xuân tình

 Hoàng xuân sơn

hoa_hong_cau_vong_5_ejcc bán cầu. một nửa mặt em
nửa kia tôi đến
lạ miền thu dung
những con sông chẩy kỳ cùng
lối đi cỏ muộn
về chung lữ trình
lên đồi trải nghiệm phong linh
nghe xanh lễ nhạc                  tang             tình
dao ca
chào em. một nốt hương òa
dưới chân. kín.  vỡ sương sa
lục hồng
giữ đời phi lộ không không
là mình có được tang bồng
thuỷ
ch0..ung

 hoàng xuân sơn
tháng 4/2018

Đăng tải tại tho | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

*** Trả Lời Một Câu Hỏi

Trương Thị Thanh Tâm 

            ***
1anhveLàm sao quên được cuộc tình!
Làm sao không nhớ người mình từng yêu 
Làm sao xoá được tình chiều 
Một khi tim đã có nhiều xuyến xao 
Tình đâu là mãi chiêm bao 
Tay trong tay, nụ hôn sao thật gần 
Làm sao tránh được nụ hôn!
Khi tình đã đến, một lần trao nhau 
Nếm vào mới biết tình đau 
Dỡ  dang mới biết cái điều…đến sau 
Hoàng hôn tóc đã phai màu 
Đâu còn say đắm, thuở nào còn xanh 
Tuổi chiều như một bức tranh 
Chỉ nhìn và ngắm, chở tình được đâu!?
Cớ sao cứ mãi ưu sầu 
Không quên cứ nhớ, mà đau một mình!
              Trương Thị Thanh Tâm 
                          Mytho
Đăng tải tại tho | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

*** Ý Tưởng về Thi Ca

Chân Phương tuyển dịch

hoa 1 

** La poésie est une pratique de la vigilance dans tous les actes de la vie quotidienne devenus contemplation, un exercice spirituel, un sacerdoce. Michel JOURDAN

Thơ là thực tập canh thức trong mọi hành vi đời sống thường ngày đã trở thành chiêm nghiệm. Thơ là thể dục tâm linh, một chức vụ tôn nghiêm.

** La poésie, c’est la lutte contre l’usure, non seulement l’usure des mots, mais à l’occasion de cette usure-là, celle de toute notre vie. Lutte contre la routine, contre la répétition monotone de nos gestes quotidiens. Maxime ALEXANDRE

Thơ là chống trả sự xói mòn, không chỉ xói mòn từ ngữ mà thông qua đó là sự xói mòn của trọn một đời người. Chống lại tập quán, sự lặp đi lặp lại nhàm chán những động tác thường ngày của chúng ta.

** On est accoutumé à dire que le poète est le voyageur qui est parti pour le Pays des Chimères.Cela est faux. Le poète est parmi les rares voyageurs d’ici-bas qui sont partis pour le Pays de la Vie, quittant le Royaume des Apparences pour celui des Réalités spirituelles, – les seules éternelles. Le poète est un réaliste dans le plus haut sens spirituel du terme. Malcolm de CHAZAL

Người ta có thói quen cho rằng nhà thơ là lữ khách đi về Xứ Hoang Đường. Nói thế là sai. Trong đám lữ hành hiếm hoi của thế gian này, nhà thơ là kẻ đi tìm Vùng Đất của Sự Sống, rời xa Vương Quốc của Sắc Tướng để tìm Vương Quốc các Thực Thể tâm linh – duy nhất vĩnh hằng.Nhà thơ là kẻ tin vào thực hữu hiểu theo nghĩa tâm linh cao nhất của từ này.

** Un grand poète est intraduisible, et c’est là sa force. Parce qu’une fois que nous l’avons lu, et obligatoirement mal traduit, son pays d’origine nous reste interdit et ensorcelant…Poète est un homme qui nous donne envie d’aller vivre chez lui, mais chez lui n’est nulle part. Georges PERROS

Không thể dịch một nhà thơ lớn, và đấy là uy lực của thi nhân. Bởi vì sau khi chúng ta đọc ông xong và tất nhiên là đã dịch không đạt lắm, quê nhà nguyên quán của ông vẫn là nơi chốn cấm kỵ và rù quyến mãnh liệt chúng ta…Nhà thơ là kẻ khiến ta thèm muốn được sống dưới mái nhà của ông – nhưng mái nhà đó thì không biết đâu mà tìm.

** Notre Rimbaud, ce n’est pas lui, c’est nous-mêmes, voilà le vrai, c’est le vagabond que nous fumes en puissance, nous qui ne nous serons jamais évadé de la chambre bourgeoise où nous sommes né, où nous demeurons, où nous mourrons: c’est cela le mythe Rimbaud. … Que de fois l’avons-nous rencontré, ce Rimbaud-là, et nous sommes passé sur l’autre trottoir! Francois MAURIAC.

Rimbaud của chúng ta chính là ta chứ không phải hắn. Kẻ hoang đàng đích thực nằm trong khả tính của chúng ta – những người không bao giờ trốn khỏi gian phòng tư sản nơi chúng ta sinh ra, cư ngụ và chết đi: đấy là huyền thoại Rimbaud… Bao nhiêu lần không biết chúng ta đã gặp hắn, gã Rimbaud ấy, và chúng ta đã lánh qua vỉa hè bên kia đường!

** La poésie, c’est autre chose. La poésie, c’est la recherché passionnelle et comblée

De quelque chose que l’on sait ne jamais atteindre. GUILLEVIC

Thơ là cái khác. Thơ là sự truy tìm đắm đuối và toại nguyện một điều mà ta biết là sẽ chẳng bao giờ đạt được. GUILLEVIC

** Le language de la poésie ne dit pas, ne décrit pas, ne raconte pas, ne porte aucun

message: il rayonne. Jacques ANCET

Ngôn ngữ của thơ không lên tiếng, không mô tả, không trần thuật, không mang bất cứ một thông điệp nào: nó rực sáng.ANCET

** La poésie n’est pas de la littérature. La poésie est révélation. Elle est révélation car ce

qui n’existe pas, c’est l’inconnu. GAMONEDA

Thơ không phải là văn chương. Thơ là khải ngộ… Khải ngộ bởi vì cái không hiện hữu là điều bất khả tri. GAMONEDA

** Rien ne vaut d’être dit en poésie que l’indicible: c’est pourquoi l’on compte beaucoup

sur ce qui se passé entre les lignes. Pierre REVERDY

Trong thơ chỉ có vô ngôn là điều đáng nói lên: vì vậy ta chú trọng đến những gì nằm giữa các dòng chữ. REVERDY

** La poésie est une solitude, et nous sommes des moines qui échangeons des silences.

Jean COCTEAU

Thơ là nỗi cô độc, và chúng ta là những tu sĩ trao đổi im lặng với nhau. COCTEAU

** De même que les Sociétés commencent par la poésie et finissent par elle, l’homme est recu dans ses bras et près de la tombe lui consacre ses derniers efforts et en recoit les dernières consolations et ses emotions les plus douces. Alfred de VIGNY

Cũng như các xã hội bắt đầu và kết thúc bằng thi ca – được thơ đón vào vòng tay, con người khi gần xuống mồ cống hiến nỗ lực cuối cùng cho thi ca và nhận trở lại những an ủi chung cuộc cùng các xúc cảm êm dịu nhất.

** LE POÈTE, le véritable grand poète, c’est celui qui écrit non seulement des poèmes, mais l’évangile avec sa vie.

C’est celui qui brille, non comme un volcan dévorant de son feu lui-même et ceux qui l’entourent, mais comme un diamant qui concentre le plus de lumière divine – il est dur, mais ne fond que dans le plus pur feu électrique du sacrifice.

C’est celui qui ne méprise que la réalité corrompue, il est saint parmi les pécheurs, noble parmi les lâches, libre parmi les esclaves.

C’est celui qui après chaque orage se relève plus fort et après chaque larme, comme après la rosée, se redresse plus sain. – Tel est LE POÈTE !
Kornel UJEJSKI (nhà thơ Balan 1823-1897)

THI NHÂN, nhà thơ lớn thứ thiệt, là kẻ không chỉ viết ra những bài thơ mà còn viết thành kinh câu chuyện đời mình.

Đó là kẻ rực sáng, không như một hỏa sơn tự thiêu đốt làm cháy những người vây quanh, mà rực sáng như viên kim cương nơi ánh sáng thần linh tụ về nhiều nhất. Và cứng như kim cương, kẻ chỉ tan chảy trong ngọn lửa tinh ròng nhất của sự hy sinh.

Đó là kẻ chỉ khinh bỉ hiện thực thối nát, thánh thiện giữa bọn tội lỗi, cao cả giữa lũ hèn, tự do giữa bầy nô lệ.

Đó là kẻ sau mỗi cơn bão táp lại đứng lên cường tráng hơn trước và sau mỗi lần rơi lệ, như sau cơn mưa móc, lại bật thẳng thanh khiết hơn. – THI NHÂN là như thế đó !

(dịch để tặng các bạn thi sĩ gần xa)

Đăng tải tại Bien Soan, tho | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

*** Phạm Duy Và Tôi

pham duy va toiHoàng Lan Chi 

 

Thuở bé tôi đã yêu nhạc Phạm Duy. Có lẽ vì PHạM DUY có nhiều nhạc quê hương rất hay mà tôi thì yêu quê hương vô cùng. Tình ca của PHạM DUY cũng phong phú đa dạng.

Năm 2002 nếu tôi nhớ không  lầm, tôi viết bài Cảm nhận cho “Tình Ca”. Mục đích của tôi bấy giờ là muốn giới trẻ biết yêu quê hưong qua những nhạc phẩm của PHạM DUY hơn là nghe những loại nhạc vớ vẩn rên siết phận người hay đả kích chiến tranh. Vô tình PHạM DUY đọc được và chú làm quen tôi. Duyên văn nghệ từ đó. Sau này tôi viết thêm một số cảm nhận cho Quê Nghèo, Tình Hoài Hương…

Năm 2003, Phạm Duy về nước và đến quán nhạc Dòng Thời Gian của cô bạn tôi. Nơi đây cũng là nơi tôi gặp người đàn bà có giọng hát hay và rất giống Thái Thanh. Vào thời điểm 2003, chị đã chọn hát nhạc Phạm Duy trong lúc các nơi khác đang còn thịnh hành nhạc TCS. Từ tôi mà Phạm Duy  biết thêm chị, (Thuý Nga) và biết thêm Đào Minh, chủ quán Dòng Thời Gian. Phạm Duy  ở trọ một khách sạn trên đường Đồn Đất thì phải và bình dị với áo nâu, ngồi quán cà phê vỉa hè.

Chúng tôi có một số hình lưu niệm với PHạM DUY và gia đình ở đây. Có hôm  chúng tôi theo Phạm Duy đến nhà Lưu Trọng Văn chơi và gặp Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Tý. Duyên tình của Phạm Duy với Lưu Trọng Văn là “ Nào đâu có trăm năm mà chờ với đợi”! Nghĩa là Phạm Duy đang dùng dằng thì Lưu Trọng Văn gửi bài thơ ấy và Phạm Duy đã quyết định “Về thôi, nào có trăm năm mà chờ đợi”! Phạm Duy khi về nước năm này đã đem theo bài ” Về thôi” do Phạm Duy phổ thơ Lưu Trọng Văn cho tôi nghe.

Duy Cường, Phạm Duy, Lưu Trọng Văn-Lan Chi – hàng sau Đào Minh và Thuý Nga
Duy Quang-Phạm Duy -Lan Chi- Thuý Nga
3 người đàn bà ‘vô danh” của Phạm Duy năm 2003 ( cách gọi của Phạm Duy khi chưa về VN và gặp Thuý Nga, Đào Minh, Lan Chi )
Phạm Duy vỉa hè áo nâu giản dị khi về Việt Nam

Phạm Duy giản dị áo nâu ở quán cà phê lề đường gần khách sạn

NS Nguyễn Văn Tý- Lan Chi -Phạm Duy tại nhà Lưu Trọng văn 2003
Lan Chi -Phạm Duy- Hoạ sĩ Kim Khải- Thuý Nga

Tại quán Dòng Thời Gian của Đào Minh

Phạm Duy với cô bé từ Canada về hát Người Về
Phạm Duy với một kiến trúc sư yêu nhạc Phạm Duy
Phạm Duy với ca sĩ Huy Tâm
Phạm Duy và Thuý Nga ( người hát nhạc Phạm Duy rất hay)
Hồi đó Phạm Duy đối với tôi là dễ thương dù đôi khi ông có hơi ngông. Ông gửi tôi nhiều tài liệu về cái gọi là “Gió Tanh Mưa Máu”. Tôi chỉ xem và không  ý kiến.

Rồi đẩy đưa nhiều chuyện để có khi tôi và ông tranh luận. Chỉ nho nhỏ. Nhưng có vẻ ông khá “nhường tôi”. Có gì đâu, chỉ là xoay quanh vài vấn đề đạo đức.

Khi tôi hỏi về chuyện ngày xưa, biện luận cho cái “đào hoa”, ông viết:

“Tôi đã được nhiều người (Lan Chi khuyên bé Quỳnh Chi : nghe nhạc, đừng tìm hiểu cá nhân, hiểu theo nghĩa là chỉ nên “yêu đàn” mà thôi đấy nhé… ) cho rằng tôi có một đời sống rất là “phóng túng”, hiểu theo nghĩa “bê bối”.  Lạy Chúa và Mô Phật, tôi thách đố ai dám tuyên bố tôi là kẻ nghiện rượu, nghiện thuốc lá, nghiện sì ke hay nghiện thuốc phiện (nguyên cái vụ này, tôi đã đạo đức hơn nhiều ông nghệ sĩ) … Còn nghiện đàn bà thì khỏi cần nói vì tôi đã nói rồi, nhưng tôi xin thưa rằng với những bạn muốn hiểu tôi rằng : tôi chưa hề phụ tình ai, tôi chưa hề có một bà nào hắt hủi rồi nguyền rủa tôi khi xa tôi… Everything is OK, xa nhau, rồi gặp lại nhau “bốn mắt đều có đuôi”… 
 
Tôi xin nói ngay tôi rằng trong đời tôi, có ba điều tôi tôn thờ : nghệ thuật, vợ con và người tình, đời tôi phải vững như cái kiềng ba chân. Không vì nghệ thuật mà bỏ vơ con, bỏ người tình… không vì vợ con mà bỏ người tình và nghệ thuật… không vì người tình mà bỏ nghệ thuật và vơ con.
Do đó có bao giờ vợ con tôi kết án tôi đâu? Tôi kính yêu một triệu lần vợ tôi (ngày bà còn sống và sau khi bà qua đời), khi các con kể lại rằng bà á thánh này đã có lần bảo các con : tao biết hết chuyện bố mày nhưng để cho bố mày có hứng làm nghệ thuật.-PhạmDuy” (1)

Phải nói thật là tôi đã “nghiêng ngả” khi đọc những tâm sự đó của Phạm Duy. Hay cũng có khi không  phải tôi nghiêng ngả mà chỉ vì ở tuổi ngoài 50, tôi không còn những suy nghĩ khắt khe như tuổi đôi mươi? Phải, những người khác đã đam mê rượu, chè, cờ bạc thì cái khoản “trai gái” mà Phạm Duy vướng vào, cũng chỉ là lẽ thường tình? Tất nhiên tôikhông  ủng hộ những mối tình bên lề xã hội của Phạm Duy! Tôi chỉ muốn nói, cô Thái Hằng quả là một phụ nữ tuyệt vời, xứng đáng với mỹ từ “Á thánh” mà Phạm Duy tặng cô. Viết đến đây tôi lại nhớ ký giả Bùi Bảo Trúc đã nói một câu rất hay trong đêm nhạc Vũ Đức Nghiêm “ Xin cảm ơn chị Vũ Đức Nghiêm. Vì sự bao dung của chị mà  chúng tôi có được một nhạc phẩm hay đến thế!”. Cả hội trường vỗ tay. Vâng, suy cho đến cùng, nếu không  có sự bao dung của các bóng hồng sau lưng các nhạc sĩ  thì có lẽ kho tàng âm nhạc Việt Nam sẽ thiếu vắng nhiều tác phẩm hay! Ngoài ra, sự ví von cuộc đời như kiềng ba chân ( vợ, người tình và nghệ thuật), cá nhân tôi thấy “mến” Phạm Duy vì sự thành thực của ông.

Còn khi biện luận cho “tục ca” ông đã ngậm ngùi “Có thể tôi lầm khi tự phá mình” làm tôi nao lòng. Nhưng ông cũng dí dỏm khi “chọc quê” tôi là “ Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ KH mà còn sợ nghe tiếng chửi xã hội của người khác hay sao”. Vâng, tại sao nhiều người lúc đó như Chu Tử, như Thương Sinh đã chửi xã hội vì không  chịu được sự thối nát, và khi Phạm Duy dùng âm nhạc để chửi thì lại bị chửi! Tôi không  nghe Tục Ca nên không  biết nó tục thế nào nhưng có lẽ người Việt quen với hình thức dùng âm nhạc để đấu tranh, để tình tự, để vỗ về mà không  quen dùng âm nhạc để “nói tục” chăng? Dù sao, tôi không  ý kiến vì ông đã nói với tôi, ông không hề in, thu cassette. Thế là đủ.

Sách, báo, phim, ảnh ngọai quốc tràn vào sau khi cụ Diệm chết, thanh niên, trung niên, lão niên ùa chạy theo văn minh vật chất, người ta coi đạo đúc, luân lý như pha. (khôi hài nhất là những vị phi-đạo đức này phê bình nguời khác thiếu đạo đức !). Có thể tôi lầm khi tự phá mình (phá thần tượng) (1) để làm mười bài tục ca nhưng xin mọi người hiểu rõ lý do của bài hát NHÌN L… ! Cô Quỳnh Couteau đã chửi Bộ Kế Hoạch, thế mà vẫn còn sợ nghe tiếng chửi rủa xã hội của người khác. Thương Sinh, Chu Tử cũng là những văn nhân giỏi lắm, nhưng một trong những lý do chửi bới của các vị đó cũng có thể vì họ muốn bán báo chạy hơn. Tôi làm tục ca, không thu vào cassette hay tape thương mại, không in ra bản nhạc, còn không muốn phổ biến nhiều. Je les avait chantées pour mon plaisir. Thế là khóai rồi !!!”(1)
 
Về những câu nói này nọ, khi tôi hỏi về việc nghe tin đồn rằng ông phát biểu này nọ ở Úc, Phạm Duy viết cho tôi:
 
“Về chuyện kiêu ngạo khíến “Lan Chi phải van chú đừng phát biểu kiêu ngạo… thì Lan Chi có thể tin được rằng, tôi không dại gì mà phát biểu trên sân khấu (hay trước đám đông) nhất là “kỳ ở Úc vừa qua rằng nhạc PHạM DUY là nhất”.  Tôi điên mà phát biểu như vậy à ?”(1)
 
Từ mail này của Phạm Duy, tôi thực hiện bài học “Hỏi đích danh và không nghe tin đồn”. Sau này, trong chốn phong ba của hải ngoại, nhiều lần nghe đồn, tôi hỏi lại và nhờ thế “giải oan” được cho vài người!

Cuối cùng, Phạm Duy viết:

“Cuối cùng, tôi xin hỏi câu này : Lan Chi đã đọc đầy đủ cả BA cuốn HỒI KÝ của tôi, có đọan nào thấy tôi nói tới chuyện sáng tác trong WC không ? Có những đọan nào tôi tỏ vẻ tự kiêu, tự mãn không ?”(1)

Đúng thế, cuốn hồi ký của Phạm Duy là cả một công trình văn học mà tôi nghĩ hiếm có người nào ở tuổi ông, thời đại ông, có thể thực hiện được. Bài viết thứ tự, lớp lang, chữ nghĩa rõ ràng và đặc biệt nét “khoa học” tuyệt vời trong đó. Thường thì một bản nhạc dính líu đến nhiều thứ, từ tác giả đến thính giả rồi xã hội rồi hoàn cảnh. Nếu không có một óc tổ chức, rất dễ bị rối rắm. Thế nhưng hồi ký của Phạm Duy không  hề làm độc giả lạc vào mê hồn trận.

Còn về cái tự kiệu tự mãn thì đúng là tôi chưa tìm thấy ở hồi ký Phạm Duy ( vì tôi chưa đọc hết nhưng tôi tin lời Phạm Duy, trong đó chỉ là những tài liệu âm nhạc được ghi lại). Và bên ngoài thì cứ xem Phạm Duy viết cho tôi như sau:

“Nhưng tôi rất vui vì Lan Chi đã có một bài viết rất hay về một bài hát của tôi… nhất là vì Lan Chi khéo dạy Quỳnh Chi, kéo Quỳnh Chi trở về với những giá trị nghệ thuật đích thực. Hiện nay nghệ thuật ở VN (trong hay ngòai nứơc) đang lâm vào tình trạng suy thóai, ai là người thực sự yêu nước yêu dân, yêu tuổi trẻ thì cùng nhau đi tìm lối thóat ở những giá trị còn đang bị lấp liếm bởi lũ đạo đức giả, lũ chính trị gia lạc hậu.Nói với Quỳnh Chi cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gửi tặng CD với đa số ca khúc nghe bằng MP3 qua đường Bưu Điện.” (1)
 
Nói cách khác, Phạm Duy “bày tỏ” sự cám ơn dành cho tôi, người viết cảm nhận nhạc Phạm Duy. Trên thực tế, với “tài ba, danh tiếng” chừng đó, Phạm Duy có cần cư xử với tôi như thế không? Tôi nghĩ là không! Nhưng Phạm Duy trân trọng, Phạm Duy hiểu tôi cần cho giới trẻ biết yêu quê hương qua những dòng nhạc của mình và Phạm Duy sẵn sàng gửi CD qua Úc cho “người Việt trẻ Quỳnh Chi”!

Năm 2004, tôi qua Mỹ và đến Cali trước khi bay qua Virginia. Tôi gọi cho Phạm Duy và hẹn ngày đến chơi. Buổi tối đi cùng anh chị họ đến.  Tại đây gặp Đức, người con trai út trong gia đình hoàn toàn không hoạt động gì đến âm nhạc. Đúng như ông viết, gia đình ông là một điều hiếm thấy ở Mỹ: đại gia đình quây tụ. Một điều tôi cũng nhận thấy ở gia đình ông: từ Duy Quang đến Duy Minh, Duy Cường, người nào cũng nhũn nhặn, dễ thương. Ấy là tôi nói khi tôi gặp ông cùng ba con trai ở quán cà phê Dòng Thời Gian.

Tại nhà Phạm Duy năm 2004
Duy minh-Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
Duy Đức -Lan Chi tại nhà Phạm Duy 2004
GS Nguyễn Ngọc Bích- Phạm Duy- Lan Chi tại Virginia 2004

Năm 2005, báo chí hải ngoại ồn ào vụ Phạm Duy định về nước. Một người bạn nằng nặc đòi tôi xoá những gì tôi viết về Phạm Duy. Nhưng “Học Trò”, người yêu nhạc, thành viên kỳ cựu của web Đặc Trưng thì phản đối “Chị không  được xoá. Những gì chị đã viết, đã công bố, nó không  còn là của chị nữa. Đó là những rung cảm của chị trước một nhạc phẩm, chị viết ra chia sẻ và những người khác sẽ biết được cái hay của nhạc phẩm đó thông qua chị..”. (2005). Tôi nghe lời Học Trò,  không  xoá.

Sau đó, dường như trước khi Phạm Duy về Việt Nam sinh sống khoảng vài tháng, tôi có gọi  điện thoại đến.  Phạm Duy nói rằng thường thì lúc này ông không muốn gặp ai nên đã từ chối nhiều người, nhưng với tôi thì ông tiếp. Phạm Duy chỉ ngắn gọn về việc mình có thể sẽ về nước. Tôi nói mọi người đang lên án, Phạm Duy bực mình “ Cuộc đời tôi mà sao cứ phải sống theo người khác? Tôi đã xin cho tôi được vui buồn một mình tôi kia mà”.

Thật tình, Phạm Duy nghĩ gì về CS, tôi nghĩ ai cũng đoán được nhưng căn cứ vào hiện tượng bên ngoài thì nhiều người lên án vì cho đó là đã làm hoen ố chính nghĩa quốc gia.

Năm 2009, một người bạn viết cho tôi: “Về ông Phạm Duy, tôi không hề có ý phê bình ai cả, mỗi người có cách chọn lựa cho mình. Ông ấy đã chọn như thế, và hãy để cho thời gian trả lời. Người mình thương ai thương cả lối đi…
Tôi chỉ có một cái nhìn khác về Phạm Duy, ông ấy đơn thuần là ngưòi cha rất thương con và tìm lối thoát cho con mình… và ông ta đã chọn con đường chết để mong con mình được sốngNhạc sĩ Phạm Duy là người cha nhân ái, ông kiếm tiền bằng nhạc của ông và nuôi nấng các con và gia đình đầy đủ. Bà Thái Hằng đúng là một hiền mẫu và ông Phạm Duy  phong á thánh cũng không ngoa. Tôi yêu quý ông từ nhạc phẩm đến đời sống thực, ông không che đậy dấu giếm điều gì, thích là nói, nghĩ là làm.”(2)

Sau khi về Việt Nam, ông có nhiều điều này nọ. Cũng người bạn ghét ông, đả kích này nọ với tôi và tôi lặng thinh. Tuy vậy tôi đồng ý với một người bạn khác khi anh viết cho tôi  rằng: “Những gì ông tuyên bố, có thể có ít xích ra nhiều, vì ông phải nói thế thôi. Đây là một trò chơi, trò Game, nhà nước và ông cả hai đều khôn ngoan và cả hai đều tính toán.”(3)

Một người bạn khác khi nghe kể vụ tôi không xoá bài viết về Phạm Duy, anh viết cho tôi“Thưa chị, tôi biết chị yêu nhạc Phạm Duy cũng như biết bao người khác. Nhưng chị hãy giữ những gì chị đã viết về ông là những gì trung thực của tháng ngày chị cảm nhận, rung động về một tài hoa lớn của đất nước. Những người chung quanh không thể muốn chị làm theo cách của họ. Tôi nghĩ nhân cách Hoàng Lan Chi là Hoàng Lan Chi.”(4)
 
Cảm ơn anh bạn về những giòng chữ trên.

Tôi đã để “chú Phạm Duy” ngủ yên trong tôi từ khi ông về Việt Nam. Nhưng nhạc Phạm Duy  nhất là nhạc quê hương thì không bao giờ mất. Với tôi, (một người viết thơ cho quê hương năm 14t thay vì viết thư tình), thì đến giờ phút này, chưa một nhạc phẩm nào sánh được với “Tình Ca”!

Năm 2009 bàng bạc nỗi nhớ, nỗi buồn, tôi thực hiện chương trình “Phạm Thiên Thư với Ngày Xưa Hoàng Thị và Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng”, ngoài là Phạm Thiên Thư nhưng trong thực ra là tôi nhớ người Nhạc Sĩ.

Hè 2011, đã sáu năm trôi qua.

Hoa phượng tím đã úa tàn. Cuộc đời, nhạt nhoà như mầu hoa phượng, có thể xem như bắt đầu đếm ngược được rồi chăng.

Tôi không thể khoan dung với những kẻ đang thở không  khí tự do và phản bội. Nhưng“một người cha chọn con đường chết mong con mình sống” như bạn tôi nhận xét thì hôm nay, lòng tôi không dưng chùng xuống và tôi vẫn nghĩ rằng, một mai khi không còn bóng bạo tàn, những giòng tâm sự thật sẽ được bày tỏ. Tôi tin thế.

Hè 2011

(Tôi viết cho tôi và xin miễn không tranh luận)

(1) Trích từ mail Phạm Duy gửi Lan Chi những năm 2003-2005

(2) (3) (4) : trích từ mail  ba bạn hữu.

Đăng tải tại Bien Soan, Danh Nhân, nhac | Thẻ , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

*** Không có anh

Hạnh Nguyên

aodaiKhông có anh gió chiều như đứng lặng
Mưa giăng đầy từng hạt nặng trên vai
Mắt mi cay nghe nổi nhớ u hoài
Như cỏ dai bên đường phai màu úa

Không có anh mây hồng không trôi nữa
Bầu trời trong đã vần vũ mây sầu
Rồi kéo về đổ xuống lệ mưa ngâu
Như khóc chuyện tình sâu nàng Chức Nữ

Không có anh lạnh từ đâu chiếm ngự
Và đông về tuyết phủ mãnh hồn đơn
Không có anh , khi em dỗi em hờn
Ai vuốt tóc , ôm choàng vai âu yếm

HanhNguyen

Đăng tải tại tho | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

*** Nữ Giới Quyền Hay Thế Đứng

TS LS Lưu Nguyễn Đạt: Nữ Giới Quyền Hay Thế Đứng Của Người Đàn Bà Trong Xã Hội Và Trước Luật Pháp — Women’ s Social Status & Rights Posted By: Lưu Nguyễn Đạt, PhD, LLB/JD, LLMon: January 29, 2018In: … Tiếp tục đọc

Bộ sưu tập | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Thơ THỦY ĐIỀN

 THỦY ĐIỀN

00ao dai trang

SÀI GÒN ” HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG “

Có ai yêu Việt Nam
Bằng chính người con Việt
Có ai xa quê hương
Mà lòng không luyến tiếc
Có ai rời quê nhà
Mà chẳng chút nhớ nhung
Chỉ có gió, mây, sóng, bão bập bùng
Dân tộc khác giòng, khác màu da, ánh mắt
Còn bao nhiêu, đều là con cháu
Giống Lạc Hồng, văn hóa bốn ngàn năm
Đều biết thương, yêu nước Việt xa xăm
Nơi cắt rốn, chôn nhau một thuở
Ta cúi xuống lắng nghe đất thở
Có họ hàng, chòm xóm, sông quê
Nơi ra đi, còn chốn mà về
Ôi ! Ký ức, một trời kỷ niệm
Có ai đã lên thuyền xa bến
Quay về nhìn Hòn Ngọc Viễn Đông
Tình yêu người còn giữ trong tâm
Sài Gòn đó, một thời vang bóng……!

TA NỢ NHAU

Anh nợ em lời hứa ban đầu
Anh nợ em chiếc nhẫn đeo tay
Anh nợ em, hai chiếc áo dài
Nụ hôn thắm trong ngày lễ cưới
Em nợ anh một lần sau cuối
Đi theo chồng chẳng nói một câu
Em nợ anh lời nói ngọt ngào
Ta sẽ mãi muôn đời muôn kiếp
Ta nợ nhau trong vòng oan nghiệt
Để một đời lại phải thương đau
Trả nợ nhau xin hẹn kiếp sau
Là huề hết. Đúng không em hỡi ?

 CHIỀU VỀ

 Chiều về, con nước dâng lên
Những bông hoa tím bồng bềnh theo sau
Hoàng hôn ngả bóng chân cầu
Con thuyền rẽ sóng về đâu? Từng đoàn
Chiều về khói tỏa hương cơm
Ánh đèn loe loét ấm hồn tình quê
Cha ngồi se điếu thuốc rê
Mẹ ngồi bên trẻ kể về thời thơ
Ông cha cực khổ vô bờ
Đêm về, tựa gối, vội chờ ngày sang
Chợ phiên, vác cuốc lên ngàn
Kiếm từng hạt gạo, vô vàn khó khăn
Thời nay chẳng phải tảo tần
Cơm, canh no đủ, khỏi cần cày sâu.

ĐÊM TRĂNG NHỚ MẸ

Đêm về, nhìn ánh trăng treo
Là lòng nhớ mẹ, quê nghèo xa xa
Nhớ bà thức suốt đêm tà
Nắn từng viên bánh “ngọc ngà” cúng trăng
Mười lăm là đúng ngày rằm
Nồi chè trôi nước cúng dâng phật, trời
Cầu cho vận nước êm xuôi
Cầu nhà no ấm, người người hiển vinh
Xa quê, xa cách muôn nghìn
Trăng lên con mãi đứng nhìn. Rồi mơ….
Ước gì con vẫn còn thơ
Ngồi bên gối mẹ, ngóng chờ được ăn
Một viên trôi nước đậu xanh
Nước đường vàng óng… thanh thanh vị gừng.

PHÚT BAN ĐẦU

Nhớ hôm ấy, môi hồng em trao tặng
Phút ban đầu nồng thắm một nụ hôn
Em thẹn thùng, rồi ghì chặt tay ôm
Anh đỏ mặt, bàng hoàng như cơn mộng
Rồi hai đứa lặng im từng khoảng trống
Không một lời, người áp sát vào nhau
Giữa đêm sương tiếng gió thổi rì rào
Anh liên tưởng một ngày không xa lắm
Rồi yên lặng, lặng yên truyền hơi ấm
Em ngả người, anh thắt chặt vòng tay
Ngước nhìn anh em nhẹ giọng thở dài
Đừng đánh mất mối tình dầu anh nhỉ
Tối đêm ấy, ra về trong suy nghĩ
Đã yêu rồi, người ấy cũng đang yêu
Tuy cho nhau dù ít hoặc đã nhiều
Nếu mai lỡ, phút đầu luôn nhớ mãi.

TRƯỜNG TÔI ĐÓ

Trường tôi đó, nằm ven tỉnh lộ
Giữa đoạn đường Chợ Gạo – Mỹ Tho
Có bảng xanh, mấy dòng chữ trắng
Ghi tên trường Nông Nghiệp (NLS) thật to
Trường tôi đó, không to, không nhỏ
Có mảnh vườn, thửa ruộng, hồ ao
Có cây xanh, bóng mát, hàng rào
Có ba dãy, văn phòng, lớp học
Trường tôi đó, một thời ngang dọc
Những chàng trai áo sẩm, vai bùn
Những cô gái áo nâu, quần túm
Đang thực hành nông trại giữa trưa
Trường tôi đó, là nơi đất hứa
Đất và người là bạn kề vai
Những “nông gia” đất nước tương lai
Mang kiến thức dựng xây đời mới.

THỦY ĐIỀN
(CHLB Đức)

Đăng tải tại tho | Thẻ | Bạn nghĩ gì về bài viết này?