mua5buồn thế kỷ
tháng ngày trôi
như lệ sa
tôi . đứng một mình để nghe đời đi vội
giữa bóng hình một cõi như không
hướng nào cho tôi ?
trong mắt biếc xa vời
mưa khóc trời lận đận
nỗi nhớ buồn chia xa
tôi . ta bà ha tha ma một trời phiêu lãng
đêm đòi trút vụng dại vào môi hồng hé nụ
mưa khóc trời kinh dị
bỏ xa đời tôi thôi
mưa rụng giữa tháng mười
cho năm tháng phôi pha
trong đôi mắt màu nhớ . hồn vẫn ngả nghiêng say
em . tha phương chín cõi đường trần cho mắt môi thơm ngát
mưa cắn vào da thịt em đau buốt trái tim khô lạnh lẽo
mưa khóc cho sông thôi chảy cho nắng ngập đường ngôi
giữa phố thị đông người . tôi . biến mình trong vũng tối âm u
chợt nhớ ra mưa rớt vào cõi âm . em . ẩm ướt mắt nâu sâu
ngắt bầu vú cao ngất kim tự tháp trên đỉnh non cao
chiều đông tới mưa gục mặt khóc hoài trong mắt nhớ
những sắc nhọn của mưa long lanh trên sông mênh mông
dòng hương ngất lạnh ôm lòng đau trên ngọn vi lô dã
đêm . ru ngủ những tiếng thở hoang đường cổ tích
trong thất vọng những cánh hoa bẻ gió lẻ loi chờ
mùa đông hụt hẫng tháng ngày chơi vơi sầu đứng bóng
tôi ghì nỗi nhớ trong bóng tối chập chờn một đời mưa
em . nhổ neo cho mưa khóc mọc nấm
rắc rắc từng phiến tơ chùng gõ nhịp . tôi
chiều bỏ lại dĩ vãng đau nhói con tim
trên lối mòn ngày đó mọc đầy gai nhọn
gió heo may chờ mưa khóc tháng chạp
cho tóc lồng lộng thổi tung đời dị biệt
để hồng hộc thở đam mê ngày tháng cũ
từ mắt môi mùa đông khói bạc mầu

nghe mưa khóc

trên vầng trán

già nua . tôi ./.

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. 11/2018)

*** khúc thu

Hoàng Xuân Sơn

thuvang2

một khúc thu

chim ca. héo lánh ban ngày
rơi xuống triền vực
hồ mây lãng điều
áo vàng ngợi
khúc đăm chiêu
du di trên những ngón thiều đứt dây
nối thầm. cảm nghiệm hơi may
không trăng hút bụi
không mày nhíu kim
thu dung có bữa trao mềm
đường tha thướt chẩy vào niêm luật người

mười chín tháng chín 2016

thu chiếu lệ

tẩn mẩn như sương buồn
lời tà dương kín miệng
một chốc. rồi mây tuôn
người còn ho húng hắng

người đứng tẻ như cây
ôm ngực gầy. ủ bóng
nghe tiếp giáp hình hài
chút hồ trường bất động

rúc âm còi lẩn lút
thức dậy. đời phiêu xa
tầu va vào đơn thoại
về đâu cũng nhớ nhà

đi đâu. chừ lẻ bạn
đường viền neo song đôi
nhìn. vẫn nhìn. đâm lẫn
khúc quanh núi chạm đồi

20 oct. 2015

thu nh[ớ] [ỡ] [ờ]

đáp lời mưa nắng nguyễn đăng thường

thở vàng. dưới trán heo may
cùng nghe thu ảm
đạm ngày tiêu sơ
một khấc ghi. dấu
bụi bờ
rồi mênh mang trắng
phất phơ rừng chiều
mầu ngào đỏ tợ son kiêu
thèm môi vị đắng hôn
điều lãng quên
thưa em thưa em thưa em
gần trong gang tấc vẫn thèm nhớ xa [*]
hương thuỳ mị phải chăng là
chút bay vụng dại
bám tòa cúc xanh

hoàng xuân sơn
mười tháng chín/2015
[*] mượn ý Thanh Tâm Tuyền

*** CON SÁO SANG SÔNG

Trương Thị Thanh Tâm 

ao dai dai
Đã là con sáo sang sông 
Anh ơi đừng nhớ đừng mong làm gì 
Em làm anh khổ một thời 
Em yêu, mà chẳng lấy người em yêu 
Cho nên quả báo đến nhiều 
Khổ đau lận đận bao điều bận tâm 
Giá như ngày trước anh gan…!
Yêu em, sao chẳng nói rằng…yêu em 
Bây giờ trầu héo cau xanh 
Tim em mở ngõ, phòng không lâu rồi 
Nhưng anh thì đóng cửa thôi 
Vuông tròn hạnh phúc anh thời có đôi 
Nhờ em anh mới có nơi 
Con xinh vợ đẹp, tháng ngày yên vui 
Bây giờ…lặng lẽ mồ côi 
Em đang gánh chịu, phần tôi của mình!
      
Trương Thị Thanh Tâm
 Mytho 

*** Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Anh Tuấn Tuyên Ngôn Của Khối Tinh Thần Ngô Đình Diệm Toàn Cầu Trước tình thế cực kỳ sôi bỏng hiện nay đang diễn ra trong quốc nội; trước tinh thần quật khởi truyền thống rất dũng mãnh của … Tiếp tục đọc

*** Người Đi Lưu Mấy Dòng Không

Lê Diễm Chi Huệ

 

*** “Hương Trinh Đã Tan Rồi!”

Lê Hữu

Hương Trinh Đã Tan Rồi!

Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình
(thơ Minh Đức Hoài Trinh)

“Hương trinh đã tan rồi!” câu hát ấy ở trong bài hát “Kiếp nào có yêu nhau” (1958) của nhạc sĩ Phạm Duy, phổ từ bài thơ cùng tên của Minh Đức Hoài Trinh. Câu hát nghe thật buồn. Có điều là, trong bài thơ được phổ nhạc không hề có câu ấy, không hề có “hương trinh” nào cả.

 “Hương trinh đã tan rồi!” là một trong những câu người nhạc sĩ tự ý thêm vào, một cách cố ý, khi phổ nhạc bài thơ ấy. Sao gọi là “một cách cố ý”?

Trên những tờ nhạc xưa cũ, bên dưới cái tựa bài hát ấy, người ta đọc thấy: “Thơ: Hoài Trinh, nhạc: Phạm Duy”, hoặc “Thơ: Hoài Trinh, Phạm Duy soạn thành ca khúc”.
Một bài thơ khác cùng tác giả cũng được Phạm Duy phổ nhạc, người ta nghe được:

Ðừng bỏ em một mình
một mồ trinh
chênh vênh chờ cỏ xanh 
(“Đừng bỏ em một mình”, Phạm Duy & Hoài Trinh)

Người ta cũng nghe được, trong một bài quen thuộc của Phạm Duy:

Rước em lên đồi xanh
Rước em lên đồi trinh
(“Cỏ hồng”, Phạm Duy)

Hương trinh, mồ trinh, đồi trinh… Nếu chỉ là ngẫu nhiên, hẳn sẽ là một ngẫu nhiên thú vị khi nghe thêm một bài Phạm Duy khác:

Người xây ngục tối / tình yêu lừa dối
Giọt mưa tìm tới / để chia lầm lỗi
với người hoài trinh
(“Nước mắt mùa thu”, Phạm Duy) 

Câu ấy từng được nghe, được hát nhiều lần nhưng liệu có mấy ai hiểu được những tình ý trong câu hát.
“Hương trinh đã tan rồi”, đâu chỉ câu hát ấy, những câu nào nữa cũng được người nhạc sĩ thêm vào khi phổ nhạc bài thơ “Kiếp nào có yêu nhau”:

Đôi mi đã buông xuôi / Môi răn đã quên cười  
Xa nhau đã xa rồi / Quên nhau đã quên rồi…

Những câu hát ấy, lạ một điều, nghe rất “thơ” (“Môi răn đã quên cười”, chẳng hạn), là những câu được thêm vào hoặc để đáp ứng cấu trúc của bài nhạc, hoặc do bài thơ ngắn, cô đọng, cần “nối” thêm ý. Những câu hát này, hay những “câu thơ Phạm Duy” này, chảy xuôi chiều với mạch thơ và phù hợp với tổng thể của bài thơ.

Đến cả lời thơ cũng được thay đổi câu, chữ, vừa để tạo nhạc tính vừa để tương ứng với âm vực thấp cao, trầm bổng của nốt nhạc:

“Trăng mùa thu gãy đôi”  đổi thành  Trăng thu gãy đôi bờ
“Chim nào bay về xứ”  đổi thành  Chim bay xứ xa mờ
“Hoa đời phai sắc tươi”  đổi thành  Hoa xanh đã bơ vơ
“Đêm gối sầu nức nở”  đổi thành  Đêm sâu gối ơ thờ

Những đổi thay này vừa giữ lại được ý thơ vừa nghe cũng rất “thơ” nữa (“Trăng thu gãy đôi bờ”, chẳng hạn).

Tâm hồn nhạc sĩ Phạm Duy vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ, ông đã thực sự chắp cho bài thơ “đôi cánh nhạc”. 

“Nếu không có nét nhạc thần tình của Phạm Duy,” tác giả bài thơ được phổ nhạc nói, “‘Kiếp nào có yêu nhau’ sẽ chẳng có được sức sống mãnh liệt đến như thế.”

“Kiếp nào có yêu nhau” không dễ hát và càng không dễ hát cho hay. Thái Thanh, giọng hát vẫn được xem là gắn liền với nhạc Phạm Duy, cũng gắn liền với bài hát này. Những giọng ca sĩ khác, mỗi giọng có cách thể hiện riêng; thế nhưng, với nhiều người yêu nhạc và yêu bài hát này, Thái Thanh vẫn là giọng hát thể hiện được trọn vẹn nỗi niềm, tình ý của bài nhạc.

Nghe Thái Thanh là nghe tiếng lòng thổn thức của trái tim đầy thương tích, là nghe trộn lẫn những tình cảm tiếc thương buồn tủi, chua xót đắng cay, giằng xé giày vò của duyên kiếp lỡ làng, của tình yêu muộn màng, vô vọng.

Giọng hát rã rượi, như phả hơi thở cảm xúc vào từng lời từng chữ, từng nốt nhạc, thể hiện nỗi đau xót đến tột cùng.  Bài hát cuốn hút người nghe ở những chuyển đoạn đột ngột đầy kịch tính, từ khắc khoải, rời rạc đến gấp gáp, vội vàng, từ những nốt thật trầm vươn đến những nốt thật cao, đẩy mạch cảm xúc lên đến tột độ.

Đừng nhìn em! Đừng nhìn em nữa…, anh ơi!
Những nốt nhạc rướn lên, não nuột.
Anh đâu, anh đâu rồi? Anh đâu, anh đâu rồi?!…
Những nốt nhạc chùng xuống, rã rời.
Nước mắt đã… buông rơi
theo tiếng hát… qua đời

Nghe câu hát ấy, nghe giọng hát ấy, không ai mà không nghe tim thắt lại.
Đừng nhìn nhau nữa…, anh ơi!…

Những nốt nhạc lại rướn lên ở câu kết (coda) với chuỗi ngân thảng thốt tạo cảm giác hụt hẫng, như một nỗi tiếc nuối không nguôi, một kết thúc chưa tròn vẹn.

Cái hụt hẫng và kết thúc chưa tròn vẹn ấy cứ mãi đeo bám, đè nặng lên trái tim người nghe, như một nỗi ám ảnh, dằn vặt, tựa ngấn nước mắt vẫn còn đọng lại trên khuôn mặt nhạt nhòa.

  Ban Giám Khảo Giải Văn Chương Học Đường VNCH (Saigon, 1974)
– Từ trái: Nhân viên Nha Sinh Hoạt Học Đường, Phạm Long Điền, Nguyễn Mộng Giác, Minh Đức Hoài Trinh, Bình Nguyên Lộc, Minh Quân, Lê Tất Điều, Võ Phiến (Ảnh: nguyenmonggiac.com)

Có thể dẫn ra một đoạn trong bài phân tích về nhạc thuật của “Kiếp nào có yêu nhau”, được nhạc sĩ Phạm Duy khá “tâm đắc” lúc sinh thời:

“… Cấu trúc thơ đã được đẽo gọt lại để hợp với cấu trúc nhạc. Tôi đoán rằng nhạc sĩ đã ngân nga được cái motif ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’ và cái motif cân bằng thứ hai là ‘Hoa xanh đã phai rồi / Hương trinh đã tan rồi’, và chọn nó làm sườn bài chính của nhạc khúc. Cái cấu trúc này rất logic, nó khởi đầu bằng một câu tán thán với một cung nhạc rải vút lên (arpeggiated) ‘Đừng nhìn em nữa anh ơi’, rồi chứng minh ngay lời cầu khẩn đó bằng hai câu nhạc tương tự nhau là ‘Hoa xanh đã phai rồi’ và ‘Hương trinh đã tan rồi’…

Sang phần hai của phiên khúc, ta thấy nhạc sĩ đã làm tăng kịch tính của câu nhạc bằng cách khéo léo nhắc lại motif nhưng với một biến thể là thêm vào ba nốt ‘Đừng nhìn em (Là Mi Lá)’ trước khi lên đến nốt Mí rồi trả lại nốt Ré, rất phù hợp với lời nhạc có tính cách van xin, vì có ai van xin một câu rồi thôi?” (1)

Chỉ một vài nét phác ấy đủ cho thấy “tay nghề” phổ thơ của “nhà phù thủy âm nhạc” Phạm Duy, như cách người ta vẫn gọi ông.

Đến nay nhiều người vẫn còn nhớ giọng hát rưng rưng của Thái Thanh và “Kiếp nào có yêu nhau” trong vở kịch “Áo người trinh nữ” trình diễn trên Đài Truyền Hình Việt Nam (1967), đã lấy đi không ít nước mắt của khán giả.

Gần đây, cũng bài hát ấy, cũng giọng hát ấy đã mê hoặc và truyền cảm hứng cho một đạo diễn điện ảnh người Mỹ gốc Việt, Dustin Nguyễn, để thôi thúc anh thực hiện một phim tình cảm lãng mạn ở trong nước. “Bao giờ có yêu nhau”, tên phim, mượn từ một câu hát trong bài hát ấy.  “Kiếp nào có yêu nhau”, nhạc phim chính, và giọng hát đầy ma lực của Thái Thanh đã “hớp hồn” nhiều khán giả trẻ lần đầu tiên nghe được ca khúc ấy, khiến phải đi tìm cho bằng được bài hát và giọng hát này để được thưởng thức trọn vẹn. Rõ ràng là trước giờ tuổi trẻ trong nước chưa hề nghe được bài hát nào, giọng hát nào như thế.

“Tôi chọn ca khúc ‘Kiếp nào có yêu nhau’ làm nhạc phim vì nội dung bài hát quá phù hợp với chuyện phim,” người đạo diễn trẻ tâm sự. “Ca khúc bất hủ ấy không chỉ nói về kiếp người, sự luân hồi, mà còn khắc họa cả câu chuyện tình bất hạnh, tiếc nuối. Bên cạnh đó, giọng ca của nghệ sĩ Thái Thanh mang màu sắc liêu trai, ám ảnh và cực kỳ ma mị. Ca khúc này được lồng ghép vào phim chắc hẳn sẽ chạm được đến trái tim khán giả.”

Đối với nhiều người ở trong nước, đấy là bài hát “mới”, hiểu theo nghĩa mới được nghe lần đầu.
Bài hát, như thế, có đến hai đời sống, cách nhau đến hơn nửa thế kỷ.
“Kiếp nào có yêu nhau” phù hợp với giọng nữ hơn là giọng nam. (Vài nam ca sĩ tự ý đổi lời bài hát từ “em” sang “anh” nghe khá… phản cảm, khi mà những “hoa xanh” và “hương trinh” chỉ dành cho người nữ:

Đừng nhìn anh! Đừng nhìn anh nữa…, em ơi!
Hoa xanh đã phai rồi!
Hương trinh đã tan rồi!)

Thái Thanh-Hoài Trinh-Phạm Duy, “bộ ba” này đã giữ cho lời hẹn thề “Kiếp nào có yêu nhau” của những đôi tình nhân được bền vững mãi cho đến trọn… kiếp này.

Điều đáng ngạc nhiên là, bài thơ được phổ nhạc khi tác giả còn tuổi đời rất trẻ. Người đọc tìm thấy, nhiều bài thơ, câu thơ của Minh Đức Hoài Trinh như được phủ lên một màn sương âm u, một không gian u tịch của những “chiều tha ma hoang lạnh”, những “đường nghĩa trang gập ghềnh”, những “tiếng cầu kinh văng vẳng”, những “tiếng búa nện vào đinh”, những “vòng hoa tang ủ rũ”, những “cỏ dại phủ mộ trinh”, và cả đến những “thịt xương rữa nát”, những “côn trùng rúc rỉa”, những “oan hồn lạnh lẽo”, những “bóng thuyền ma lênh đênh”…

Về phía người nhạc sĩ, những bài thơ của sinh ly tử biệt ấy mang đến cho ông sự đồng cảm sâu xa, khi mà “Tình yêu–Sự khổ đau–Cái chết” vẫn là những chủ đề, như ông bộc lộ, từng theo đuổi và ám ảnh ông không dứt. “Kiếp nào có yêu nhau”, “Đừng bỏ em một mình” và những bài thơ nào nữa của Minh Đức Hoài Trinh đã truyền cảm hứng đến ông để từ đó một loạt những ca khúc về siêu hình, tâm linh, về cái chết và nỗi chia lìa ra đời, như “Đường chiều lá rụng” (1958), “Nếu một mai em sẽ qua đời (1958), “Tạ ơn đời” (1959), “Một bàn tay” (1959), “Ru người hấp hối” (1965), “Những gì sẽ mang theo về cõi chết” (1966), “Anh yêu em vào cõi chết” (thơ Nguyễn Long, 1971), “Tưởng như còn người yêu” (thơ Lê Thị Ý, 1971), “Bài hát nghìn thu” (1988), “Người tình già trên đầu non” (1988), “Trút linh hồn” (thơ Hàn Mặc Tử, 1993)…

Đến nay thì cả hai, người nhạc sĩ lẫn người thi sĩ đều đã đi về một thế giới khác. Và tiếng hát người ca sĩ, từ lâu cũng lặng tiếng, im hơi.

***

“Anh còn có dịp đi qua
thăm giùm em với, căn nhà thân yêu
Hôn giùm em những buổi chiều
Nói giùm em, nói rất nhiều xót xa” (2)

Người viết những câu lục bát ấy đã đi xa. Lời thơ thật tha thiết, thật xót xa. Tôi không rõ chị đi xa mãi đến đâu, thế nhưng tôi tin rằng linh hồn chị thế nào cũng về lại quê hương cũ, về ngồi lại trên thềm nhà cũ của “căn nhà thân yêu”, về hôn lên những buổi chiều vàng trên đồng lúa mênh mông, về thăm lại “màu đất đỏ đường dốc cao Bến Ngự”, (2) về nhìn lại “trăng sông Hương vằng vặc giọng hò khoan” (2) nơi thành phố đầy ắp những kỷ niệm mà một phần đời của nhà thơ còn gửi lại chốn ấy.

Tình yêu ấy, tình yêu chị gửi về quê nhà xa lắc xa lơ ấy, đến “kiếp nào” đi nữa cũng không hề nhạt phai. Dẫu “hương trinh đã tan rồi”, dẫu hoa đời có “phai sắc tươi” thì tình vẫn cứ xanh cho đến “tận ngàn sau”. Không phải là bài hát ấy đã nói như thế sao?

Minh Đức Hoài Trinh, chị không đi xa (như cách người ta vẫn nói), chị trở về. Một con người yêu đất nước yêu quê hương đến như chị, yêu đến nâng niu từng kỷ niệm như chị thì không thể nào không trở về. 

Trở về như cánh “chim nào bay về xứ”. (2) Trở về như những câu thơ:

“Trở về thành phố của màu rêu tuổi nhỏ
vẫn còn nghe trong gió
bầy chim sẻ trên nóc chuông nhà thờ
gọi tên rất khẽ
Hoài Trinh”
(“Quê Nhà”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Và những câu thơ nào nữa, trong những bài thơ “trở về” nào nữa:

“Em về ôm lửa
Em về ôm anh
Em không đi nữa
Em về ôm quê hương mình”.
(“Em về ôm quê hương mình”, thơ Minh Đức Hoài Trinh)

Lê Hữu
9/9/2017

(1) Học Trò: Vài cảm nghĩ về “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”, thơ Hoài Trinh, nhạc Phạm Duy
(2) Thơ Minh Đức Hoài Trinh

*** ĐÔNG VỀ

Nhật Quang

jpeg111

Chiều buông trầm
Gió níu Thu vàng vương lên mắt nhớ
Hoàng hôn tím nhuộm bâng khuâng
Ngõ phố xạc xào
Hương Thu còn sót trên nhành lá
Có tiếng chim gù gọi bạn
Rơi vào khoảng lặng mênh mang

Trên gác vắng
Tiếng dương cầm văng vẳng, ray rứt
Quyện vào bóng đêm tĩnh lặng
Hàng cây bên đường run run
Và những chiếc lá cong queo nằm trăn trở…
Hứng giọt sương buốt giá
Nghe mùa Đông thức giấc quay về.

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** ĐÊM NGHE RỪNG YÊN TĨNH!

Hoa Nguyên

hoa_hong_cau_vong_5_ejcc

Tàn tích ngỡ giọng người
Dấu nhiều năm sót lại
Ta còn thấy ngôi xanh
Ngày chiến chinh xa ngái..
Cô gái Việt lai Miên
Chút ba tàu trong máu
Mái tóc vừa Tịnh Biên
Ta mới về tiền tuyến
Những đầu xanh với núi
Treilli trong màu rừng
Phong sương mùi mưa bụi
Trong mắt em rưng rưng
Chiến tranh nào ngại chết
Sợ mất dấu núi rừng
Ta gọi em gái Chệt
Trong mắt đen tội mừng
Chỉ nhìn thôi không nói
Nỗi sợ rất tội tình
Những đàn chim cánh mỏi
Ghé về thăm bình minh
Đôi mắt tròn ly biệt
Chưa nói đã ngại ngùng
Đời chiến binh khắc nghiệt
Về đâu buổi trùng phùng
Những chiều đi vời vợi
Non nước còn điêu linh
Hàng poncho đồng đội
Quấn quanh đời chiến chinh
giữa mình thật mong manh
Mối tình xanh xao lính
Đêm nghe rừng yên tĩnh
Địch chắc toan tính gì!
Chiều biên giới ta đi..

hoa nguyên

*** Giấu Những Đam Mê

Trương Thị Thanh Tâm 

aodai do
           
Yêu người có tội hay không?
Mà sao tôi thấy phập phồng lo âu 
Tình yêu nào biết được đâu!
Trái tim cứ thế đập sai nhịp rồi 
Tim ơi đừng có bồi hồi 
Đừng nhìn ánh mắt nụ cười người ta 
Biết rằng người ấy ở xa 
Nâng khăn sửa túi , người ta có phần 
Xin thôi đừng có phân vân 
Nhở yêu thì khổ, mua dần nổi đau 
Trời ơi! Tôi biết làm sao 
Ngày đêm thương nhớ, ngọt ngào muốn trao 
Bao giờ mới được gặp nhau 
Tình xa cách trở, nỗi đau lại về 
Hay là tôi đứng bên lề 
Nhìn người giấu những đam mê trong lòng 
            Trương Thị Thanh Tâm 
                      Mytho

*** Thương Lá Bay Xa

Lệ Hoa Trần

aotrang2-kkk
Tháng mười về mưa rơi, lá đổ
Cây xa cành nỗi nhớ buồn tênh
Đường vắng người phố xá đèn lên
Con chim nhỏ ẩn mình góc vắng
Chiều cuối thu một mình thầm lặng
Chân bước lê dọc quảng đường dài
Dưới tàng cây đếm lá thu bay
Lòng lưu luyến nhớ về xưa cũ
Hai con mắt giữa ngày……  ủ rũ
Muốn vui cùng vạn vật thiên nhiên
Muốn quên đi bao nỗi ưu phiền
Mà lệ mãi lăn tròn trên má
Tình yêu hỡi. Ôi ! Sao vĩ…quá
Chỉ phút, giây mà nhớ nghìn trùng
Chỉ nụ hôn in mãi không quên
Chỉ tay nắm dường như bó chặt
Tháng mười về lòng đau quặn thắt
Tiếc nuối tình, thương lá bay xa.
Lệ Hoa Trần
18-10-2018

*** Là Lá Hát

Hoa Nguyễn

hoa xoan
Xác người còn quanh đây
Trên nền nhà tận hưởng
Đem pháp trường phơi thây
Tên thời trang tối thượng!
Giao hưởng trên phận người
Như tiếng trời đười ươi
Loài thần thoại quỉ dử
Múa giữa thời ma chơi!
Trong trùng trùng loài dơi
Thử chập chờn chơi vơi
Bay rập rờn thượng đẳng
Rờn rợn những tiếng cười!
Xác nào vừa thê lương
Nghe đêm trường đau thương
Màu hoa đèn u quái
Dệt hình hài tai ương!
Trên giảo trường âm u
Trong chốc lá mùa thu
Dư âm toan.. rời rã
Là.. lá hát ngục tù!
Là.. Lá hát ngục tù..
Là.. Lá hát ngục tù!

*** Quê Nhà, Còn Đó Hay Không?

Đặng Lệ Khánh

Gởi Người Tình Tuvalu

Nơi ta sinh ra nước xanh như ngọc
Có những khóm dừa nghiêng bóng thầm thì
Cát trắng thi nhau mời Em đến học
Viết mãi tên Anh trên mỗi bước đi

Có cánh hải âu soãi dài trên đá
Có nắng rất vàng trên tóc buông lơi
Có Em ngồi đây ngắm mây đón gió
Lồng lộng hồn Anh thơm muối biển khơi

Tình yêu nồng nàn đâu cần tiếng nói
Sóng vỗ xô bờ lời nguyện muôn niên
Dã tràng ngàn năm sẽ hoài xe cát
Và Anh và Em sẽ tát biển êm

Sẽ có một ngày cát thôi chờ đón
Nước biển dâng dầy khuất lấp quê hương
Nơi Em đang ngồi sóng hờ hững gợn
Hải âu bay dài cất tiếng thê lương

Đặng Lệ Khánh

          tuvaluBạn đang hỏi Tuvalu là cái quái gì vậy mà K bày đặt làm thơ ư? Bạn muốn biết thì cứ mở computer và vào site này để xem nhé:

http://www.thesinkingoftuvalu.com/

Bạn đã đọc chưa? Cái quốc gia bé tí mười dặm vuông với khoảng mười ngàn người dân ấy có thể sẽ biến mất tăm trên bản đồ thế giới trong vòng năm mươi năm nữa thôi. Nơi cao nhất của nó bây giờ là 15 feet trên mực biển và nơi thấp là bốn feet. K không biết người ta đo theo kiểu nào chứ với mười lăm feet cao thì một cơn sóng lớn cũng đủ ngập rồi. Nhưng dân ở đấy văn minh lắm đấy, không thiếu truyền hình và vi tính. Có người đã xin tị nạn nước biển ở Úc và Tân Tây Lan, những nước lân cận lớn rộng, không sợ bị nước biển xâm lăng như ở quê nhà.

Năm mươi năm nữa, con số người ra biển vọng cố hương sẽ tăng thêm khoảng mười ngàn, hợp với hàng triệu người tha phương trên khắp thế giới, đứng nơi này mà vòi vọi trông nơi kia, tâm hồn vượt núi, vượt sông, vượt biển mà vọng cố hương. Người Cuban đứng trên đất Florida Bay nhìn qua eo biển mà thương người ở lại, người Việt đứng ở Cali mà vọng qua Thái Bình Dương, nhớ cuộc vượt biên. Người Nga, người Đông Âu chắc chỉ chờ mùa đông tuyết rơi rơi mà nhớ đậm nhớ đà những hội hè gia đình đầm ấm.

Các nhà văn lưu vong có người sau khi đi khắp vùng trời thế giới xin quay về sống nơi quê nhà dù phải đành gác bút, có người nhất định chôn nắm xương tàn nơi đất khách như một quê hương thứ hai, thà nhìn đất đai mây nước người từ lòng đất hơn là được chôn tại quê nhà mà vẫn thấy cô đơn.

Mất nước vì nước biển như Tuvalu mới thật là mất nước. Có ai hô hào được người dân đứng lên cùng nắm tay nhau mà tấn công hà bá long vương được. Có ai lưu vong, đi góp công, góp của, góp nhân lực để về giúp dân chống lại mực nước đang dâng được. Sự chống chỏi lại một tương lai tối mù thê thảm là sự chống chỏi tuyệt vọng ngay từ lúc sơ khai, nguyên thuỷ. Sống bây giờ là sống trên một đất nước đang đi vào cõi chết. Vài chục năm sau nữa, khi con cái khai lý lịch chánh quán của mình, tìm trên bản đồ chỉ thấy một vùng nước xanh lơ, loáng thoáng dưới đáy đầy rong, một lớp đá vẫn còn ngữa mặt nhìn trời xanh tìm bóng dáng những chú hải âu một thời nhởn nhơ bay lượn , lòng sẽ tự hỏi : Tuvalu, tên hay nhỉ, nhưng nó là gì, nằm ở nơi nào.

K lại lan man tự hỏi, con cái đời nay ở Huế, có thể có người nào tình cờ một hôm đào xới sau vườn hương hoả để đặt xuống một cây ngọc lan chẳng hạn, bỗng đào lên một di vật của Chiêm quốc. Người ấy có bâng khuâng, xót xa mà nhìn vào quá khứ để đau hận mà tìm xem Chiêm Quốc nằm ở nơi nào. Những người Chiêm mới thật là kẻ vong quốc ngay trên đất nước mình. Mỗi khi đứng giữa những hoang tàn của thành quách một thời hưng thịnh, họ chắc đau lòng vô cùng tận.

Năm kia khi K về Việt Nam, K đi Tháp Chàm ở Nha Trang, Phan Rang, Mỹ Sơn. Đứng trên Tháp ở Nha Trang và Phan Rang, K buồn buồn thôi mà không thấy thê thảm như khi đi Mỹ Sơn. Có lẽ nhờ những nơi ấy nằm trên cao nhìn xuống thành phố, còn giữ nét uy nghi ngạo nghễ của một dân tộc dù đã khuất nhưng vẫn có những trang sử oai hùng. Còn Mỹ Sơn thì khác hẳn. Nằm khuất lấp giữa rừng núi hoang vu, tiêu điều u ẩn, suối nước chảy lặng lẽ vờn quanh, cỏ hoang bơ phờ theo gió hiu hiu lành lạnh giữa trời chiều trở qua sắc tím. Những ngọn tháp rêu phong, đổ nát, tường loang lỗ, cột xiêu nằm la liệt. Trên mỗi cột to cả hai người ôm, chữ nghĩa một thời vẫn còn in dấu như những lá bùa vĩ đại bảo vệ chứng tích người xưa. Đã biết bao nhiêu nhà khảo cổ tìm về đây, mong đọc được những hàng chữ khắc đều tắp, bí mật ấy mà bó tay.

Ngồi trên cột đá, tay mân mê những hàng chữ thảo, tưởng như oan hồn một thời còn quanh quẩn đâu đây, hàng đêm khóc đòi nước cũ. Dưới chân mình là đám cỏ mắc cỡ, chạm chân nhè nhẹ cho chúng khép mắt, nằm yên ngủ bình an. Huyền Trân có vô tình góp một bàn tay diệt một giống nòi không nhỉ. Với ta, Công Chúa là một anh thư. Với người, Công Chúa chắc là kẻ phản bội. Mọi khen chê đều tuỳ theo người phán xét đang đứng ở biên giới nào. Và vì thế, lúc nào cũng chỉ là tương đối.

Người Chiêm sống trên đất nước tuy đã mất tên nhưng nắm đất rất hiện thực vẫn còn nằm đó. Từ xưa, đất vẫn là đất, họ tên do người đặt ra, đất nào cần biết tới. Đất chỉ cần biết đất đang ở cùng ai, đang ôm ấp nắm xương nào, đang nuôi sống rễ cây nào, đang góp mầu cho đám hoa nào, đang nghe trong lòng dòng suối nào len lỏi buồn buồn mà ấm áp. Tên tuổi có thay đổi, nhưng cảm giác thân quen khi vọc tay xuống đám đất xốp man mát, hay chao chân xuống con nước trong vắt, con người nơi ấy có lẽ vẫn thấy lòng gắn bó nơi mình đã sinh ra.

Người Việt lưu vong thì tâm hồn không đơn sơ đến thế. Họ làm sao biết nên đứng bên nào để nhìn về hướng quê nhà. Quê hương có mất đâu mà than mất nước. Mảnh đất hình chữ S vẫn còn nguyên, tên vẫn còn nguyên, đất đai vẫn còn đấy, chỉ có chủ thuyết là khác thôi. Chủ thuyết chắc chắn không phải là quê nhà, chủ thuyết chắc chắn không phải là quê hương. Vậy mà chúng ta vẫn buồn đau vì sự thay đổi ấy.

Chúng ta cảm thấy mất quê hương chỉ vì những kẻ theo chủ thuyết ấy đã đối xử những kẻ đối đầu với họ một cách tàn nhẫn, để lại những vết thương không bao giờ khép lại trong tim và trong trí nhớ của những anh hùng đã sa cơ. K cũng chắc rằng không phải vì bị đối xử tàn ác mà chúng ta không chấp nhận họ và chủ thuyết của họ. Chúng ta có tư duy để thấy lý thuyết ấy không sao nâng con người lên đến chỗ thăng hoa của tâm hồn.

Con người không phải chỉ thuần sinh lý. Con người còn có nhân phẩm, có tâm hồn, có tư tưởng. Con người không chỉ kiếm tìm thực phẩm cho cơ thể cần sinh tồn, nó còn cần tìm thức ăn cho tâm trí muốn được khai sáng và tự do. Những thức ăn tinh thần ấy, ở quê nhà không bán, ai muốn mua phải mua chợ đen, mua lặng lẽ và ăn trong lặng lẽ.

Quê nhà còn đó mà như mất. Bước chân về mà như đi vào một nước xa lạ, lòng lại có cảm giác như mình đang phản bội lại những người bạn một thời đã sát cánh tranh đấu cho một lý tưởng chung. Đi hay ở, người Việt có lương tâm ở hải ngoại vẫn không nguôi thổn thức trong lòng cố tìm cho mình một câu trả lời thật nghiêm trang và đầy nhân bản. Hoặc ít ra, đó là câu hỏi K riêng nhìn thấy được trong những ánh mắt của bè bạn thân quen.

Quê nhà, còn đó hay không?

Đặng Lệ Khánh

 

*** Nỗi Đau Phận Người

Trương Thị Thanh Tâm 

ao dai ngoi
Anh nói gì với gió 
Sao chỉ thấy lặng im 
Lá thu nhẹ rơi thềm 
Nắng còn vương chút hạ 
Anh nói gì với mây 
Mặt trời đi đâu vội 
Buông rèm đêm sập tối 
Tiếng vạc sầu năm canh 
Anh nói gì cùng mưa 
Cơn mưa hoài chưa dứt 
Nên có người thao thức 
Đếm giọt buồn lê thê 
Anh nói gì với biển 
Sao biển vẫn thét gào 
Nước dâng theo dòng lũ
Người trôi dạt nơi đâu 
Anh nói gì nữa không 
Đời còn nhiều bối rối 
Bước trong vùng bóng tối 
Nghe nỗi đau phận người!
           Trương Thị Thanh Tâm 
                    Mytho 

*** Lương Tâm MẸ NẤM

Đỗ Hiếu/ĐHT

Phim Tài Liệu Về Gia Đình Tù Nhân Lương Tâm MẸ NẤM – NGUYỄN NGỌC NHƯ QUỲNH

Buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”, được VOICE tổ chức vào chiều thứ sáu 31 tháng 8, 2018 tại hội trường Providence Recreation Center, thành phố Falls Church, Virginia.

Sau nghi thức khai mạc do ông Bùi Mạnh Hùng phụ trách, luật sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành Tổ Chức VOICE cho biết đây là phim tài liệu đầu tiên về một nhà dân chủ, một phụ nữ đấu tranh cho nhân quyền, blogger Mẹ Nấm, đang ngồi tù, do đạo diễn Clay Phạm thực hiện tại Nha Trang. Cốt truyện diễn tả cuộc sống kham khổ, gian nan, gia đình của Mẹ Nấm, bà ngoại tật nguyền, mẹ già chật vật nuôi  hai con nhỏ của tù nhân lương tâm này mà còn thường xuyên bị công an bám sát, theo dõi, gây khó khăn đủ điều.

Cuốn phim dài 40 phút, được bí mật thu hình trong hoàn cảnh rất gay go, nguy hiểm, đã được chiếu tại các quốc gia trên thế giới tạo nhiều cảm xúc và thương xót trong công luận, khiến cộng sản Hà Nội phản ứng gay gắt.

Mẹ Nấm bị tòa án cộng sản xử 10 năm tù cộng với 5 năm quản chế, ghép vào tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” vì đã tham gia biểu tình chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. Cô cũng thường xuyên lên tiếng bảo vệ dân oan bị cộng sản chiếm đoạt đất đai, tài sản, bênh vực gia đình các nạn nhân bị đột tử trong đồn công an, chống đối tập đoàn Formosa gây thảm họa môi trường, khiến cá chết đồng loạt tại bốn tỉnh Miền Trung.

Hiện nay cô bị giam trong một hỏa ngục ở Thanh Hóa, ngoài Miền Bắc, cách xa gia đình trên 1200 cây số và  thường bị nữ tù hình sự “đầu gấu” hành hung, tính mạng luôn bị đe dọa.  Cô đã nhiều lần tuyệt thực để phản đối hành động khủng bố tinh thần và vật chất dã man của các cai tù.

Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh dù vắng mặt, đã được trao tặng nhiều giải thưởng như: Tự Do Báo Chí, Bảo Vệ Nhân Quyền,  Những Người Phụ Nữ Quốc Tế Can Đảm. 

Với sự can thiệp nhiều lần của chánh phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đòi Hà Nội trả tự do vô điều kiện cho Mẹ Nấm nhưng vẫn chưa được đáp ứng!

Sau phần hỏi đáp qua điện thoại với đạo diễn Clay Phạm, hiện đang lẩn tránh an ninh Việt Nam và bà Nguyễn Thị Tuyết Lan, mẹ chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, ở Nha Trang, buổi trình chiếu kết thúc vào lúc 8 giờ tối. Có những vị ân nhân ở Mỹ đề nghị với bà Tuyết Lan xin nhận hai bé Nấm và Gấu làm con nuôi. Bà nói, sẽ hỏi ý kiến của Mẹ Nấm, khi bà đến trại giam thăm con gái và phúc đáp sau.

Lên tiếng với VIETV, luật Sư Trịnh Hội, Giám Đốc Điều Hành của VOICE (Vietnamese Overseas Initiative For Conscience Empowerment/ Sáng Kiến Thể Hiện Lương Tâm Người Việt Hải Ngoại) cho biết về cảm tưởng chung, nói đúng hơn đó là sự phẩn nộ, cú “sốc” của khán giả tại Đài Loan, Philippines, Úc, Canada và Hoa Kỳ khi xem tận mắt những hình ảnh đàn áp, sách nhiễu thô bạo của công an đối với gia đình Mẹ Nấm cũng như những tiếng nói dân chủ khác lên tiếng phản đối bản án nặng nề dành cho Mẹ Nấm.

Tại Việt Nam, phim chỉ được chiếu kín đáo trong các giáo xứ và nhà thờ với số người xem hạn chế. Trên Xứ Thái, phim được chiếu lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 6 vừa qua, trong Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế (FCCT) tại Bangkok, Thái Lan. Khi biết được, Hà Nội triệt để ngăn cấm đồng thời áp lực chánh phủ Thái phải hủy bỏ các buổi trình chiếu phim “Mẹ Vắng Nhà”.

Bà Phùng Thị Hạnh, cựu Chủ Nhiệm báo Tin Sống ở Saigon [trước 1975] và cựu phóng viên tạp chí Newsweek, bày tỏ sự đồng cảm với hoàn cảnh gia đình đơn chiếc, chật vật của chị Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và mong muốn công luận quốc tế, cùng tập thể người Việt Hải Ngoại mạnh mẽ vận động đòi hỏi Hà Nội sớm trả tự do cho hàng trăm tù nhân lương tâm còn bị cộng sản Việt Nam giam cầm trong hỏa ngục, trong đó có Mẹ Nấm, nhân vật chính không thể có mặt trong cuốn phim cảm động này.

Đỗ Hiếu/ĐHT

***BÊN DÒNG SÔNG CỬU

Trang Châu

Mekong-River-654x454-621x431

ai đứng bên kia bờ giới tuyến
nghe chiều buông nắng ngậm ngùi đi
trông nhau mấy độ thu rồi nhỉ
hẹn với thuyền em đến bến gì?

mắt lệ năm nào tiễn biệt nhau
trùng trùng con nước cuốn trôi mau
tàu đi, sông biếc đìu hiu lạnh
gió cuốn đời trai theo bể dâu

lưu lạc phương trời, lòng một phương
rừng thu vàng úa lá quê hương
nao nao tiếng hát buồn rười rượi
côi cút người đi vạn dặm trường

ta đứng bên này con sông xanh
bình minh chim hót nắng trên cành
bên kia, mưa nửa dòng sông đục
lớp lớp cuồng dâng sóng bạo hành

Bao giờ lá úa, cành khô mục
lửa tiếp hờn căm cháy gót thù
thế nước bừng bừng con thác hận
ta về,trời lộng gió thiên thu

ta về, hẹn với dòng sông Cửu
nối lại bờ chia một nhịp cầu
xanh xanh mái tóc bên đầu súng
áo trắng thương thương áo bạc màu

Trang Châu

*** Người có tính tình khó ưa mới dễ giàu

Một nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

BIEN NUOCMột nghiên cứu mới cho thấy những người tính tình dễ chịu thường có thu nhập thấp, quản lý tài chính kém.

Theo Telegraph, các chuyên gia tại Đại học London và trường kinh doanh Columbia đã phân tích dữ liệu từ hơn 3 triệu người tham gia nghiên cứu tại Anh và thấy rằng, xét về trung bình, những ai có tính tình khó ưa thì lại giàu có hơn.

Họ đã xem xét ở cả trẻ em, bằng cách theo dõi chúng tới khi trưởng thành, và trực tiếp ở người lớn. Nhóm nghiên cứu cũng tìm hiểu vì sao có mối liên quan giữa tính tình dễ mến với tình trạng khó giàu.
 

Họ kết luận rằng những người dễ tính nghèo hơn không phải vì họ dễ thỏa hiệp hơn mà đơn giản bởi họ ít nghĩ về tiền và do đó khả năng quản lý chuyện công việc, làm ăn kém.

Tiến sĩ Sandra Matz, Đại học Columbia, nói: “Kết quả này giúp chúng ta hiểu một yếu tố tiềm ẩn của các khó khăn về tài chính – điều có thể ảnh hưởng đáng kể tới sự giàu có của mỗi người. Trở thành người tốt bụng và đáng tin phải đánh đổi về tài chính, đặc biệt với những ai vốn đã không giàu có gì”.

Nghiên cứu đăng trên Journal of Personality and Social Psychology.

 

*** MẸ NẤM

Nhật Quang

Tặng Nguyễn ngọc Như Quỳnh
Em vẫn hiên ngang, dũng cảm
Trước lũ bán nước đê hèn
Bản án 10 năm
Không làm em nao núng
Trước đòn thù, em vẫn đứng thẳng ngay
Nêu chí khí của cháu con bà Trưng, bà Triệu
Em quyết chọn
Con đường Tự Do – Dân Chủ
Quyết đấu tranh cho đất nước rạng rỡ, đẹp tươi
Em quyết giữ biển Đông sáng ngời
Em quyết bảo vệ cho những người dân oan đói khổ
Đòi formosa trả lại môi trường biển xanh
Đòi công lý cho muôn người bị áp bức
Em vẫn kiên cường phía trước
Những bất công của bọn dã tâmhoathach
Giương cao lá cờ Công Bằng – Chân Lý
Nốt gót bao anh hùng quyết giữ gìn mảnh đất tổ tiên
Em dõng dạc, phí khách hiên ngang
Dù tấm thân nhi nữ mỏng manh, gầy yếu
Em kiêu hãnh, mỉm cười trước gông cùm kẻ ác
Chí khí em biến thành sức mạnh phi thường
Cuốn phăng phường bán nước, hại dân
Tấm gương sáng để đời cho hậu thế
Đóa hoa Quỳnh vẫn lặng thầm trong đêm tươi nở
Ngát hương thơm giữa trời đất mênh mông.
Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** the matrix

Sử Mặc

ba bảy hăm mốt
 

5       10
15
20
3   7
21
đi đời nhà ma
đếm tới đếm lui vẫn là

7
3
21
nhà ma đi đời

00co baynum bờ tu

1.
thế là thằng cẳng giữa
túm gọn
anh hai vziên
2.
hồn ma lũ chim nhào xuống
độp phù mỏ
đứa bắn chùng

xạo [ke]

sao chúng mày cứ bật tắt bật           tắt
bỏ bà hết củi nỏ vào lò
cho được việc

một nhời

 đã đến lúc
lâu la tùng đảng bọn mày phải rút lui
bằng không thì
mất mạng

Sử Mặc
 
 

*** Praying

chua- cau nguyen 2

“Cast all your worries upon Him because He cares for you”. (1 Peter 5:7)

When we face difficulties in life, we often turn to God in prayer and beseech for help. We come to God to find comfort when we are in grief, in the midst of tragedy, or to find strength during life’s trial and tribulation.

Praying is divine and is a submission to God. It requires completely all of our hearts, minds, souls, and bodies consecrated to God. Furthermore, prayer is obedience to God’s will and acting according to His commandments. Prayer is also: sharing feelings with God; confiding and expressing our innermost thoughts and wishes to God; crying and laughing with God; walking hand in hand with God; spending time and creating memories with God; crying out for joy with God; crying out for help from God; igniting and growing the flame of passion in our hearts and souls for God; planning and dreaming with Him; worshiping, serving and glorifying Him; and lets His holiness shine upon us. I learn that everyday of our lives has its own troubles and we are not immune from it. Just open your heart, be honest and simple in your prayer. Simple prayer means we do not have to find a right words or holy phrases to move God. It is fine and alright to express your anger or despair because it shows that a communication channel or relationship between us and God is open and established. And that is a key to finding strength, comfort, courage, guidance, and happiness, because God has promised: “call on me on the day of distress, I will rescue you, and you shall honor Me.” (Psalm 50:15).

Always remember: “You do not possess because you do not ask” (James 4:2) and be assured that God is always with us and He will always answer us, thus, be faithful, patient, submissive, “trust in the Lord” (Psalms 37:3) because He has been and will be carrying us through life: “Even though I walk through the valley of the shadow of death, I will fear no evil, for you are with me; your rod and your staff comfort me.” (Psalms 23:4). ,

Strengthen your relationship with God with consistent prayer.

 Yes, God is always with us. So keep on confiding and praying to Him. He will always be there to listen and will lift us up in His loving and caring arms.

Let us pray:

Dear almighty God, the God of love, mercy and compassion, we cast all our anxieties on You, for You care about the smallest things that affect our worldly lives.
Thank you for always loving us.

Amen!

Joe HX Nguyen 

mùa thu Thánh Chúa

thu 6

tạ ơn Chúa mùa thu lại về nữa
nắng vàng rơi trên lối cỏ chiều nay
lá trên cành hân hoan thay áo mới
khoe sắc mầu trong nắng ấm muôn nơi

cánh chim trời nhẹ chao trong trời rộng
gió đường xa về thăm lá thu vàng
ôi lòng con như cánh diều lơ lững
theo gió trời chao lượn đón thu sang

nhặt lá vàng để thấy lòng ấm lại
vì tình Chúa gói kín trong lá thu
vì tình Chúa đầy ngập trong không khí
cho đời con hít thở tình Chúa yêu

tạ ơn Chúa tặng con thu rực rỡ
rực rỡ muôn mầu ân sủng Chúa ban
con chợt hiểu vì sao thu vàng úa
vì thế gian này còn lắm đau thương

tạ ơn Chúa tặng con mùa thu nữa
thu tha hương trong nỗi nhớ chơi vơi
tình yêu Chúa bao la hơn vũ trụ
làm sao con đền đáp nổi Chúa ơi!

tạ ơn Chúa tặng đòi thu muôn sắc
như tình yêu Chúa trao tặng nhân gian
Chúa chịu chết cho loài người được sống
cho đời này mãi mãi trong yêu thương
cho đời này đầy ơn phúc Chúa hiển linh

Joe Hung Nguyen
(Khê Kinh Kha)

*** Lời Kinh Mân Côi

Nhật Quang

hoa_hong_cau_vong_4_epwl

Maria
Mẹ yêu ơi!
Con dâng lên
Chuỗi hoa đời
Muôn hương
Mừng, Vui lẫn tiếng sầuThương
Chơi vơi kiếp sống vô thường trầm luân

Bể dâu
Cuộn sóng gian truân
Mắt gầy lệ đẫm
Buồn dâng kiếp người
Nghe chuông chiều vọng tháng mười
Mân Côi chuỗi ngọc vang lời thiết tha

Tay nâng
Ước nguyện…đơm hoa
Vui mùa ân phúc
Thoảng xa ngàn trùng
Thầm thì chuỗi hạt kính Mừng
Sáng ngời màu nhiệm…cửu trùng hạ thân

Thương đời
Lữ khách phù vân
Thập hình cứu độ
Suối ngần thương yêu
Hương kinh nhẹ ngát lam chiều
Bốn mùa vương quyện tin yêu nồng nàn.

Jos, Nhật Quang

*** NHỚ

Trương Thị Thanh Tâm 

           1ao dai trang
Mấy đêm rồi không ngủ 
Từ khi nói lời yêu 
Ta như đôi đủa lệch 
Nên lo sợ rất nhiều 
Làm sao giữ được tình!
Khi đôi ta hai ngã 
Trái tim nghe hối hả 
Với bao nỗi đợi chờ 
Từ khi nói lời yêu 
Lòng luôn thấy bối rối 
Sợ tình vuột khỏi tay 
Trái tim lại nghẹn ngào 
Nhớ ơi sao là nhớ 
Ánh mắt với nụ cười 
Cứ miết lấy hồn tôi 
Rộn rả những niềm vui 
Áo hoa khoát lên người 
Pha sắc nét rạng ngời 
Xao xuyến cả hồn tôi 
Dật dờ trong nỗi nhớ !
          Trương Thị Thanh Tâm 
                  Mytho 

*** CẢM NHẬN VỀ THƠ

VÀI CẢM NHẬN VỀ THƠ

TRẦN MAI NGÂN

00cogai hinh ve

Thơ của Trần Mai Ngân là thơ của nỗi lòng. Hình như, chị mượn thơ chỉ để ghi lại Nhật Ký Nỗi Lòng nên thơ của chị gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi đọc thơ chị. người đọc dễ “cảm”, dễ nhớ. Chị viết nhanh để ghi lại những cảm xúc thật của mình nên những câu thơ của chị rõ là của chị, không chịu ảnh hưởng cúa ai, cứ nhẹ nhàng đằm thắm, nhẹ nhàng chịu đựng, nhẹ nhàng hy sinh (có lẽ) như chính con người của chị.

Đọc những câu thơ:

– “Tôi đi nhặt lấy phù du
Trần gian một cõi mịt mù chơi vơi
Tôi tìm trong chiếc lá rơi
Phận người với cả một đời hư hao”
(Phù Du)

– Ngồi buồn xòa ngón tay hao
Đã đan trong gió đã nhòa trong mưa
Gần xa cũng đã từng chưa
Ngón tay đeo nhẫn như vừa chơi vơi.
(Ngồi Buồn Bấm Đốt Ngón Tay)
– Gió chiều, chân vội bước qua
Chỗ cười, chỗ đứng đã là ngày xưa
Mười Hai trời chẳng thôi mưa
Tiễn Thu hay tiễn tôi vừa hôm nay!”
(Tiễn Thu 2)

người đọc thấy trân quý cuộc đời hơn dù những câu thơ ấy viết về sự cô đơn, về nỗi xót xa vì những dang dở chuyện tình, bởi thơ ấy không hề bi lụy, tiêu cực mà chỉ nhẹ nhàng dâng kín nỗi buồn, rồi nhẹ nhàng buông bỏ để người thơ trở về với những gì là của mình, thuộc về mình.

Tôi thích thơ chị, có lẽ cũng từ những câu thơ hay và tinh tế như thế.

Hôm nay, đưa thơ chị lên trang blog Đặng Xuân Xuyến, không hiểu lý do gì mà 3 lần tôi lập cập làm hỏng, cứ phải dàn trang lại. Vì đặc thù riêng (một phần do thiết kế) nên thời gian dành cho việc đưa bài lên trang blog Đặng Xuân Xuyến thường tốn khá nhiều nên tôi bực, định xóa hẳn bài nhưng tiếc công sức đã bỏ ra nên nán làm lại, vì thế mà tôi đọc kỹ bài thơ GIẬN của chị. Tôi bật cười với suy nghĩ: Thảo nào tên bài thơ là Giận!

Và cặm cụi ngồi gõ đôi dòng về Giận cả về thơ của chị:

GIẬN…
.
Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa
Mà em luôn nói dối
Không sao…em ổn mà!
.

Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau 
.

Thêm một lần… lần nữa
Có chắc còn lần sau
Ngày mỗi ngày hờ hững 
Nên tình đành xa mau…
.

Canberra trắng màu
Mây trôi xa xôi quá 
Em nhủ lòng quên đi
Chuyện đôi ta …còn gì? 
*
Canberra, 25 tháng 08.2018
TRẦN MAI NGÂN

Vâng. Thơ Trần Mai Ngân là thế. Cứ thẳng tuột với những suy nghĩ của mình, chẳng cần chọn lựa câu chữ bóng bảy, chẳng cần rào dậu chắn be. Sự thẳng tuột ấy chỉ là chị tự nói với lòng mình, tự lẩm bẩm với nỗi buồn đang xâm kín lòng mình, sự nhẹ nhàng ấy rất phụ nữ Miền Tây:

Cứ một lần giận dỗi
Là thêm một cách xa

Biết là giận dỗi là căn nguyên của sự “cách xa” nhưng chị không giãi bày, không phân tỏ mà chỉ âm thầm chịu đựng, âm thầm để níu giữ:

Mà em luôn nói dối
Không sao… em ổn mà.

Câu: “Không sao… em ổn mà!” nghe như tiếng nấc đang được chị cố ghìm lại.

Chị tiếp tục thật thà với nỗi ấm ức đầy vơi của mình, bằng những câu không thể đời thường hơn, không thể thật hơn, cứ như chị bê nguyên xi nỗi ấm ức, hờn tủi của chị bằng những câu nói thường nhật trong cuộc sống vào thơ mà chẳng cần cầu kỳ gọt rũa, chẳng cần chọn lựa kỹ câu từ. Vì thế mà chuyện của chị, thơ của chị thật lắm, đời và dễ chạm vào lòng người:

Cứ một lần im lặng
Không nhìn nói với nhau
Làm tim em băng giá
Một mình âm thầm đau

Biết là sức chịu đựng của con người có giới hạn nên khi đối diện với lòng mình, chị lắng hỏi lòng mình, và cũng là tự nhủ với lòng mình: “Thêm một lần… lần nữa/ Có chắc còn lần sau“. Biết sự nhường nhịn ấy, cam chịu ấy rồi cũng sẽ không đem lại kết quả tốt đẹp, nhưng chị lại buông xuôi, bất lực, tiếp tục cam chịu “thêm một lần”, rồi lần nữa, “lần nữa”… để chấp nhận sự đổ vỡ, chia ly: “Ngày mỗi ngày hờ hững/ Nên tình đành xa mau…”, thì thật là một bi kịch.

Nhẫn nhịn và bất lực trước cuộc tình sắp tan vỡ là tư tưởng yếm thế của một phụ nữ cam chịu xuyên suốt bài thơ.

Đọc bài thơ, không thấy hình bóng ai ngoài hình bóng chị, được mặc định bởi nhân vật “em” đang thủ thỉ kể chuyện tình buồn của mình. Cũng không biết căn nguyên những lần giận dỗi từ đâu, sự giận dỗi ở mức nào mà chỉ thấy hình ảnh nhẫn nhịn, cam chịu của chị, với những tâm sự của riêng chị, cũng rất chung chung, mơ hồ, khiến người đọc dù mến thương, cảm thông với nhân vật “em“, vẫn buông tiếng thở dài, nhẹ nhàng trách cứ: “tại anh tại ả, tại cả đôi đường.”.

Dù thế, thì “Giận” vẫn là bài thơ nhiều cảm xúc, cuốn hút người đọc bởi sự chân thành trong từng câu chữ của người viết.

Vâng! Thơ của Trần Mai Ngân là thế, là thơ của nỗi lòng, là tấm gương phản chiếu chân thực cuộc sống mà nữ sĩ Trần Mai Ngân đã trải qua, đã cảm nhận và đối diện.

Tôi thích những câu thơ buồn nhẹ nhàng nhưng lại rất sâu, rất thấm, kiểu:

Xa nhau, ừ nhỉ xa nhau vậy
Vá víu trăm năm một nụ cười
Mắt đã rời xa không trở lại
Lúc ở cạnh nhau đã vắng rồi.
(Khắc Vào Gió)

Nhưng tôi mong lắm được đón đọc những bài thơ tươi rói nụ cười, những niềm tin rạng ngời về sự vẹn tròn, đủ đầy của tình yêu chung thủy như mái ấm gia đình mà chị đang có, về những hạnh phúc lứa đôi mà tôi thấy đã có nhưng chưa nhiều trong thơ của chị. 

Hà Nội, 27 tháng 09.2018

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

*** cuộc tình

Hoàng Xuân Sơn

1aodai trang

với da trời. mượt. xanh xao
áo em mặc kín
điệu chào thanh thiên
khép lại từ khúc
ngoan
hiền
rồi trắng hết cả mùa
hiên thuý về
bây giờ tình nhẩm hương mê
một chữ vón vén
câu thề vĩnh ly
với thu ký             một lần
đi
đời ghi chép giữa
truyền kỳ nắng mưa
con đường nhữ thuỵ hương xưa
dấu chân mường tượng
vết lùa chim bay
một lần hôn đẫm ngón tay
còn nghe bạt tuỵ cuối ngày vân vi

hoàng xuân sơn
19/9/18

*** Em từ lục bát bước ra

đặng lệ khánh

Em từ lục bát bước ra
Tóc mềm quấn vội, áo là chưa tươm
Gót chân vương ngọn cỏ thơm
Tay ôm mấy khúc đoạn trường dở dang

Em cười, trăng thở đầu non
Em đi, hương bưởi khẽ luồn vào thơ
Từ Em, sáu tám đong đưa
Từ Em, mấy nốt nhạc đùa à ơi

“Đêm đêm ra đứng nhìn trời
Sao mờ, cá lặn, nhện khơi nỗi nhà …”

Em từ lục bát bước ra
Ca dao thấm đẫm mượt mà thời qua

Lời ru từ thuở ấu thơ
Trên vai cháu tựa, chị đưa ạ ời
Vỗ lưng bé bỏng tuyệt vời
Giữa khuya tĩnh lặng ấm hơi ngủ vùi

Em từ lục bát mỉm cười
Thả tay rải những ý lời đơn sơ
Bồng bềnh kẽo kẹt nôi xưa
Theo câu sáu tám đêm là đà vơi…

Đặng Lệ Khánh

*** BIỂN KHÓC

Khê Kinh Kha


DPDP21

Nhạc và lời : Khê Kinh Kha

Bảo Yến trình bày

BIỂN KHÓC

ngồi bên bờ biển này
nhớ giòng tóc mây bay
nhớ nụ cười trong gió
bàn chân in cát nhỏ
giờ đây đã phai mờ

ngồi bên bờ biển này
nhớ người qúa xa xôi
nhặt từng hạt cát nhỏ
ép vào bờ môi tôi
để nhớ thương một người

thì thôi người đã bỏ đi
bỏ tôi ngơ ngác bên bờ biển hoang
bỏ tôi ngồi dưới trăng vàng
ôm ngàn con sóng khóc tình mây trôi
thì thôi nă’ng nhạt biển tôi
hoang vu rơi lệ, ngậm ngùi trăm năm
thì thôi biển vắng tình nồng
ngàn năm biển khóc, khóc tình đôi ta

ngối bên bờ biển này
gió lạnh đầy tim tôi
người ơi sao xa mãi
biển ơi sao khóc hoài
ngọt lệ này cho ai ?

rồi đây biển âm thầm
rồi đây sóng lặng câm
rồi đây tình tôi chết
trên bãi cát khô cằn
ngàn năm mây bay mãi
ngàn năm biển khóc hoài


khê kinh kha

*** Những Tác Phẩm Cuối Cùng Của Khái Hưng

Trọng Đạt

Tưởng Niệm 70  Năm Nhà Văn Khái Hưng Bị Việt Minh Thủ Tiêu Tại Bến Đò Cựa Gà, Làng Ngọc Cục, Nam Định Vào Đêm Giao Thừa Năm Mới Đinh Hợi (21-1-1947).  

Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại Cổ Am, Vĩnh Bảo Hải Dương , thuộc thành phần gia đình quan lại, con cụ Tuần phủ Phú Thọ, bố vợ là Tổng đốc Bắc Ninh, anh  ruột nhà văn Trần Tiêu. Khái Hưng theo học trường Lycée Albert Sarraut, HàNội, đậu tú tài ban cổ điển, ông cũng uyên thâm Hán học.

Ông tham gia hoạt động cách mạng giành độc lập 1940. Năm sau 1941, các đảng viên Đại Việt Dân Chính như Khái Hưng, Hoàng Đạo  bị Pháp bắt giam tại nhà lao Vụ Bản thuộc tỉnh Hòa Bình, đó là một vùng nước độc. Năm 1943 ông được tha, bị quản thúc tại Hà Nội. Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 năm 1945. Các nhà cách mạng lưu vong bên Tầu kéo về nước, Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách giữ nhiệm vụ tuyên truyền cho Việt Nam Quốc Dân Đảng. Việt Minh cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 năm1945, sau khi thành lập chính phủ liên hiệp, họ bất ngờ tấn công các trụ sở Quốc Dân Đảng, tiêu diệt các thành phần Quốc Gia.

Pháp tấn công Hà Nội, Khái Hưng tản cư về làng Lịch Diệp quê vợ,  bị Việt Minh bắt đưa đi thủ tiêu nửa đêm 21-1-1947, tức giao thừa Tết Nguyên đán Đinh Hợi.  Trong hai năm 1945, 1946 ông sáng tác một số truyện ngắn và kịch đăng trên tuần báo Chính Nghĩa. Năm 1966 ông Nguyễn Thạch Kiên đã cho xuất bản các tác phẩm ấy tại Sài Gòn và năm 1997 tại California, Hoa Kỳ nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm Khái Hưng bị Việt Minh thủ tiêu,  Nguyễn Thạch Kiên đã cho in lại trong một bộ sách hai tập lấy tên Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, nhà xuất bản Phượng Hoàng.

Đây là những truyện ngắn và những vở kịch cuối cùng của Khái Hưng, của Tự Lực Văn Đoàn . Bốn cây viết chính của văn đoàn gồm Khái Hưng, Nhất linh, Thạch Lam, Hoàng đạo. Nhưng lúc này chỉ còn một mình Khái Hưng, Thạch Lam chết bệnh năm 1943, Nhất Linh, Hoàng Đạo lưu vong sang Tầu, Khái Hưng sáng tác một mình.

Những tác phẩm cuối cùng của ông cũng là những áng văn tuyệt tác của một cây bút già dặn, những tâm tư của một nhà cách mạng chân chính trước cảnh cốt nhục tương tàn của cuộc chiến  Quốc -Cộng đang diễn ra. Các truyện ngắn gồm: Bóng Giai Nhân, Lời Nguyền, Hổ, Tây Xông Nhà, Quan Công Xứ, Nhung, Khói Hương, Người Anh Hùng, Tiếng Người Xưa và ba vở kịch: Câu Chuyện Văn Chương, Khúc Tiêu Ai Oán, Dưới Ánh Trăng. Vì phạm vi giới hạn chúng tôi xin được đề cập một số truyện chọn lọc.

BÓNG GIAI NHÂN 

Xin sơ lược 

“Trên một chiếc ô tô chở chính trị phạm lên Vụ Bản, Khanh một tù nhân nhớ lại những chuyện cũ tại trại giam sở Liêm Phóng: Phòng giam hôi hám, tối tăm, chàng đi bộ cùng các bạn tù tới nhà ga, những lời kêu khóc của thân nhân đi tiễn. Nhưng một kỷ niệm mà hắn khó quên lóe lên trong ký ức: Bóng giai nhân, một bạn gái bị giam ở xà lim bên cạnh trong thời gian hai mươi bốn tiếng đồng hồ “Sà lim 18’’, tên của giai nhân, cả trại đều ghi nhớ nàng bị giải đi đâu không biết.

Thế rồi một buổi sáng người ta dẫn vào một lô tù mới, trong đó có một thiếu nữ ăn mặc quê mùa rách rưới. Khanh và mọi người hỏi lính gác được biết cô gái bị giam ở đây nay là lần thứ ba. Lần thứ nhất cô là nữ học sinh tân thời, lần thứ hai cô giả trai, và lần này cô giả nhà quê. Tội của cô là “ làm cách mạng”’, từ lúc ấy thiếu nữ chiếm hết lòng sùng kính của trại giam.

“Sà lim 18’’là một cô bé nhỏ nhắn xinh xắn, cặp mắt sáng, môi tươi, mặt trái soan, nước da nhỏ mịn. Anh em tới tấp chạy lại để ngó qua lỗ cửa hỏi thăm tin tức, thiếu nữ tươi cười yên lặng. Lần trước nàng đã trốn trại sau bị bắt lại, các anh em cách mệnh cho quà bánh, nàng đã ôn tồn nói chuyện với mọi người. Khanh hay đến thăm nàng, chàng tưởng mình được nàng lưu ý nhất. Bóng giai nhân chỉ chỉ thoáng hiện nơi trại giam như tia nắng hé ra giữa khoảng trời mây đen. Khanh thở dài nghĩ thầm ước gì ta gặp nàng lần nữa rồi bị tù chung thân cũng cam! .

Đó chỉ là chuyện hồi tưởng, xe đã tới Vụ Bản, tại đây chiều chiều nhìn dẫy Hoành Sơn chàng ta mơ mộng tới hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại. Trại giam cho phép một cô gái gánh hàng tạp hóa vào sân trại bán, Khanh nhìn cô bán hàng mơ tưởng tới bóng giai nhân. “ 

Bằng lối hành văn bay bướm, điêu luyện, Khái Hưng đã tạo lên một bầu không khí thật lãng mạn trong một đề tài chính trị, cách mệnh. Một giai nhân xinh đẹp, người nhỏ bé, đôi mắt sáng, cặp môi tươi, mặt trái soan mà các anh em tù thường gọi là ‘Sà Lim 18’, nhưng nàng còn đẹp tuyệt vời hơn nữa vì nàng làm cách mạng cứu quốc vào tù ra khám ba lần, đã được sự sùng kính của toàn thể trại giam.

Khái Hưng tạo nên một chàng cách mạng dạt dào tình cảm, ông cũng tạo nên một không khí lãng mạn tuyệt vời. Chàng cách mạng chăm chỉ đến thăm giai nhân, tặng quà bánh và tưởng là được nàng lưu ý nhất! giữa cảnh núi đồi trùng điệp chàng cứ ngồi thẩn thơ mỗi chiều để gửi lòng yêu tới tận phương xa, mơ màng nghĩ tới người gặp gỡ trong những ngày ngắn ngủi và không bao giờ quên được nàng, đó là hình ảnh bất diệt của giai nhân không bao giờ trở lại, Khái Hưng kết luận. 

“Rồi đây, những lúc cách mệnh tha thiết gắt gao lên tiếng gọi, y  sẽ cảm thấy lòng tự tin, lên đường xông pha trong gian khổ với bóng giai nhân huyền ảo gặp gỡ giữa cảnh lao tù”. 

 

LỜI NGUYỀN 

Xin sơ lược 

“Đồn Vụ Bản chót vót trên ngọn đồi cao. Khanh , tù nhân chính  trị, một hôm ra suối lấy nước, gặp người lính kèn, hắn ta bảo ‘Phải , một lời nguyền! !

Trong đám dân kinh bên phố, lính bên đồn, anh em tù chính trị trong trại thỉnh thoảng lại có người giã từ cõi nhân gian về miền cực lạc. Khanh cảm thấy sự việc như có liên quan đến lời nguyền ghê gớm của người xưa. Một hôm người lính kể lại cho chàng chuyện ấy.

Đồn Vụ Bản là một trong những đồn binh kiên cố theo chương trình thống trị, nó án ngữ đường Nho Quan – Ninh Bình, nó cũng có thể kiểm soát hành động của những ông quan lang có oai quyền. Vì vậy viên quản mà người Pháp cho về coi đồn là người thật hách. Trước đây có một ông quản tên Tăng, được giữ chức trưởng đồn, ông hách dịch bệ vệ, nằm giường Hồng Kông, ăn cơm tây. Mỗi lần sang phố ông đeo huy chương đầy ngực. Tay cầm roi da, dắt chó tây to kếch sù. Tụi trẻ thường bảo:  -Quan Quản!

Quan là chúa tể vùng này: Nào thu thuế chợ, thuế đò, thuế thân. Dần dần thành ‘quan đồn’ và thành ‘cụ lớn’. Bao nhiêu người lễ lạc quà cáp cho cụ. Nhậm chức mới hai tháng, Cụ Lớn lấy cô nàng hầu người Kinh, con thương gia và hai nàng hầu người Mường nữa.

Quan thường ‘nổ’ với mọi người là Quan và và Bà Lớn đều là con nhà thế gia đại tộc, cụ thân sinh ra Quan và Bà Lớn toàn là Tổng đốc, Tuần Phủ  cả! . Có lần ông Quản bịa ra một lô truyện tả cái gia thế nhà mình: Cụ Cố, quan lớn về hưu thích chè tầu, tổ tôm, còn Bà Lớn trông coi mấy trăm mẫu ruộng!

Thế rồi một buổi sáng, một ông già tóc hoa râm và người đàn bà trạc ngoài ba mươi. Cả hai đều quê mùa cục mịch: ông lão quần nâu sắn đến đầu gối, người đàn bà mặc áo tứ thân mầu nâu, váy chồi đen. Họ hỏi đường sang đồn, qua phà, sang sông, leo dốc, lên đồi. Khi tới nơi cuối dốc, người lính canh quát:

-Hai người nhà quê hỏi ai?

-Chúng tôi vào thăm ông Quản!

-Vào hầu quan có việc gì?

-Bẩm chúng tôi là người nhà! 

Người lính cho người vào trình quan rồi hỏi. 

-Có họ hàng thế nào với quan?

-Ông cụ sinh ra quan và vợ quan!

Lúc ấy ông Quản đứng trong sân bảo:

-Đuổi cổ chúng nó ra! 

Nhân lúc cổng đồn mở, ông cụ và người đàn bà xông vào sân kêu:

-Tăng, Anh Tăng! 

Ông Quản quát mắng:

-Đồ nhà quê! bay đâu tống cổ chúng nó ra! 

Bọn lính tống cổ hai người ra. Ông lão và con dâu lẳng lặng ra về, đến bờ sông bên giòng nước chảy ào ào, ông lão thốt lời thề nguyền độc địa:

“Từ nay đứa nào còn lên đây thăm chồng con thì chết như thế này”. 

Rồi ông nhảy xuống sông tự tử. Từ đó lời nguyền vẫn thiêng lắm, những ai lên đây thăm chồng, thăm con về ốm đau nặng rồi chết.”

Một ông quản lỡ lời ‘nổ zăng miểng’ với mọi người về gia thế nhà mình, cháy nhà ra mặt chuột, khi ông cụ và mẹ đĩ lên thăm thì xấu hổ sai lính đuổi không nhận là bà con.

Theo ông Trần Ngọc, trong cuốn Kỷ Vật Đầu Tay Và Cuối Cùng, Khái Hưng viết truyện này để diễn tả cái chủ trương ‘vô gia đình’ của những người độc quyền yêu nước, từ chối bà con ruột thịt, và như vậy tác giả đã nguyền không bao giờ còn liên hệ với các ‘đồng chóe’ vô gia đình vô tổ quốc ấy.

Một truyện ngắn gọn đơn sơ mang mầu sắc huyền bí ghê rợn, ý nghĩa thật là sâu sắc, nó thể hiện cái phi nhân bản của những người tự cho là vị tha yêu nước. Độc giả như thấy hiện ra một vùng rừng thiêng nước độc với một lời nguyền ghê gớm. 

HỔ 

Xin sơ lược

“Bảy Hai, người lính gác trên chòi cao một trại tù. Hắn đã hai lần đánh mõ tre đáp lại tiếng khánh sắt cầm canh bên  đồn. Hắn buồn ngủ muốn ríu mắt mà không dám ngủ vì sợ đội Giới phạt. Đội Giới thù ghét Bảy hai vì một truyện nhỏ tại sòng bài tối qua. 

Tối nay, dưới ánh trăng mờ, Bảy Hai ngắm cảnh để quên đi giấc ngủ, hắn chợp mắt được vài phút rồi choàng tỉnh, linh tính báo cho biết có chuyện gì ghê gớm. Hắn trông thấy một vật gì như con bò đang tiến về phía mình , tới lưng chừng đồi nó dừng lại rẽ sang phía nam, một lúc sau nó tiến về phía Bảy Hai, hắn nhận rõ đó là con hổ lực lưỡng, to béo đang  từ từ tiến lại. Bẩy Hai hồn vía lên mây xanh không dám động tịnh. Con hổ lực lưỡng tới chân thang chòi dừng lại rồi nằm xuống, Bảy Hai không dám cựa quậy, hắn chỉ sợ nó vùng dậy chồm lên đạp đổ cột chân chòi gác  làm thịt mình, hắn định bắn mà không dám, chỉ sợ trật hay bắn bị thương nó thì vô cùng nguy hiểm, hắn biết rằng nó chỉ chống lại người, tấn công người khi có ý định giết nó. 

Tiếng khánh bên đồn và tiếng mõ tre các chòi canh vang lên, Bảy không dám đánh, hắn nghĩ nếu mai có bị phạt cũng ráng chịu vì nếu gây tiếng động bây giờ là toi mạng. Không nghe thấy tiếng mõ của Bẩy, Đội Giới bèn lại chòi canh của hắn để rình bắt quả tang Bẩy ngủ gục trong canh gác để phạt trả thù. Bẩy Hai bắt đầu lo cho tính mạng của Đội Giới, hắn vụt quên mối thù để nghĩ tới tai họa do một loài khác tàn ác gây ra. Lòng nhân đạo tự nhiên sống dậy, hắn nghĩ tới cách cứu mạng một người, tiếng chân người nghe lạo xạo, con hổ vẫn nằm im lìm. Bẩy Hai hoảng hốt thét lớn.

-Đứng lại, có hổ đấy! có hổ! con hổ chạy biến mất, người cũng chạy biến đi.” 

Khái Hưng lấy truyện người gác tù (lính Tây) có tình thương đồng bào để ám chỉ tình thương của người quốc gia đối với kẻ thù khi tai họa sảy ra. Dù là người mình thù ghét, ta vẫn có thể quên đi mối hận để cứu họ vì tình đồng loại, cái mà ông gọi là lòng trắc ẩn, tình nhân đạo.

“Mối thù y vụt quên để chỉ nghĩ tới tai nạn xảy đến cho kẻ đồng loại do một loài khác, một loài tàn ác gây lên. Lòng trắc ẩn, tình nhân đạo đến với y một cách tự nhiên, một cách ngẫu nhiên .Y không lý luận nữa, không cân nhắc nữa , chỉ tìm cách cứu sống một con người thoát khỏi nanh vuốt một con vật”. 

Thánh Ghandi đã nói chúng ta có thể chiến thắng bằng tình thương.

NHUNG

Xin sơ lược. 

Sinh là con trai của bà Đồ, một thanh niên hư hỏng, rượu chè, cờ bạc. Là con một ông Cử, chị em bà đều lấy chồng con nhà nho, nhưng chị bà lấy ông Thượng Nguyễn đỗ đạt làm quan, còn chồng bà chỉ là ông đồ nghèo kiết. Chị bà có giúp bà nhiều phen, nhận nuôi Sinh cho cùng đi học với con mình, rồi chồng bà chết, chị bà chết, ông Thượng Nguyễn (anh rể) lấy vợ khác, bà vợ này có con gái tên Nhung. Ông Thượng bạc đãi Sinh nên anh bỏ về với mẹ, đã hai mươi tuổi, anh học không hay, nghề không có, cờ bạc phá của, khiến gia đình ngày càng thiếu hụt. 

Sinh oán thù ông Thượng và gia đình ông. Hồi chị của mẹ hắn ( bà Cả Thượng) còn sống, bà coi hắn như con, mua sắm đủ thứ, và nay bị đối xử bạc bẽo, hắn cho là hai mẹ con Nhung gây lên rồi oán ghét gia đình ông Thượng, hắn oán ghét tất cả xã hội quan lại, hào phú, trưởng giả, hắn tìm ra đủ tội lỗi đê tiện, xấu xa. Sinh có quan niệm về xã hội loài người: Loài người chia làm hai giai cấp: Giai cấp nhiều quyền lợi và giai cấp không có quyền lợi. Hắn nghĩ tới cách giải quyết vấn đề cho những người ở giai cấp thua thiệt; hắn lười biếng, hư hỏng nhưng chỉ muốn cải tạo xã hội, hắn cương quyết phá hoại phe địch, hắn đi nói xấu bọn nhà giầu như ông Thượng, người đã nuôi hắn, cho hắn nếm mùi phú quí rồi ném hắn xuống đất đen cho thấm thía chênh lệch bất công, hắn tuyên truyền bôi nhọ bọn phú hào rằng chúng đã xây đắp hạnh phúc trên xương máu quần chúng. 

Khi ấy xẩy ra vụ cướp nhà ông Thượng Nguyễn, người ta đoán chắc Sinh có dính líu vụ này vì dinh cơ kiên cố rộng rãi ấy nếu không có người thuộc đường như Sinh chỉ lối thì cướp không thể vào được. Sinh bị bắt, người làng vui cười, họ cho là hắn đáng tội vì hắn căm thù gia đình ông Thượng ghê gớm. Hôm cướp vào nhà, ông bà Thượng đi vắng, người nhà chạy trốn thoát, duy chỉ có Nhung bị bắt. Về sau bọn cướp bị quan nha bắt, người ta kêu Nhung đến nhận diện chúng. Nàng nhận diện hết mọi tên trừ Sinh , có người nghĩ Sinh vô tội, có người cho là Nhung thương hại hắn vì chính bọn cướp cũng khai Sinh là đồng lõa.

Vụ cướp bẵng đi một thời gian, người ta lại bàn tán đến chuyện mới sảy ra: Sinh tự tử trong buồng để lại bức thư tuyệt mệnh gửi Nhung.

B… ngày 1940  

Em Nhung. 

Đây là một bức thư dài dòng văn tự, Sinh cho biết mẹ hắn là em bà Thượng cả (mẹ Nhung là bà hai) không phải là gì Nhung, hắn và nàng không có họ hàng với nhau, ví thử có lấy Nhung làm vợ cũng không sao. Từ ngày được thả về, trí óc hắn rối ren, nay quyết định chết nên rất bình tĩnh, khi Nhung nhận thư này Sinh đã là cái xác không hồn. 

Lúc thì hắn xưng anh, lúc thì hắn xưng em, .  . hắn gửi lời vĩnh biệt, lời tạ lỗi vì đã xúc phạm Nhung trong cái đêm lịch sử ấy, Sinh thú tội với Nhung ví như một tín đồ Thiên Chúa xưng tội để trút gánh nặng trong lòng, hắn nói tội dắt cướp vào nhà bác và làm nhục một thiếu nữ chưa đáng kể. Hắn thú một tội tầy trời: thuở nhỏ được hai bác dậy dỗ nuôi nấng, sống trong cảnh giầu sang không bao giờ Sinh  thương người nghèo, có một điều mà Nhung không ngờ là hắn yêu Nhung thầm lén bao lâu nay. Nhung thì lãnh đạm, mẹ Nhung khinh rẻ hắn (bà này là bà hai, không bà con với Sinh) bởi thế hắn bỏ về ở với bà cụ, từ chỗ tư thù cá nhân biến thành thù chung của cả xã hội bị bóc lột, Sinh chỉ ao ước được trả thù cho giai cấp bị hất hủi như hắn. 

Chủ ý của Sinh là giết hai bác, làm ô nhục Nhung, tình yêu trong lòng hắn vẫn còn, khi bị bắt giam Sinh đã hối hận trước khi Nhung nhận diện, hắn nghĩ tại sao Nhung không để cho hắn chịu hình phạt lại cứu vớt hắn ra khỏi ngục thất làm chi, đối với Nhung hắn đời đời là tên khốn nạn và tự khép mình vào án tử hình.”

Bằng một truyện tình bi thảm, lãng mạn tuyệt vời, Khái Hưng đã diễn tả cái thô bạo bất nhân của đấu tranh giai cấp và hận thù giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải là một lối thoát để giải quyết bất công xã hội mà chỉ là biểu hiện của thú tính con người để trả thù đời bằng bạo lực đê hèn. Sinh một tên vô lại, cặn bã của xã hội, từ hận thù cá nhân đưa tới hận thù xã hội, hắn đã dùng thủ đoạn tàn bạo để giải quyết hận thù xã hội. Đó chỉ là phá hoại xã hội chứ không phải xây dựng cho xã hội tốt đẹp hơn lên, nhưng Sinh còn biết xấu hổ về cái hành động đê hèn của mình.

Đề tài của Khái Hưng trong các tác phẩm cuối cùng của ông thường xoay quanh trại tù Vụ Bản, đó là những áng văn tuyệt tác cuối cùng của một nhà cách mạng đáng kính, một chiến sĩ quốc gia yêu nước, những áng văn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học mới nước nhà.

Trọng Đạt

*** Tống Biệt Hành

Thâm Tâm

thu cay

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng…

– Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say…

Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ngừng ở ven trời nghe tiếng khóc
Tiếng đời xô động, tiếng lòng câm.[1]

Thâm Tâm
(1940)

*** Trái Tình Yêu Cứ Như Thế Xa Dần

 

Trương Thị Thanh Tâm 

00tim2
Ta trôi giạt giữa một chiều bão tố 
Trái tim yêu biết đau ngắn hay dài 
Lời thơ buồn dào dạt nhớ người đi 
Xa thăm thẳm mà sao như gần thế 
Đời trôi nổi nên tình yêu đến muộn 
Hay tơ duyên chưa đến lúc chín muồi 
Thôi thì để mặc tình quên hay nhớ 
Trái sầu đâu còn đắng lúc mềm môi 
Ngày yêu nhau do lời thơ kết trái 
Mộng mơ nhiều những tưởng được bền lâu 
Có ngờ đâu, duyên trái mùa nên lỡ 
Đếm giọt sầu chìm lắng những hương yêu 
Từ dạo đó ta nghe sầu lên mắt 
Những bủa vây, qua những áng thơ buồn 
Làm sao giữ khi đời nhiều hương lạ!
Trái tình yêu cứ như thế xa dần  
Trương Thị Thanh Tâm 
     Mytho 

*** Nỗi Đau Muộn Màng

Nhật Quang

0nhatquang-anh

Lá vàng
Gió cuốn xa bay
Thu rơi ngả bóng
Lắt lay lối chiều
Xanh rêu phủ dấu chân xiêu
Sầu riêng trăn trở
Bao điều…khát mong
Ta ngồi
Tựa vách thinh không
Nghe mùa trăng úa
Mênh mông…cõi mình
Tim đau se thắt mộng tình
Ấp ôm mùa nhớ, bóng hình
Dỗ…quên
Phố khuya
Lạc bước sương đêm
Nghe da diết nỗi buồn
Hiên gió lùa
Đêm côi, trăng khuyết
Mấy mùa?
Cô miên ảo mộng…thêu thùa
Dối gian
Trớ trêu phận số dở dang
Khóc, cười
Duyên kiếp đa mang
Trĩu sầu
Em, ta khắc khoải niềm đau
Hỏi trời
Mai có kiếp sau chung đường?

Nhật Quang
(Sài Gòn)

*** ÔI CHAO GIỌNG HUẾ !

đặng lệ khánh

1aodaibuon

      

Mình người Huế mà đi nơi lạ, nghe được giọng Huế mô đó là rán ngước mắt, quay đầu tìm cho kỳ được chủ nhân của giọng nớ đang đứng ở mô, có quen chút mô không. Người Huế qua Mỹ hà rầm, mô phải ít. Cứ mỗi lần nghe giọng Huế thì quay đầu tìm, chẳng mấy lúc mà chóng mặt, nếu không gãy cổ. Nhưng mà lạ quá, hễ nghe được thì tự nhiên trong lòng như có một chút dậy sóng, a, bên cạnh mình đang có một ai đó đang tha hương lạc bước từ xứ mình đây.

Hôm kia đi ăn cưới, hai bên dâu rể đều là người Huế. Ông MC người Huế, ông ca sĩ chính cũng người Huế. Khi ông ca sĩ nói, một cô trong bàn phê bình : ” Ông ni nói tiếng Huế chi lạ rứa, ông nói tiếng chi a! “, còn ông xã thì nói: ” Nói tiếng Huế gì nghe nặng wá, hổng hiểu gì cả .”  K thì nghe hiểu tất.

Vậy thì giọng Huế ra răng mới đúng tiêu chuẩn ? Cô bé phê bình giọng Huế của chàng ca sĩ thì vừa rời Huế năm năm, ông xã K là Huế lai căng, sinh ở cao nguyên và lớn lên ở miền Nam, họ có đôi tai khác hẳn K chăng ? K không phân biệt được âm sắc trong giọng nói chăng ? Hay là K vì lòng thương Huế, cái xứ mình bỏ mà đi từ xưa nên rộng rãi hơn với cái giọng thân thương nớ, nghe bằng trái tim hơn là bằng đôi tai?

Giọng Huế khác với giọng Hà Nội, giọng Sài Gòn ra răng mà ông Hà Huyền Chi đi giữa chợ Mỹ, chắc chắn là nghe rất nhiều người nói tiếng Việt, mà chỉ khi nghe giọng Huế mới chiêng trống dậy hồn quê, mới khơi nỗi sầu xa xứ chất ngất trong lòng, dù ông là dân Bắc chính cống ? Có phải chăng khi đã nghe một giọng Huế thỏ thẻ bên tai, không chỉ là lời đi vào hồn người, mà cái giọng đã đậu trong tim, đâm cành trẫy lá ?

…Giọng Huế bỗng nghe từ chợ Mỹ
Mà chiêng mà trống dậy hồn quê
Hương cau màu trúc xanh thôn Vỹ
Áo mới xênh xang giữa hội hè

Tôi bước bên nàng không dám thở
Không gian đầy Huế núi cùng sông
Tóc ai thả gió hồn tôi mở
Dấu kín trong tim những nụ hồng

Hà Huyền Chi ( Huế đầy)

Giọng Huế quý giá vô cùng làm cho Mạ đã lưu lạc bao nhiêu năm, mất mát đủ thứ mà khư khư ôm lấy giọng Huế ướt rượt, nhất định không đánh đổi, không pha trộn, dù đời sống Mạ như cuồng lưu tràn bờ biết bao lần. Lúc lắng xuống, giọng Mạ như giòng Hương sau những cơn cuồng nộ, lại lặng lờ xanh trong chảy xuôi ra biển, êm ái nghe giọng hò thoang thoảng xa đưa.

…Tuổi con gái Mạ từng uống nước sông
Đến bây giờ giọng Huế nghe còn ướt
Giọng Huế nghe còn một chút gì trong
Bao đắng cay pha vào chưa đục được …

Đoàn Vị Thượng ( Giọng Huế của Mạ)

Giọng Huế ăn sâu trong tâm người con Huế, đi đến bờ bến nào cũng thương nhớ không nguôi. Chỉ cần nghe tiếng thỏ thẻ của một người bạn Huế là gợi nhớ đến một thời thơ ấu có tiếng Mạ ru hời bên tai, và cảm thấy gần gũi ngay, như gần gũi với thời gian đã qua, đã mất.

…Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không hối tiếc chi mô

Tô Kiều Ngân ( Giọng Huế)

Giọng Huế của gái Huế dịu dàng, nhiều người công nhận. Nhưng giọng Huế con trai Huế thì đang còn được bàn cãi. Nhiều người cho rằng giọng trai Huế không hùng hồn, không kêu gọi được người khi làm chuyện lớn. Điều ấy thực chăng ? Không phải đâu. Chỉ tại người Nam và người Bắc không muốn sửa đổi đôi tai của họ để nghe một âm sắc trầm trầm bằng bằng. Không sửa được, họ không hiểu thì họ không nghe. Nên để được người nghe, người Huế đổi giọng. Người Nam, người Bắc không ai đổi giọng của họ, mà người Huế thì đi đến đâu pha giọng đến đó. Chính vì vậy mà người khác địa phương không cần phải lắng nghe, sửa tai mà nghe. Hai người Huế tha phương gặp nhau, phải một thời gian lâu mới biết là họ cùng người Huế cả vì họ nói giọng Bắc, giọng Nam. Khi biết ra, cả hai cùng hân hoan, tự hào nói : Rứa hả, em cũng Huế đây nì.

Ngày K mới theo chồng từ Huế vào Sài Gòn, K ở chung với chị chồng. Bà đi làm suốt ngày. Bà có một người giúp việc, bà Tư, người Kiên Giang. Trong những ngày đầu sống trong căn gác xép xa lạ, chồng theo tàu lênh đênh, chung quanh không người thân quen, K chỉ có mỗi bà giúp việc ấy để chuyện trò cho đỡ nhớ nhà. Mà nói chuyện với Bà như nói chuyện với người điếc. Bà nói K còn nghe được chứ K nói thì bà hoàn toàn mù tịt, không hiểu K nói gì. Nhờ bà làm gì rồi thì cũng tự mình đi làm lấy vì bà ư hử mà không làm, chỉ vì bà không biết K muốn gì. Bà than : ” Cô nói tiếng ngoại guấc, hông nói tiếng Yiệt “.

Đối với người Nam, ai không nói giọng Nam là không nói tiếng Việt.

Như vậy, giữa tiếng và giọng, có một sự sai biệt khá lớn. Chúng ta hay dùng lẫn lộn. Khi nói ” nói tiếng Huế ” hay ” nói giọng Huế ” , thì ai cũng hiểu ngay là người ấy đang dùng âm thanh trọ trẹ để phát ngôn. Nhưng khi nói theo ông Võ Hương An ” Tiếng Huế, một ngoại ngữ “, thì rõ ràng tiếng không còn là giọng Huế nữa. Bạn có thể nói giọng Huế, nhưng giọng Huế nớ sẽ không là giọng Huế rặt nếu bạn không dùng mô tê răng rứa. Nghe một giọng Huế thỏ thẻ mà trong câu toàn là thế là thế nào, thưa vâng, không sao đâu ạ thì nghe nó … kỳ kỳ như ăn cơm hến với dưa muối, cà pháo. Huế không thưa vâng ạ. Huế chỉ dạ nhẹ nhàng. Cái tiếng dạ của mấy cô gái Huế làm chết biết bao chàng trai Huế cũng như không Huế. Huế không nói thế là thế nào, Huế nói : Dạ, rứa là răng ? Mấy chữ mô tê răng rứa ni phải đi với giọng Huế, chứ còn đi với giọng Sài Gòn, với giọng Hà Nội thì dĩ nhiên chỉ là nói đùa cho vui, hoặc đang lấy lòng một người Huế nào đấy thôi, hoặc là một dấu vết cho thấy người nói đã một thời lăn lóc trên đất người, đã lậm tiếng người, đã mất gốc không nhiều thì ít. Như K đây. Đau lòng mà nhận ra như rứa.

Người Huế không kêu ” cô “, người Huế kêu ” O “.
Người Huế không kêu ” Bà “, người Huế thưa ” Mệ “
Người Huế không “nói “, người Huế “noái “
Người Huế không “mắc cỡ “, người Huế “dị òm”,
Người Huế không hỏi: “Sao vậy? “, người Huế hỏi “Răng rứa? “
Người Huế không nói ” Đẹp ghê “, người Huế nói ” Đẹp dễ sợ. “

Người Huế cái chi cũng kêu lên “Dễ sợ !! “, dữ dễ sợ, hiền dễ sợ, buồn dễ sợ, vui dễ sợ, xấu dễ sợ, thương dễ sợ, ghét dễ sợ.

K đang trở lại với Huế, đang nói lại cái giọng mà thuở xưa đã từng thỏ thẻ bên tai ai, đang tìm học lại tiếng Huế, một ngôn ngữ tuy đang dần dần bị mai một vì những đợt sóng người từ các nơi trôi dạt đến. Những người mới này mang theo họ cái giọng, cái tiếng từ quê cha đất tổ, hoà lẫn với tiếng và giọng Huế, tìm cách đồng hoá nó, như xưa kia người Việt đồng hoá người Chiêm.

Những người ở các vùng khác có tha thiết nhớ và gìn giữ tiếng và giọng của họ không hè ?

Hồi còn đôi tám, đi nghỉ hè trọ ở nhà một người bạn gái tại Sài Gòn. Nhà bạn có hai ông anh lớn hơn chừng ba bốn tuổi. Cả bọn họp thành một nhóm đi chơi với nhau vui vẻ. Một buổi trưa, sau khi đi chơi đâu đó về, cả 4 nằm ngang trên chiếc giường lớn nói chuyện bâng quơ. Một trong hai anh nằm kề K, lấy mái tóc dài của K đắp ngang mặt mình, hỏi :

” Tại sao người Huế khi nói gì cũng nói ” dễ sợ ” vậy K ? “
” K không biết. “
” Vậy thì nếu nói ‘ Dễ thương dễ sợ ‘ có đúng không ? “
” Không biết. “

Đặng Lệ Khánh

*** Chiếc Áo Dài

Lệ Hoa Trần

ao dai 6
Phụ nữ nào cũng đẹp
Đàn bà nào cũng xinh
Nhất là khi trên mình
Mặc chiếc áo dài “Quê……”
Đầu thả mái tóc thề
Tha thướt trên đường chiều
Đi bên người mình yêu
Vào những ngày chủ nhật
Cùng bao người tất bật
Dự lễ hội mùa xuân
Theo mẹ đến chùa gần
Viếng nhà thờ lạy chúa
Chiếc áo dài xanh lúa
Thể hiện tuổi thanh xuân
Chiếc áo dài xám vừng
Hiện thân người mẹ Việt.
Lệ Hoa Trần
29-07-2018

*** Nhớ Lắm Chứ

Thủy Điền

aodaitrang 1

Nhớ lắm chứ, buổi trưa năm ấy
Nơi sân trường còn chỉ đôi ta
Đôi mắt em- mắt anh lệ nhòa
Khi phải nói những lời chia cách
Nhớ lắm chứ, những lời em trách
Thật ngọt ngào, nhưng thấm đậm sâu
Nhưng làm trai, anh biết thế nào
Đành câm lặng ra đi lặng lẽ
Nhớ lắm chứ, lời em khe khẽ
Mai nhớ về thăm lại quê xưa
Và, thăm em cô gái mới vừa
Được, rồi mất chỉ trong khoảnh khắc
Nhớ lắm chứ, những lời cân nhắc
Trên đường đời vạn lắm chông gai
Có thương người….đừng có yêu ai
Em đau khổ suốt đời anh nhé
Nhớ lắm chứ….giờ em đơn lẻ
Ngồi một mình nhìn lá thu rơi
Lòng luôn mong hình bóng một người
Quây trở lại bên người yêu nhỏ.
Thủy Điền
19-09-2018

*** thao chiêm

Hoàng Xuân Sơn

cropped-thu-4.jpg

mùa se se lạnh
mình thè thẹ đi
quanh cơn mộng nhỏ
ôm tiếng thầm thì

mình nghe giọt sương
áp vào thành kính
một chút môi son
một chút má hường

đôi chân của gió
đượm mùi nắng trong
mình nghe hoa cỏ
thơm một cánh đồng

nghe chút cựa mình
bài thơ động mạch
tìm chút vô minh
trong từng ngõ ngách

khúc hát buổi chiều
vàng trên lưng nhạc
nghe mình đương yêu
một niềm khao khát

đừng kéo dài ra
sợi tơ vừa mớm
hơi thở hít hà
thao chiêm hò hẹn

cùng tiếng chim kêu
giữa màu thu lạ
làm sao níu với
một thời đang qua . . .

hoàng xuân sơn
mười. tháng chín.  mười tám

*** TÌNH NỒNG SAY

TÌNH NỒNG SAY

nhạc : khê kinh kha

tiếng hát : Ý Lan

TÌNH NỒNG SAY

vươn tay anh hái trăng vàng
cài lên (cài lên) mái tóc cho nàng (là nàng) thêm duyên
yêu em anh đón mây ngàn
anh đem (là đem) dâng giữa tim nàng (là) tình nồng say
giăng tay anh hứng (ánh) mặt trời
tô môi (là môi) em thắm cho đời (là đời) thêm hương
à ơi anh đã (anh đã) yêu nàng
từ nay thề ước mặn nồng lứa đôi

yêu em, yêu cả đất trời
yêu em, yêu cả cuộc đời
yêu nhau em hỡi một đời (là đời) có nhau
có nhau giữa chốn đường trần
có yêu thương trong trái tim nồng
có trăm năm trong nghĩa vợ chồng em ơi

yêu em chia xẻ trần gian
dù bao (dù bao) mưa nắng một lòng (là lòng) thủy chung
yêu em anh hiến dâng nàng
con tim (là tim) son sắt dâng nàng là tình trăm năm
tình tang con bướm qua mành
ngàn năm sông núi, trọn tình lứa đôi

khê Kinh Kha

*** NHỮNG NGƯỜI ANH EM BỊ “LÃNG QUÊN”

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Huỳnh Thục Vy Hôm nay, tôi viết những dòng này trong bối cảnh đất nước nằm trước nguy cơ Bắc thuộc, hàng ngàn ngư dân khốn đốn vì Formosa, hàng chục nhà hoạt động nhân quyền tên tuổi đang trong … Tiếp tục đọc

*** Có thực mới vực được đạo

Thư viện của bài

This gallery contains 1 photo.

Nguyễn Thị Chân Quỳnh Tôi thích ăn ngon. Ngày Tết đương nhiên tôi bàn chuyện “ăn” vì người Việt Nam chỉ “mừng Xuân” chứ không “mừng Tết” mà “ăn Tết”.Nói chuyện ăn ngon tôi nghĩ đến Pháp trước bỏi tôi … Tiếp tục đọc

*** người. và việc

Hoàng xuân sơn

K núp

nấp. hay núp
rõ ràng là ấp [trứng]
úp thúng voi
to đùng làm răng che được
trứng nở ra voi
con voi có vòi chúng bảo         ậy ậy. của anh hùng kờ núp
dựng cây khơ nia rồi châm lửa đốt
cháy phừng phừng
cỡ đuốc sống lê văn tám
giờ còn để râu làm răng nấ(ú)p đặng
ba lăng nhăng lăng miếu hôi rình
của

đọc

Dew Photographs 4đọc ông vê tưởng bà về
bà mụ vườn ổ lót
tưng
tửng
từng tưng
có cái hay nhộn nhạo
răng cỏ tu từ
ép xác trong chữ
nghệ thuật bắp nếp đè lên tranh
sét đánh thành thử
người con gái tẻ làm hai khuôn diện
diện đồ

 nạn đói

7:00 giờ chấp nhận thức giấc nằm
nướng
ở địa vị củ khoai
mập mẫy năm này tháng nọ
ựa hơi
ai mớm cho bình minh nở toàn bông thẫm tối
thơ phú gì bụng sôi
ùng ục
lép kẹp nằm nướng mình
tội thằng cu không có cái
ăn

hoàng xuân sơn
22 tháng 8 mười tám